LỜI MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa đã và đang tạo nên xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó mang lại cơ hội phát triển,
nhưng cũng chứa đựng nhiều thách thức, trong đó có thách thức về giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc.
Văn hóa dân tộc được thể hiện qua nhiều môi trường văn hóa khác nhau,
như môi trường văn hóa dân cư, môi trường văn hóa học đường, môi trường
văn hóa công sở..... Văn hóa dân tộc chỉ được bảo tồn, gìn giữ và phát triển khi
mà mỗi cá nhân, mỗi cơ quan, tổ chức có ý thức và bảo vệ, xây dựng môi
trường văn hóa nơi họ sinh sống và làm việc. Chính vì vậy mà văn hóa công sở
đang ngày càng được các cơ quan, tổ chức quan tâm.
Hiện nay, qua việc đi thực tập thực tế và tiến hành khảo sát Em nhận
thấy, một số cơ quan chưa nhận thức được vai trò của Văn phòng, chưa đưa ra
được những giải pháp hữu hiệu nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của Văn
phòng nói chung cũng như trong vấn đề xây dựng văn hóa công sở nói riêng.
Là sinh viên ngành Quản trị Văn phòng, và đồng thời sẽ là những cán bộ Văn
phòng trẻ trong tương lai. Em có những mối quan tâm đặc biệt đối với vấn đề
Quản trị Văn phòng và vấn đề xây dựng bản sắc văn hóa công sở như: Làm thế
nào để có thể hòa nhập được nhanh chóng vào môi trường văn hóa cơ quan khi
mới ra trường; những yêu cầu về mặt kỹ năng nghiệp vụ, những phẩm chất cần
có của một cán bộ Văn phòng để có thể hoàn thành tốt công việc; làm thế nào
để có thể xây dựng được hình ảnh cán bộ Văn phòng chuyên nghiệp... Với
mong muốn nâng cao hiểu biết của bản thân, đồng thời đóng góp một phần nhỏ
trong việc nâng cao nhận thức của các cơ quan nói chung cũng như các cán bộ
Văn phòng nói riêng trong việc xây dựng văn hóa công sở, chúng tôi đã quyết
Page 1
Thương Quận Hai Bà Trưng mà em đã có dịp thực tập thực tế trong một
khoảng thời gian dài để có thể đưa ra được những nhìn nhận khách quan hơn.
4.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Page 2
Vai trò, chức năng nhiệm vụ của Văn phòng, cũng như xây dựng văn hóa
công sở không phải là vấn đề mới, nó đã được quan tâm và nghiên cứu từ
nhiều năm nay, đặc biệt là trong xu thế hội nhập.
Các sách như: “Văn hóa đạo đức giao tiếp trong ứng xử xã hội” Của
PGS.TS Nguyễn Văn Lê, NSB Văn hóa-xã hội, năm 2005; “Phong cách sống
hiện đại: Trong gia đình, trong cộng đồng, trong công sở” của Trương Mỹ Ly,
NXB Văn hóa - thông tin, năm 2006...
5.
Phương pháp nghiên cứu
Em thực hiện đề tài này dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác-LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Các quan điểm của
Đảng và Nhà nước về xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc. Với những quan điểm đó, em vận dụng các phương pháp nghiên cứu
sau đây:
-
Phương pháp sưu tầm, phân tích tài liệu: Đây là phương pháp phổ
biến mà em sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu. Các tài liệu em nghiên
xây dựng văn hóa công sở
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ
1.1 Khái niệm, các thành tố cấu thành văn hóa công sở, vai trò của
việc xây dựng văn hóa công sở của tổ chức.
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm Văn hóa
Page 4
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy,
văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn
ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các
phương tiện, v.v... được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con
người và xã hội. Văn hóa được tái tạo, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác, thể hiện trình độ phát triển của con người và của xã hội thông qua những
giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
Trong bài nghiên cứu này, em hiểu văn hóa như sau: “Văn hoá là toàn
bộ những hoạt động sáng tạo và giá trị của nhân dân một nước, một dân tộc về
mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Văn
hoá là tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản
phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và
lao động….”. Định nghĩa này vừa làm rõ được đối tượng, phạm vi cũng như
những đặc điểm cơ bản của văn hóa một cách toàn diện và khái quát nhất. Dựa
vào định nghĩa này, hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang phát động phong trào
“toàn dân xây dựng đời sống văn hóa mới” bao gồm cả văn hóa cộng đồng dân
cư cho đến văn hóa công sở tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
1.2.1.2 Khái niệm công sở
riêng.
