LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện bài tiểu luận đã được trích dẫn và ghi rõ
nguồn gốc.
Tôi cam đoan rằng, mọi số liệu trong bài tiểu luận đều là số liệu trung
thực không gian lận.
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài tiểu luận này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn
nhận được nhiều sự động viên, giúp đỡ từ thầy cô, bạn bè,…
Trước tiên,tôi xin chân thành cảm ơn TS.Bùi Thị Ánh Vân – Giảng viên
bộ môn Phương pháp luận nghiên cứu khoa học đã tận tình giảng dạy, hướng
dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bài tiểu luận này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Phòng Lao động – TB&XH, Báo cáo
thực tập của chị Lê Thị An (2015), Quản lí nhà nước về an sinh xã hội huyện
Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã cung cấp cho tôi nhiều số liệu và thông tin để tôi thự
hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASXH
BHXH
An sinh xã hội
Bảo hiểm xã hội
BHYT
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TB&XH
Thương binh và xã hội
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
UBND
Ủy ban nhân dân
VNTP
Tập đoàn Bưu chính Viễn Thông
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Nhận thấy tầm quan trọng của công tác ASXH đối với đời sống nhân dân,
là sinh viên của ngành Quản lý nhà nước, tôi muốn tìm hiểu và làm rõ hơn về
trong giai đoạn hiện nay và có những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công
tác an sinh xã hội, đảm bảo ổn định đời sống nhân dân.
4
-
-
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Tôi thực hành làm đề tài này với mục đích là tìm
hiểu, nghiên cứu về công tác an sinh xã hội trong thực tế tại huyện Sìn Hồ, tỉnh
Lai Châu. Từ đó rút ra được những kinh nghiệm, giải pháp để nâng cao hiệu quả
của công tác an sinh xã hội cho người nghèo, để cho họ được hưởng những
quyền lợi cũng như các nguồn trợ cấp từ xã hội.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết nhằm củng cố và khảo sát trong thực tế.
Tìm hiểu thực trạng công tác an sinh xã hội tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
- Đánh giá những ưu điểm, hạn chế và đề xuất những giải pháp chủ yếu
nhăm nâng cao hiệu quả của công tác an sinh xã hội đến với những người nghèo,
những người gặp khó khăn trong cuộc sống.
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Phòng Lao
động – Thương binh và xã hội huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu trên phương diện là
an sinh xã hội.
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Phạm vi thời gian: Công tác an sinh xã hội cho người nghèo từ năm 2010-2015
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “An sinh xã hội là sự bảo vệ của
xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng,
nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm đột
ngột nguồn thu nhập vì ốm đau, thai sản, tại nạn lao động, thất nghiệp, thương
tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các
gia đình có đông con” [2; Tr. 16]
Như vậy, an sinh xã hội ở đây có nghĩa là sự đảm bảo thu nhập và một số
điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm
hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm;
cho những người giả cả, cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người
nghèo đói và những người bị thiên tại dịch họa,…
Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, an sinh xã hội có thể hiểu là
“một cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi
thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho
họ có nguy cơ suy giảm, mất nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh
nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khác
rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ và cung cấp các dịch vụ sức khỏe cho cộng đồng
thông qua mạng lưới BHXH, BHYT và trợ giúp xã hội” [3; Tr. 19].
Tại Việt Nam, Điều 34 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “ Công dân có
quyền được đảm bảo an sinh xã hội”.Trong điều kiện nền kinh tế thị trường xã
hội chủ nghĩa thì quyền được bảo đảm an sinh xã hội của công dân là tất yếu vì
an sinh xã hội là một hệ thống duy trì thu nhập do nhà nước quản lí nhằm tránh
cho mọi người khỏi rơi vào tình trạng nghèo cứ nghèo mãi.
Khoản 2, Điều 29 Hiến pháp năm 2013 cũng chỉ rõ: “ Nhà nước tạo bình
đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an
sinh xã hội”. Cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật như : Bộ Luật Lao động, Luật
6
Bảo hiểm xã hội, Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật,...
- Góp phần ổn định và tiến bộ xã hội, tạo môi trường công bằng cho các
tầng lớp dân cư, người nghèo, người lao động, thúc đẩy xã hội phát triển.
- Công tác an sinh xã hội thể hiện truyền thống tương thân tương ái, đoàn
kết, giúp đỡ nhau trong cộng đồng, những khó khăn được chia sẻ, phát huy sức
7
1.1.2.
mạnh và truyền thống của dân tộc Việt Nam.
- Góp phần phân phối lại thu nhập giữa các tần lớp dân cư, giữa những
người làm công ăn lương, những người có công với nước với những người gặp
rủi ro, khó khăn, nghèo khổ trong cuộc sống.
