LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, trước hết xin chân
thành cảm ơn cô TS. Lê Thị Hiền – Giảng viên bộ môn Ph ương pháp Nghiên
cứu Khoa học đã tận tình truyền đạt kiến thức, hướng dẫn em làm đề tài
trong thời gian qua. Tuy nhiên do còn hạn chế về thời gian, phương tiện và
kinh nghiệm nên chắc chắn còn rất nhiều thiếu sót về nội dung, hình th ức.
Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các th ầy, cô và các b ạn
sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
LỜI CAM ĐOAN
Em cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của em trong th ời gian qua. Các
tư liệu, nghiên cứu trong đề tài đều trung th ực, m ọi s ự tham kh ảo trong đ ề
tài nghiên cứu đều được trích dẫn nguồn vào danh mục tài liệu tham kh ảo.
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
2
MỤC LỤC
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
Chúng ta đều biết du lịch được mệnh danh là ngành công nghiệp
không khói, một ngành kinh tế phát triển nhanh hàng đ ầu th ế gi ới. Cu ộc
đểphát triển du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Xuân Thủy tỉnh Nam Định.
5
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nhằm làm rõ vai trò, ý nghĩa và th ực trạng phát triển du lịch sinh thái
ở Vườn Quốc gia Xuân Thủy. Sự đa dạng trong hệ sinh thái ở đây.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch sinh thái.
Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tại Vườn Quốc gia Xuân Thủy
Đề xuất một số giải pháp phát tiển du lịch bền vững ở Vườn Quốc
gia Xuân Thủy.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về du lịch sinh thái
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu phạm vi Vườn Quốc gia Xuân Th ủy tỉnh
Nam Định.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Bài nghiên cứu khoa học được hoàn thành sẽ giúp V ườn Quốc gia
Xuân Thủy biết vận dụng, kết hợp tốt các kỹ biện pháp để phát tri ển du
lịch sinh thái, từ đó giúp cho Vườn Quốc gia Xuân Th ủy phát tri ển du sinh
thái và đạt hiệu quả cao hơn.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, cần sử dụng các nhóm phương pháp nghiên
cứu sau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các tài liệu nội ngành, ngoại ngành, s ưu tầm các sách báo,
tạp chí trên thư viện, internet,... có liên quan đến vấn đề nghiên c ứu, phân
hút sự quan tâm rộng rãi của nhiều tầng lớp trong xã hội, đặc bi ệt là các
nhà khoa học, các nhà nghiên cứu.
Du lịch sinh thái là một lĩnh vực đặc biệt của du lịch nói chung, nó
được đặc trưng bởi một xu thế rất rõ ràng là tạo nên và thoả mãn s ự khát
khao đến vói thiên nhiên. Qua những chuyến đi, khách du l ịch đ ược ti ếp
xúc với thiên nhiên, thưởng thức thiên nhiên bằng nh ững ph ương tiện
quan sát giản đơn hay những nghiên cứu có tính hệ thống, đồng th ời du
lịch sinh thái là sự khai thác tiềm năng du lịch cho bảo tồn và phát tri ển; là
sự ngăn ngừa các tác động tiêu cực với sinh thái văn hoá.
Đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch sinh thái được đua ra
xuất phát từ các góc độ nghiên cứu khác nhau.
Tại diễn đàn du lịch sinh thái Nam úc (1993), Allen K. đã đ ưa ra đ ịnh
nghĩa sau: "Du lịch sinh thái dược phân biệt với các loại hình du l ịch d ựa
vào thiên nhiên hay du lịch giáo dục khác ở chỗ nó cố m ức độ giáo dục cao
về môi trường và sinh thái thông qua những h ướng d ẫn viên có trình đ ộ.