1.2.2 Các thành tố cấu thành Văn hóa công sở.
- Các yếu tố hữu hình: Trong nhóm các yếu tố nền tảng của văn hóa công
sở, người ta có thể dễ dàng nhận ra các yếu tố hữu hình của văn hóa như: kiến
trúc trụ sở, văn phòng, biển hiệu, tên gọi, khẩu hiệu, trang phục cán bộ nhân
viên, ngôn ngữ sử dụng… Đây chính là hình thức thể hiện bên ngoài của văn
hóa.
Page 6
- Chất lượng ban lãnh đạo và nhân viên: Văn hóa công sở được xây dựng
bởi đa số các cá nhân trong tổ chức. Cho nên, chất lượng ban lãnh đạo công sở
và các nhân viên chủ chốt đóng vai trò quan trọng nhất trong việc định hướng
và quản lý các hoạt động nói chung và văn hóa cơ quan nói riêng. Nếu lãnh
đạo cơ quan đơn vị là người thiếu các phẩm chất của nhà lãnh đạo như thiếu
hiểu biết, thiếu đạo đức, thiếu kỹ năng, có hành vi ứng xử thiếu văn hóa… thì
tổ chức đó rất khó có thể xây dựng được một nền văn hóa tiên tiến. Đa số nhân
viên đều có cảm nhận là không muốn làm việc cho các tổ chức kiểu này, khách
hàng có văn hóa cũng không muốn làm ăn với các ông chủ ở dạng này. Nhưng
ngược lại, đội ngũ lãnh đạo và đa số nhân viên lại có nhiều phẩm chất tốt đẹp,
đa số sống và làm việc theo pháp luật, theo nội quy và các chuẩn mực của văn
hóa dân tộc thì văn hóa của tổ chức đó sẽ được đáng giá tốt được sự tin tưởng
và hợp tác từ nhiều phía.
- Các quy ước chưa thành văn: Do các quan niệm đạo đức và tồn tại xã
hội có mâu thuẫn mà có nhiều điều khó lý giải đúng sai. Vì vậy, trong gia đình,
xã hội hay cơ quan, tổ chức vẫn có những quy ước không thành văn về nhiều
công việc như: Thăm hỏi thủ trưởng và anh em trong các dịp lễ tết; tặng quà và
tặng tiền; không đồng tình với tình yêu công sở; người trẻ tuổi hơn thì đi pha
trà cho cả phòng vào buổi sáng; uống trà và nói chuyện với nhau trong giờ giải
công việc sẽ đưa công sở này phát triển vượt hơn lên so với công sở
khác.
Đối với khối doanh nghiệp: Có thể khẳng định văn hoá công sở
trong doanh nghiệp là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp. Để phát
triển nguồn tài sản ấy nhằm đem lại nguồn “lợi nhuận”, nguồn “lãi” vô
hình, mỗi doanh nghiệp cần có những chính sách, chiến lược đúng đắn,
rõ ràng trong vấn đề xây dựng văn hóa tại doanh nghiệp mình.
Tiểu kết:
Văn hóa công sở là yếu tố quan trọng đối với mọi tổ chức. Con người
tác động đến việc hình thành văn hóa công sở thì đồng thời văn hóa công sở
với những giá trị bền vững của nó sẽ tác động trở lại đối với việc hoàn thiện
Page 8
nhân cách, phẩm chất, năng lực của mỗi cá nhân tồn tại trong nó. Vì vậy, các
cơ quan, tổ chức cần phải có những giải pháp để nâng cao hơn nữa văn hóa
công sở của tổ chức để có thể đem lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động công sở
cơ quan mình.
Page 9
Chương 2.