Nội dung, tầm quan trọng của công tác an sinh xã hội
* Nội dung của công tác an sinh xã hội:
An sinh xã hội xét với tư cách là một hệ thống theo công ước số 102
“Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội” được hội nghị toàn thể của
tổ chức lao động quốc tế (ILO) thông qua ngày 28/6/1952 bao gồm các chế độ:
– Chăm sóc về y tế – là việc phải cung cấp những trợ giúp cho người
được bảo vệ khi tình trạng của họ cần đến sự chăm sóc y tế có tính chất phòng
bệnh hoặc chữa bệnh. Các trường hợp bảo vệ phải bao gồm mọi tình trạng đau
ốm vì bất kỳ nguyên nhân nào và cả trong các trường hợp thai nghén, sinh đẻ và
các hậu quả tiếp theo.
– Trợ cấp ốm đau: là việc bảo đảm tự cung cấp cho những người được bảo
vệ khoản trợ cấp do mất khả năng lao động do ốm đau gây ra và dẫn đến gián
đoạn thu nhập.
– Trợ cấp thất nghiệp: dành cho những người bảo vệ được nhận một
khoản trợ cấp khi mất việc làm không “tự nguyện”. Trường hợp bảo vệ phải bao
gồm tình trạng gián đoạn thu nhập và xảy ra do không thể có được một công
việc phù hợp trong khi người được bảo vệ có khả năng làm việc và sẵn sàng làm
Phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro.
* Tầm quan trọng của công tác an sinh xã hội:
Trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng chậm lại, nhiều khó khăn
nảy sinh khiến sản xuất kinh doanh bị đình trệ, đời sống người lao động gặp khó
khăn kép do thu nhập sụt giảm, giá cả một số loại hàng hóa thiết yếu vẫn tăng
cao. Người nghèo vì thế sẽ càng khó khăn. Những vùng tập trung nhiều dân
nghèo lại càng cần được quan tâm nhiều hơn.
Chính vì thế, trong sự ghi nhận những nỗ lực của Ngân hàng Chính sách
xã hội trong công tác an sinh xã hội, Thủ tướng chính phủ đã truyền đi một
thông điệp sâu sắc, nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường công tác an sinh xã
hội trong giai đoạn hiện nay, với quan điểm “Càng khó khăn càng phải tăng
cường công tác an sinh xã hội ”,thể hiện sự quan tâm của Đảng và nhà nước đối
với người dân, nhất là người dân sống ở những vùng sâu vùng xa, vùng nghèo
đói. Bởi lẽ, đạo lý dân tộc “một miếng khi đói bằng một gói khi no” vẫn là
phương châm xử thế của những tấm lòng thiện nguyện, và vẫn đang tiếp tục tỏa
sáng. Đây sẽ là kim chỉ nam cho các cấp, các bộ, ngành, doanh nghiệp để nâng
cao ý thức trách nhiệm, tiếp tục thực hành tiết kiệm, tiết giảm chi phí nhằm đóng
góp được nhiều hơn nữa cho công tác an sinh xã hội, giúp người lao động và
người nghèo ổn định và cải thiện cuộc sống.
1.2.Khái quát về Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Sìn Hồ
1.2.1 Đặc điểm chung về huyện Sìn hồ, tỉnh Lai Châu
9
* Đặc điểm tự nhiên
Sìn Hồ là một huyện vùng cao biên giới của tỉnh Lai Châu. Huyện có 1 thị
trấn và 21 xã: Thị trấn Sìn Hồ và các xã: Căn Co, Chăn Nưa, Hồng Thu, Làng
Mô, Lùng Thàng, Ma Quai, Nậm Cha, Nậm Cuổi, Nậm Hăn, Nậm Mạ, Nậm
Tăm, Noong Hẻo, Pa Khóa, Pa Tần, Phăng Sô Lin, Phìn Hồ, Pu Sam Cáp, Sà Dề
Phìn, Tả Ngảo, Tả Phìn, Tủa Sín Chải.
của con người, bao gồm các quyền về ăn, sức khỏe, giáo dục, nhà ở và một số
dịch vụ xã hội cơ bản.
Hai là, nâng cao năng lực quản lý rủi ro.
Ba là, phân phối thu nhập, bảo đảm thu nhập cho những người hoặc nhóm
đối tượng khi không có khả năng tạo thu nhập.
Bốn là, thúc đẩy việc làm bền vững và phát triển thị trường lao động, tăng
cường kỹ năng và các cơ hội tham gia thị trường lao động cho người lao động.
Năm là, nâng cao hiệu quả quản lý xã hội, thúc đẩy gắn kết xã hội và phát
triển xã hội.
Sáu là, hỗ trợ người dân vượt qua khủng hoảng.
* Nhiệm vụ:
- Trình UBND huyện Sìn Hồ về việc ban hành quyết định, chỉ thị; quy
hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; chương trình, biện pháp tổ chức
thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà
nước được giao.
- Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi
được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực
lao động, người có công và xã hội được giao; theo dõi thi hành pháp luật.