Du lịch sinh thái bao hàm một phần đáng kể sự giao tiếp mạnh mẽ c ủa con
ngưòi, mà nếu được giáo dục sệ làm biến chuyển khách du l ịch thành
những người tích cực bảo vệ môi trường. Hoạt động du lịch sinh thái sẽ
làm giảm đến mức tối thiểu các tác động của khách du lịch đối. v ới môi
trường và văn hoá, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho c ộng d ồng
địa phương và đặc biệt sẽ động góp về tài chính cho các n ỗ lực bẵo t ồn".
Tổ chức bảo tổn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã định nghĩa: "Du l ịch
9
sinh thái là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm v ới môi tr ường
tại những vùng còn tương đối nguyên sơ để thưỏng th ức và hiểu biết thiên
nhiên (cố .kèm thẹo., ẹậc.đặc trưng văn hoá - quá khứ cũng nh ư hiện t ại)
có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ khách du lịch, đóng góp
tích cực cho sự phát triển kinh tế- xã hội của nhãn dân đ ịa ph ương.
và văn hoá của khu vực.
Bốn là: Các phương tiện và việc sắp xếp để hỗ trợ các ch ương trình
hoạt động du lịch sinh thái bao gồm các trang tâm thông tin, đ ường mòn t ự
nhiên, cơ sở lưu trú, ân uống sinh thái, sách báo và các tài li ệu khác.
1.3. Điều kiện và nguyên tắc cơ bản để phát triển du l ịch sinh thái
1.3.1. Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
-Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được du lịch sinh thái là s ự tồn
tại của các hệ sinh thái tự nhiên
Với tính đa dạng sinh thái cao, Sinh thái tự nhiên đ ược hi ểu là s ự
cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu và động th ực vật, bao gồm: sinh
thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh
thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp ( agri-cultural ecology),
sinh thái khí hậu ( ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human ecology).
Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng th ứ c ấp c ủa đa
dạng sinh học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truy ền và đa dạng loài. Đa
dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các
cơ thể sống, mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu t ố vô sinh có
ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như : đất, n ước, đ ịa hình, khí
hậu... đó là các hệ sinh thái (eco-systems) và các n ơi trú ngụ, sinh sống c ủa
một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats) (Theo công ước đa dạng sinh h ọc
được thông qua tại Hộ nghị thượng đỉnh Rio de Jannero về môi trường).
Như vậy có thể nói du lịch sinh thái là một loại hình du lịch d ựa vào
thiên nhiên (natural - based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), ch ỉ có
thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình v ới tính
đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung.
Điều này giải thích tại sao hoạt động du lịch sinh thái th ường ch ỉ phát
11
triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên ( natural reserve), đặc biệt ở các V ườn
Theo đó du lịch sinh thái cần được tổ chức với s ự tuân th ủ chặt chẽ
cá quy định về “sức chứa”. Khái niệm “ sức chứa” được hiểu từ bốn khía
cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội. Tất cả nh ững khía c ạnh này có liên
quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm.
Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây được hiểu là số l ượng tối đa
khách du lịch mà khu vực có thể tiếp nhận. Điều này liên quan đến nh ững
tiêu chuẩn về không gian đối vớ mỗi du khách cũng như nhu cầu sinh hoạt
của họ.
Đứng ở góc độ xã hội, sức chứa là giới hàn về lượng du khách mà t ại
đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực c ủa các ho ạt đ ộng du l ịch
đến đời sống văn hoá-xã hội, kinh tế-xã hội của khu v ực. Cuộc s ống bình
thường của cộng đồng địa phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nh ập.
Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà
khu du lịch có khả năng phục vụ. Nếu lượng khách vượt quá giói h ạn này
thì năng lực quản lý ( lực lượng nhân viên, trình đọ và ph ương ti ện qu ản
lý...) của khu du lịch sẽ khhong đáp ứng được yêu cầu c ủa khách, làm m ất
khả năng quản lý và kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnh
hưởng đến môi trường và xã hội.
Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lượng, vì v ậy
khó có thể xác định một con số chính xác cho mỗi khu v ực. M ặt khác, m ỗi
khu vực khác nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau. Các chỉ s ố này ch ỉ có
thể xác định một cách tương đối bằng phương pháp th ực nghiệm.