ĐÁNH GIÁ THỨC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG ĐỐI VỚI
VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI NGÂN HÀNG CÔNG
THƯƠNG QUẬN HAI BÀ TRƯNG
2.1. Khái quát về Ngân hàng Công Thương Quận Hai Bà Trưng
Thương Hai Bà Trưng đều nhận thấy văn hóa công sở là rất cần thiết, và nên
được xây dựng và phát triển hơn nữa. Văn hóa công sở có vị trí và vai trò
(Nguồn: Báo cáo thống kê số lượng - chất lượng cán bộ tại NHCT Hai Bà
Trưng) rất quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, bởi bất kỳ một
doanh nghiệp nào nếu thiếu đi yếu tố văn hoá, ngôn ngữ, tư liệu, thông tin nói
chung được gọi là tri thức thì doanh nghiệp đó khó có thể đứng vững và tồn tại
được. Trong khuynh hướng xã hội ngày nay thì các nguồn lực của một doanh
nghiệp là con người mà văn hóa công sở là cái liên kết và nhân lên nhiều lần
các giá trị của từng nguồn lực riêng lẻ. Do vậy, có thể khẳng định văn hóa
công sở là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp. Nó cho thấy sự quan tâm và
mong muốn đưa VHDN của Chi nhánh ngày càng lớn mạnh và khẳng định
đẳng cấp của một ngân hàng thương mại. Và vì văn hóa công sở có vai trò rất
lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Nó tạo ra cho doanh nghiệp những
nét văn hoá đặc trưng, tạo ra bầu không khí làm việc tích cực, hợp tác và thống
nhất, tạo ra cho nhân viên tâm lý muốn gắn bó lâu dài với doanh nghiệp và để
nâng cao khả năng cạnh tranh với các đối thủ.
2.1 Khái niệm, vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng.
2.1.1 Khái niệm
Văn phòng là một thuật ngữ xuất hiện từ lâu trong lịch sử, theo tiến trình
phát triển kinh tế xã hội Văn phòng ngày càng được nhận diện đầy đủ hơn toàn
diện hơn. Tất cả các cơ quan, tổ chức đều thực hiện công tác Văn phòng và lập
ra đơn vị làm công tác Văn phòng. Với mỗi loại hình cơ quan khác nhau Văn
Page 11
phòng cũng có tên gọi khác nhau. Từ đó, dẫn đến có nhiều cách hiểu khác
nhau về khái niệm Văn phòng.
Theo nghĩa rộng, Văn phòng được hiểu là bộ máy làm việc tổng hợp và
trực tiếp của một Cơ quan, Văn phòng này có đủ tư cách pháp nhân trong hoạt
động đối nội và đối ngoại để thực hiện mục tiêu của mình.
- Văn phòng là nơi tiếp nhận tất cả các mối quan hệ, nhất là quan hệ đối
ngoại. Văn phòng được coi như cổng gác thông tin của cơ quan, tổ chức, bởi lẽ
thông tin đến hay đi đều quan bộ phận Văn phòng.
- Văn phòng là bộ máy giúp việc của các nhà lãnh đạo, quản lý. Văn
phòng tổng hợp mọi thông tin, dữ liệu thu thập được trong quá trình hoạt động
của mình sau đó sẽ báo cáo lại cho lãnh đạo, giúp lãnh đạo thực hiện các mục
tiêu đề ra.
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng
Chức năng:
- Chức năng tham mưu, tổng hợp: Văn phòng thực hiện chức năng tham
mưu do có đầy đủ các cơ sở dữ liệu thông tin, có các nguồn, các kênh thông tin
khác nhau (văn bản đến, văn bản đi, các văn bản nội bộ) để phân tích, xử lý,
tổng hợp tham mưu cho thủ trưởng, cho lãnh đạo ra các quyết định quản lý
chính xác.
- Chức năng hậu cần: Chức năng hậu cần là chức năng mang tính đặc thù
của Văn phòng. Tổ chức muốn vận hành được cần có bàn tay của Văn phòng
để quản lý, sắp xếp, phân phối từng loại công việc phù hợp với từng cán bộ
trong môi trường làm việc cụ thể, không ngừng bổ sung, cung cấp kịp thời và
đầy đủ các trang thiết bị để đảm bảo đáp ứng mọi nhu cầu của cơ quan đơn vị.
-Chức năng quản lý điều hành hoạt động tổ chức: Thực hiện chức năng
quản lý điều hành, Văn phòng có trách nhiệm đảm bảo cho guồng máy Văn
phòng hoạt động tốt, vận hành hiệu quả và thông suốt cụ thể bao gồm việc xây
dựng, hoạch định kế hoạch, phân công công tác, tổ chức công tác đào tạo,
tuyển dụng, bồi dưỡng nhân lực, kiểm tra giám sát các hoạt động chung…..
Nhiệm vụ:
dựng văn hóa công sở
Page 14
Những mặt đã đạt được
Thứ nhất: Về nhận thức chung
Các cán bộ, nhân viên Văn phòng đều hiểu rõ khái niệm văn hóa công
sở. Có tới 87% số phiếu hiểu “Văn hóa công sở là hệ thống những giá trị niềm
tin, sự mong đợi của các thành viên trong tổ chức, tác động qua lại với tổ chức
và tạo nên những chuẩn mực hành động mà mọi người trong đó đều tuân theo
khi làm việc nhằm mục đích hoàn thành công việc và nhiệm vụ được giao với
hiệu quả cao”. Đây cũng chính là khái niệm chuẩn mà chúng tôi đã tìm hiểu và
đưa ra trong bài nghiên cứu.
80% cán bộ, nhân viên nhận thức vai trò của văn hóa công sở đối với cơ
quan tổ chức: “văn hóa công sở tạo nên nề nếp làm việc khoa học, có kỷ
cương, dân chủ. Tạo được tình đoàn kết và chống lại bệnh quan liêu, cửa
quyền. Môi trường văn hóa công sở tốt đẹp sẽ tạo được niềm tin của cán bộ
công chức với cơ quan, với nhân dân góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
của công sở”.
Thứ hai, nhận thức về sự cần thiết của việc ban hành quy chế văn
hóa công sở
Khi được hỏi “Lý do cần ban hành quy chế văn hóa công sở ” thì có
nhiều ý kiến khác nhau được đưa ra nhưng hầu hết đều cho rằng “văn hóa công
sở có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh cơ quan. Nhưng, nếu
không có một văn bản có tính pháp lý trong cơ quan quy định hay không có
các chế tài xử lý các trường hợp vi phạm cụ thể thì sẽ không đảm bảo được
việc thực hiện một cách nghiêm túc. Ngược lại, nếu cơ quan đã ban hành ra
một văn bản có hiệu lực pháp lý thì sẽ quy định được cho tất cả mọi đối tượng
trong cơ quan cho dù đó là lãnh đạo cho đến nhân viên”.
Trưởng phòng hành chính Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho
bảo một môi trường công sở văn minh lịch sự.
Page 16
Thứ ba: Nhận thức của lãnh đạo, nhân viên Văn phòng về vai trò
của bản thân trong việc xây dựng văn hóa công sở cơ quan.
Hầu hết Lãnh đạo, nhân viên Văn phòng các cơ quan em đến khảo sát
đều nhận thức đúng về vai trò, tầm quan trọng của văn hóa công sở đối với cơ
quan, tổ chức. Từ đó, họ ý thức được trách nhiệm của đơn vị mình, đặc biệt là
của bản thân – với cương vị là Lãnh đạo, nhân viên Văn phòng trong việc xây
dựng văn hóa công sở của cơ quan, tổ chức.
Có 80% cán bộ nhân viên nhận thức được Văn phòng là bộ phận có trách
nhiệm tham mưu, tư vấn cho lãnh đạo trong việc ban hành quy chế văn hóa
công sở, là bộ phận chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc soạn thảo và ban
hành quy chế văn hóa công sở, đồng thời, Văn phòng cũng sẽ là nơi giám sát,
đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện văn hóa công sở của toàn cơ quan, tổ chức.
Về trách nhiệm cũng như những công việc cụ thể thì nhân viên Văn
phòng nói chung, Lãnh đạo Văn phòng nói riêng chính là nơi chịu trách nhiệm
trực tiếp trước Thủ trưởng cũng như toàn cơ quan đơn vị trong việc xây dựng
văn hóa công sở. Lãnh đạo Văn phòng là bộ phận có trách nhiệm tham mưu,
đề xuất chính trong việc xây dựng, bảo vệ và phát triển văn hóa công sở, định
hướng, định hình văn hóa công sở cho cơ quan, tổ chức. Kiểm tra giám sát
cũng như đôn đốc việc thực hiện văn hóa công sở của Văn phòng cũng như của
toàn cơ quan. Tổ chức tuyên truyền phổ biến về văn hóa công sở cho toàn cơ
quan nhằm nâng cao nhận thức cho tất cả các thành viên, đề xuất những biện
pháp như khen thưởng, kỷ luật động viên kịp thời phù hợp. ...Tham mưu trong
việc ban hành quy chế văn hóa cho cơ quan, tổ chức, bảo vệ và giữ gìn hình
ảnh cơ quan qua các hoạt động tiếp khách, đối nội, đối ngoại
100% các nhân viên Văn phòng nơi em tiến hành khảo sát đều đã nhận
thức được từng lời nói, hành vi, cử chỉ cũng như thái độ của mình sẽ có tác
giữa các khối, các loại hình cơ quan, nhưng nhìn chung, nhận thức đó đã góp
Page 18
phần điều chỉnh hành vi, thái độ của các cán bộ, nhân viên Văn phòng trong
việc thực hiện các công việc được giao nhằm mang lại hiệu quả công tác tốt.