Một điểm cần phải lưu ý trong quá trình xác định sức ch ứa là “quan
niêm” về sự đông đúc của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đ ặc bi ệt
trong những điều kiện phát triển xã hội khác nhau ( ví d ụ gi ữa các n ước
châu á và châu Âu, giữa các nước phát triển và đang phát tri ển ...). rõ ràng
để đáp ứng yêu cầu này, cần phải tiến hành nghiên cứu sức ch ứa c ủa các
địa điểm cụ thể để căn cứ vào đó mà có các quy ết đ ịnh về qu ản lý. Đi ều
này cần được tiến hành đối với các nhóm đối tượng khách/th ị tr ường khác
người đi đầu trong việc bảo vệ môi trường. Phát triển du lịch sinh thái làm
giảm tối thiểu tác động của khách du lịch đến văn hoá và môi trường, đ ảm
14
bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang l ại và
cần trú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên”.
Sau đây là những nguyên tắc cơ bản về thế nào là du l ịch sinh thái
thực sự:
Du lịch sinh thái phải phù hợp với những nguyên tắc tích c ực v ề môi
trường, tăng cường và khuyến khích trách nhiêm đạo đức đối v ới môi
trường tự nhiên .
Du lịch sinh thái là không được làm tổn hại đến tài nguyên, môi
trường, những nguyên tắc về môi trường không những ch ỉ áp d ụng cho
những nguồn tài nguyên bên ngoài (tự nhiên và văn hoá) nhàm thu hút
khách mà còn bên trong của nó.
Du lịch sinh thái phải tập trung vào các giá trị bên trong h ơn là các giá
trị bên ngoài và thúc đẩy sự công nhận các giá trị này .
Các nguyên tắc về môi trường và sinh thái cần phải đạt lên hàng đầu
do đó mỗi người khách du lịch sinh thái sẽ phải ch ấp nh ận t ự nhiên theo
đúng nghĩa của nó và chấp nhận sự hạn chế của nó h ơn là làm bi ến đ ổi
môi trường cho sự thuận tiện cá nhân.
Du lịch sinh thái phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối v ới tài nguyên, đối
với địa phương và đối với nghành (lợi ích về bảo tồn hoặc l ợi ích v ề kinh
tế, văn hoá, xã hội hay khoa học ).
Du lịch sinh thái phải đưa ra những kinh nghiệm đầu tay khi tiếp xúc
với môi trường tự nhiên, đó là những kinh nghiêm được hoà đ ồng làm tăng
sự hiểu biết hơn là đi tìm cái lạ cảm giác mạnh hay mục đích tăng c ường
thể trạng cơ thể.
Ở đây những kinh nghiệm có tác động lớn và có nh ận th ức cao nên
nước có tầm quan trọng quốc tế (Công ước Ramsar) đã chính thức công
nhận Xuân Thuỷ là m ột khu Ramsar với diện tích 12.000 ha (Ramsar
2000). Ngày 20/1/1989, Việt Nam trở thành thành viên c ủa Công ước
16
Ramsar (Anon. 1993). Năm 1993, Việ Điều tra Quy hoạch Rừng đã xây
dựng dự án đ ầu tư cho khu vực này, với diện tích đề xu ất là 5.640 ha
(Anon. 1993). Ngày 5/9/1994, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Thuỷ đã
được Chính phủ quy ết định thành lập theo Công văn Số 4893/KGVX, v ới
diện tích 7.100 ha. Năm 1995, Viện Điều tra Quy hoạch Rừng đã điều chỉnh
lại dự án đầu tư và đề xu ất diện tích khu bảo tồn là 7.680 ha (Cục Kiểm