Đối với khối cơ quan nhà nước việc cán bộ, công chức nhận thức được tốt vấn
đề văn hóa công sở, có được những ứng xử chuẩn mực thì sẽ để lại ấn tượng
tốt với công dân đến làm việc, nâng cao sự tin tưởng cũng như sự tín nhiệm
của nhân dân vào chính quyền. Còn đối với các doanh nghiệp tư nhân đối
tượng phục vụ mà khối doanh nghiệp tư nhân hướng đến là khách hàng, mục
tiêu mà họ hướng đến là lợi nhuận. Chính vì vậy, để tạo ra lợi thế cạnh tranh
thì ngoài chất lượng sản phẩm, dịch vụ thì một yếu tố quan trọng và mang tính
chất quyết định đó chính là phong cách phục vụ, giao tiếp ứng xử với khách
hàng,….Nó là yếu tố bề nổi quyết định, chi phối đến sự tín nhiệm, tin tưởng và
thiện cảm của khách hàng cũng như đối tác.
Những tồn tại còn chưa được giải quyết
Bên cạnh những nhận thức đầy đủ và đúng đắn về văn hóa công sở thì
vẫn còn tồn tại một số tồn tại sau:
Thứ nhất, có 23% chưa hiểu đúng được bản chất, nội hàm của khái niệm
văn hóa công sở, trong đó có những người đưa ra cách hiểu hoàn toàn sai, có
những người lại hiểu một cách phiến diện, chưa đầy đủ. Họ mới chỉ nhìn nhận
văn hóa công sở ở một khía cạnh một phương diện mà chưa có cái nhìn toàn
diện về văn hóa công sở. Chỉ thấy được yếu tố bề nổi của văn hóa công sở của
cơ quan như hoạt động giao tiếp ứng xử, cảnh quan thiên nhiên mà chưa hiểu
rõ những yếu tố chi phối, tác động và quyết định trực tiếp đến những yếu tố
bên ngoài đó chính là do cơ chế quản lý của lãnh đạo cơ quan, môi trường làm
việc, bản sắc văn hóa của tổ chức….Thế nên, việc thực hiện văn hóa công sở ở
bộ phận nhân viên văn phòng này vẫn mang tính chất bắt buộc, miễn cưỡng.
Bộ phận này chủ yếu nằm ở khối cơ quan hành chính nhà nước (chiếm 70% là
thức tranh tra, kiểm tra, giám sát, các chế tài xử phạt việc thực hiện, các biện
Page 20
pháp nhằm phổ biến quy chế đến các bộ phận phòng ban trong cơ quan cũng
chưa thực hiện nghiêm túc. Ngược lại, ở một số doanh nghiệp tư nhân do họ
nhận thức rằng việc ban hành quy chế là hoàn toàn không cần thiết. Ở những
cơ quan này chưa có một văn bản có giá trị pháp lý nào quy định hay điều
chỉnh về vấn đề văn hóa công sở. Thế nên, về mặt nhận thức, khiến cho các
nhân viên Văn phòng có phần xem nhẹ vấn đề này. Đồng thời, họ cũng sẽ
không hiểu rõ được văn hóa công sở bao gồm những yếu tố gì, thực hiện văn
hóa công sở như thế nào được cho là phù hợp, những việc họ được phép và
không được phép làm trong cơ quan…. Có thể, việc ban hành hay không ban
hành quy chế văn hóa công sở cho cơ quan tổ chức nó đều có những mặt tích
cực và hạn chế của nó. Thế nhưng, có thể nói, mặt hạn chế chỉ là một yếu tố
nhỏ mà có thể điều chỉnh và khắc phục một cách phù hợp. Ngược lại, những
mặt tích cực của việc ban hành quy chế văn hóa công sở là rất lớn. Có thể kể ra
như: Cơ quan ban hành được quy chế văn hóa công sở sẽ chứng minh được
rằng lãnh đạo tổ chức đó thật sự xem trọng vấn đề này. Từ đó sẽ giúp nhân
viên trong cơ quan có những hiểu biết về văn hóa công sở, biết rõ được những
điều mình cần làm, nên làm để có sự điều chỉnh hành vi cho phù hợp với quy
định của cơ quan tổ chức.
2.2.2 Trang phục, giao tiếp ứng xử, cảnh quan làm việc của bộ phận
Văn phòng tại Ngân hàng Công Thương quận Hai Bà Trưng
Những mặt đã làm được
Trang phục, giao tiếp ứng xử nơi công sở tại Ngân hàng Công
Thương quận Hai Bà Trưng
Trang phục:
dựng một hình ảnh chuyên nghiệp, bất kể vị trí công việc cao thấp ra sao, con
đường sự nghiệp như thế nào. Kiểu dáng, màu sắc, độ dài và sự vừa vặn của
trang phục phản ánh thái độ của người sở hữu nó. Bộ trang phục đẹp giúp cho
Page 22
người công chức trở nên chuyên nghiệp hơn, chứ không phải đơn thuần để trở
nên xinh xắn hay hợp mốt, sành điệu. Thực tế là, những bộ trang phục hay
trang sức nào càng làm người cho người khác phân tâm thì nó càng ít phù hợp
với môi trường công sở. Một bộ trang phục không phù hợp có thể sẽ làm hỏng
luôn vẻ chuyên nghiệp của người côngchức…
Đồng phục riêng của nhân viên nữ tại
Page 23
Ngân hàng Công Thương quận Hai Bà Trưng
Đối với Ngân hàng Công Thương quận Hai Bà Trưng thì vấn đề trang
phục yêu cầu không quá khắt khe. Chủ yếu nhằm đảm bảo yếu tố đẹp, lịch sự
và năng động thoải mái phù hợp với tính chất công việc của tổ chức cũng như
của vị trí mình đang đảm nhận.
Hiện nay, trên thị trường cũng có rất nhiều trang phục công sở khác
nhau, đảm bảo yếu tố thời trang, phù hợp với bản sắc văn hóa. Chính vì vậy,
một cơ quan, dù có đồng phục hay không cũng chưa đủ để nói lên văn hóa mặc
của tổ chức đó. Quan trọng hơn hết là việc các cá nhân trong tập thể họ lựa
chọn trang phục nào cho mình, nó có đảm bảo được yếu tố thẩm mỹ cũng như
yếu tố văn hóa hay không mới là điều quan trọng. Vì trang phục cũng như cảnh
quan là yếu tố bên ngoài đập vào “nhãn quan” đầu tiên, vì thế cho nên các cơ
quan, tổ chức cần có những quy định cụ thể trong vấn đề này để nhằm xây
dựng một môi trường thanh lịch đẹp đẽ để tạo dựng được những ấn tượng tốt
+ Chào khách đến liên hệ công việc
Khi tiếp khách (cấp trên, cấp dưới hoặc ngang cấp), đối tác hoặc nhân
dân đến liên hệ công việc, điều đầu tiên là cần chào hỏi; chào chú, chào bác,
chào anh, chào chị…Nếu đang bận rộn hoặc khách đông thì có thể gật đầu
chào chung hoặc chào bằng nụ cười thiện cảm; sau đó hỏi là: Thưa chú (bác,
cô, anh…) đến liên hệ việc gì? Cần làm gì?.... Nếu trong phòng làm việc thì
chúng ta có thể mời khách ngồi ghế, rót nước mời xong chúng ta bắt đầu giải
quyết công việc cho khách.
Theo quan sát của chúng tôi thì nhìn chung, ở Ngân hàng Công Thương
quận Hai Bà Trưng việc chào hỏi đồng nghiệp, khách hàng, đối tác đến làm
việc được thực hiện khá nghiêm túc và là yêu cầu bắt buộc. Có đến 90% đội
ngũ nhân viên Văn phòng ở Ngân hàng Công Thương quận Hai Bà Trưng trả
lời rằng họ luôn có thái độ nhiệt tình, niềm nở cũng như thân thiện với khách
hàng hay đối tác đến liên hệ hay làm việc với cơ quan mình. Đó một phần là
Page 25