lâm 1998). Dự án đầu tư này đã được Bộ Lâm nghi ệp phê duyệt theo
Quyết định Số 26/KH-LN, ngày 19/1/1995 (Chi c ục Kiểm lâm Nam Định
2000). Trên cơ sở d ự án đầu tư đã được phê duyệt, UBND tỉnh Nam Định
đã thành lập ban quản lý khu bảo tồn vào ngày 01/10/1995. Sau đó, các
hạng mục quản lý đã được chỉnh sửa, nâng cấp từ khu b ảo tồn thiên nhiên
lên Vườn Quốc gia theo Quyết định Số 01/TTg c ủa Thủ t ướng Chính phủ
ngày 2/01/2003. Hiện tại, Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ thu ộc sự qu ản lý của
UBND tỉnh Nam Định. Ngày 20/10/2003, bản kế ho ạch đầu tư mới cho
Vườn Quốc gia đã được UBND tỉnh Nam Định phê duyệt theo Quyết đinh số
2669/QĐ-UB. Ban quản lý Vườn Quốc gia hiện có 6 cán bộ, m ột tr ụ s ở và
thuộc sự quản lý của Sở NN&PTNT Nam Định (Nguyễn Viết Cách, Giám đốc
Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ 2003). Xuân Thuỷ có trong danh l ục các khu
rừng đặc dụng Việt Nam đến năm 2010 được xây dựng bởi Cục Kiểm lâm –
Bộ NN&PTNT v ới diện tích 7.100 ha (Cục Kiểm lâm, 2003), danh lục này
hiện vẫn chưa được Chính phủ phê duyệt.
Nơi đây, biển giao hoà với rừng, “chim trời, cá nước” giao hoà v ới
hình ảnh con người mưu sinh. Những mô hình sinh thái, nuôi trồng thu ỷ
sản kết hợp với bảo vệ rừng, đã tạo nên bức tranh sinh động về vùng quê
cộng đồng vùng đệm Vườn Quốc gia Xuân Thủy.
2.2.4. Thú, côn trùng
Lớp thú ở Vườn Quốc gia Xuân Thủy có khoảng 17 loài, trong đó có
các loài quý hiếm như: Rái cá (Lutra lutra), Cá Heo (Lipotes vexilliger) và Cá
đầu ông sư (Neophocarera phocaenoides).
Côn trùng cũng rất phong phú với 113 loài, thuộc 50 h ọ c ủa 10 b ộ.
18
2.2.5. Bó sát, lưỡng cư
Bò sát, lưỡng cư có khoảng 37 loài, gồm 13 loài l ưỡng c ư, thu ộc 8
giống, 4 họ, 1 bộ và 24 loài bò sát thuộc 17 giống, 8 h ọ, 2 b ộ; trong đó có
nhiều loài quý hiếm như: Rắn cạp nong (Bungarus fasciatus), Rắn cạp nong
nhiều sọc (Bungarus multicinctus), Rắn sọc dưa (Elaphe radiate), Rắn hổ
mang (Naja najia)...
2.2.6. Hệ Chim
Khu hệ chim đã thống kê được 220 loài thuộc 41 họ, 13 bộ. Khu h ệ
chim ở đây tiêu biểu cho các loài thuộc bộ Hạc, bộ Ngống, bộ Rẽ và bộ Sẻ.
Hàng năm từ tháng 10, 11 đến tháng 3, 4 năm sau, hàng ch ục ngàn cá th ể
chim di cư tránh rét từ phương Bắc đã chọn Vườn Quốc gia Xuân Thủy làm
nơi dừng chân kiếm ăn, tích lũy năng lượng cho hành trình di trú dài c ả
ngàn cây số của mình.
Nơi đây thường xuyên ghi nhận các loài chim nước quý hiếm nằm
trong sách đỏ quốc tế. Điển hình như: Rẽ mỏ thìa (Eurynorhynchus
pygmeus), Choắt lớn mỏ vàng (Tringa guttifer), Cò thìa mặt đen(Platalea
minor), Bồ nông chân xám (Pelecanus philippensis), Choắt chân màng
lớn (Limmodromus semipalmatus), Có lạo Ấn Độ (Mycteria leucocephala), Cò
trắng Trung Quốc (Egretta eulophotes), Choắt mỏ cong lớn (Numenius
arquata)...
Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ là nơi dừng chân và trú đông quan tr ọng
nuôi trồng và khai thác quảng canh nguồn lợi thủy sản từ hệ th ống đ ầm
nuôi tôm và vây vạng rộng hàng ngàn ha, đã là nh ững đi ểm tham quan kỳ
thú... đã tạo nên những nét văn hoá giàu bản sắc tại khu v ực c ửa Ba L ạt.
2.3.2. Văn hóa bản địa
Khu vực cửa sông ven biển Ba Lạt còn tiêu biểu cho nền văn hoá m ở
đất của cư dân ven biển đồng bằng châu thổ Sông Hồng và là một trong
những cái nôi của nền văn minh lúa nước. Nh ững nét sinh ho ạt văn hóa
như: Chèo cổ, chầu văn, bơi chải, múa lân, chọi gà hay đấu vật… trong các
dịp lễ hội, cùng với sinh hoạt thường nhật của cộng đ ồng đã g ắn k ết m ọi
người với nhau trong mối quan hệ mật thiết “Tình làng nghĩa xóm”. Do lịch
20
sử phát triển tôn giáo ở Miền Bắc nên ở đây có khá đông đ ồng bào theo
đạo thiên chúa, nhưng các cộng đồng lương giáo v ẫn sống hòa h ợp v ới
nhau, cùng chung lưng đấu cật để xây dựng quê h ương Xuân Th ủy đ ẹp
giàu.
2.4. Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tại Vườn Quốc gia
Xuân Thủy tỉnh Nam Định
2.4.1. Hiện trạng khách du lịch
2.4.1.1. Khách du lịch quốc tế
Số lượng khách quốc tế đến Xuân Thuỷ có xu hướng giảm, một ph ần
do ảnh hưởng của dịch bệnh và suy thoái kinh tế. Hàng năm, t ại Xuân Thu ỷ
trung bình có khoảng 30-40 đoàn khách du l ịch đến t ừ 30 qu ốc t ịch khác
nhau, đông nhất vẫn là khách đến từ nước Anh, chiếm gần 30% t ổng s ố
khách đến Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ trong 03 năm, tiếp theo là Mỹ, Nh ật,
Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch… Đặc biệt trong vài năm gần đây số lượng khách
Đông Nam Á tăng lên đáng kể. Những năm trước, ph ần l ớn du khách là
những nhà khoa học về sinh học (nghiên cứu chim, rừng ngập m ặn và thu ỷ
sinh) nhưng hiện nay đã có sự thay đổi đáng kể, lượng khách đ ến V ườn
nhiên và phát triển bền vững ở Vườn Quốc gia ngày càng được trú trọng và
bắt đầu có hiệu quả.
- Ưu thế đặc biệt của một vùng đất mở ở cửa sông lớn nhất mi ền
bắc đã tạo lên Vườn Quốc gia Xuân Thủy giàu có về đa dạng sinh h ọc, t ươi
đẹp về cảnh quan và trù phú về kinh tế. Sau trên mười năm gắn bó v ới s ự
nghiệp bảo tồn thiên nhiên của một vùng đất trẻ đội ngũ cán bộ công ch ức
của đơn vị đã tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm, xây d ựng đ ược nhi ều
mối quan hệ tốt với nhiều đối tác trong nước và quốc tế. Tạo ra sự hâu
thuẫn rất đắc lực cho qua trình thực hiện các chương trình mục tiêu c ửa
Vườn. Xu thế tất yếu của xã hội là phát triển bền v ững. Cùng s ự tăng
trưởng của đất nước , sự quan tâm tới lĩnh vực bảo vệ tài nguyên – môi
trường của các cấp các nghành ngày càng thiết thực h ơn. Đồng th ời v ới
việc thực hiện cam kết của Chính Phủ, cộng đồng quốc tế ( bao gồm cả tổ
chức chính phủ và phi chính phủ) sẽ thêm tin t ưởng đ ể trợ giúp hiệu qu ả
22
hơn cho hoạt động bảo tồn thiên nhiên ở khu Ramsar quốc tế Xuân Thủy.
Nếu quy hoạch và tổ chức thực thi tốt mô hình quản lí bảo tồn và phát
triển Vườn Quốc gia sẽ đem lại lợi ích to lớn trên nhiều ph ương diên , đáp
ứng cả nhu cầu hiện tại và tương lại.
- Trong thời gian gần đây hoạt động này đã nh ận đ ược s ự quan tâm
của nhiều tổ chức quốc tế, nhiều công ty du lịch đến khảo sát và gửi khách
đến Vườn. Nhiều cuốn phim, tờ gấp giới thiệu về tiềm năng của V ườn
Quốc gia đã đến với du khách, nhiều công ty du lịch đã đăng t ải thông tin
này trên Website của mình. Do vậy muốn thu hút khách, việc quảng bá
tuyên truyền cần được quan tâm.
- Sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch. Đối v ới vi ệc phát
triển du lịch ở các khu bảo tồn thiên nhiên thì sự tham gia của c ộng đ ồng
đóng vai trò rất quan trọng. Nằm trong quy luật chung đó, c ộng đ ồng vùng
nghiệp vụ bảo tồn thiên nhiên như: chủ trì các công trình nghiên cứu khoa
học, phát triển cộng đồng, phát triển du lịch sinh thái...Đội ngũ cán b ộ đ ịa
phương chưa có đủ tri thức về bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền v ững
nên việc hợp tác quản lí Vườn Quốc gia cũng như phát triển v ừng đệm
chưa đạt hiệu quả mong muốn.
- Thể chế quản lí còn nhiều bất cập. Trong hoàn cảnh đó s ức ép v ề
khai thác tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng dân vùng đệm lên vùng lõi
của Vườn Quốc gia ngày càng gay gắt và phức tạp: Cơ chế quản lí đặc biệt
là thể chế và bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước còn nhiều điểm ch ưa h ợp
với thực tiễn quản lí ở Vườn Quốc gia. Trong khi năn l ực pháp lí c ủa ban
quản lí ở Vườn Quốc gia hiện tại còn rất hạn chế. Hoạt động khai thác tài
nguyên – môi trường quá mức của cộng đồng địa phương như hiện tại sẽ
tạo ra nguy cơ mất cân bằng sinh thái, làm sai hỏng mục tiêu bảo tồn thiên
nhiên và sử dụng khôn khéo tài nguyên đất ngập nước ở khu vực Vườn
Quốc gia. Nhưng việc khai thác là một th ức tế khách quan, do chúng ta
chưa có được giải pháp quản lí thích hợp. Trong khi nhu cầu s ống, nhu c ầu
về công việc ăn làm của cộng đồng địa phương ngày một gia tăng cùng v ới
tốc độ tăng trưởng của dân số và xu thế phát triển chung của xã h ội hiên
24
đại.
- Mặc dù đã tạo ra một số đíều kiện tốt cho kh ả năng phát tri ển du
lịch ở nơi đây nhưng chính cộng đồng địa ph ương đã gây ra không ít khó
khăn cho Ban quản lý, đặc biệt là cho công tác bảo tồn. Do dân s ố ở các xã
vùng đệm khá đông, cuộc sống chủ yếu dựa vào thiên nhiên nên hoạt động
khai thác nguồn lợi thuỷ hải sản diễn ra khá rầm rộ, th ậm trí là khai thác
huỷ diệt. Những hoạt động này của họ đang làm c ạn ki ệt d ần ngu ồn tài
nguyên, ảnh hưởng lớn đến tính đa dạng sinh học. Điều đó chính là làm
cạn kiệt nguồn tài nguyên du lịch. Một số người dân đã tham gia vào ho ạt