- Giúp UBND huyện Sìn Hồ quản lý nhà nước đối với tổ chức kinh tế tập
thể, kinh tế tư nhân, các hội và tổ chức phi chính phủ hoạt động trên địa bàn
thuộc lĩnh vực lao động, người có công và xã hội.
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định đối với các cơ sở bảo
trợ xã hội, nhà xã hội, cơ sở dạy nghề, tổ chức dịch vụ việc làm, cơ sở cai
nghiện bắt buộc, cơ sở cai nghiện tự nguyện, cơ sở quản lý sau cai nghiện, cơ sở
hỗ trợ nạn nhân, cơ sở trợ giúp trẻ em trên địa bàn huyện.
- Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực lao động, người có công
và xã hội đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn.
- Phối hợp với các ngành, đoàn thể xây dựng phong trào toàn dân chăm
Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ASXH CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI ĐỊA
PHƯƠNG CỦA PHÒNG LAO ĐỘNG - TB&XH HUYỆN SÌN HỒ TỈNH
LAI CHÂU
2.1 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác an sinh xã hội cho
người nghèo tại huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu
2.1.1 Thuận lợi
Nằm ở vùng núi phía Tây Bắc của Tổ quốc, huyện Sìn Hồ có điều kiện tự
nhiên thuận lợi như khí hậu mát mẻ quanh năm, đất đai chủ yếu là đất đỏ, đất đá
vôi thuận lợi cho canh tác nhiều loại cây trồng như : Đào, mận, táo mèo, cao su,
chè… và thích hợp chăn nuôi gia súc gia cầm. Mặc dù sinh sống ở vùng cao
nguyên khó khăn nhưng người dân Sìn Hồ luôn luôn thể hiện sự cần cù chăm
chỉ, chịu khó làm lụng. Nhiều xã trên địa bàn huyện tích cực phát triển kinh tế,
xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội và công cuộc xây dựng nông thôn mới được
tiến hành có hiệu quả.
Với sự lãnh đạo của HĐND, sự giám sát, chỉ đạo sâu sắc của UBND và
Phòng Lao động – TB&XH huyện Sìn Hồ, trong những năm qua chương trình
giảm nghèo của tỉnh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trên tất cả các
lĩnh vực kinh tế - xã hội. Hàng chục nghìn lao động ở nông thôn được ổn định
và giải quyết việc làm mới góp phần tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu
vực nông thôn lên trên 80%. Thông qua các trung tâm dạy nghề và giới thiệu
việc làm mà nhiều nông dân được tư vấn dạy nghề, có cơ hội việc làm tốt, tăng
thu nhập. Giảm đáng kể tỷ lệ hộ nghèo trong huyện từ 31,08% năm 2006 xuống
9,8% năm 2014. Với kinh phí đầu tư của chương trình và huy động từ các nguồn
lực khác, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự hỗ trợ của các tổ chức đã tạo
thành sức mạnh tổng hợp giúp các hộ nghèo có cơ hội vươn lên xóa đói giảm
nghèo, an sinh xã hội, xây dựng cuộc sống ấm no.
Chính sách về BHXH, bảo trợ xã hội và cung cấp các dịch vụ xã hội cơ
tính mạng và đời sống người dân, nhất là dân nghèo. Tình trạng nghèo đói xảy
ra phổ biến ở tất cả các xã trên địa bàn huyện, hiện trạng nghèo đặt ra nhiều áp
lực lớn đối với quá trình triển khai công tác ASXH tới người dân. Do đó, công
tác ASXH cho người nghèo tại huyện còn gặp nhiều khó khăn và bất cập.
Việc thực hiện công tác ASXH trên địa bàn huyện không phải dễ dàng khi
chung quanh chỉ là những ngọn núi đá khô cằn, những con dốc ngoằn nghoèo và
hiểm trở. Tỷ lệ hộ đói nghèo của huyện chiếm gần 50%. Xã khó khăn nhất của
huyện là xã Nậm Ban. Đây là xã duy nhất của huyện không có đường ô-tô.
Muốn vào xã, chỉ còn cách đi bộ. Xã Nậm Ban cách trung tâm huyện hơn 80km,
là nơi sinh sống của bà con dân tộc Mảng - dân tộc bản địa duy nhất của tỉnh Lai
Châu. Hiện nay, người Mảng sinh sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy với
phương thức canh tác thô sơ lạc hậu. Lúa, ngô, sắn là nguồn lương thực chính
của bà con. Chính vì điều kiện khó khăn trong đi lại, đặc biệt là vào mùa mưa
làm cho bà con dân tộc Mảng gần như bị cô lập hoàn toàn với bên ngoài. Vào
mùa mưa những con đường dẫn vào các bản của xã Nậm Ban gần như bị chìm
14
ngập trong sình lầy. Cuộc sống ở đây nghèo đến mức không tìm được hộ nào
nghèo nhất, bởi hộ nào cũng nghèo như nhau. Chính vì nghèo đói mà hiện nay,
trẻ em dân tộc Mảng đi học gặp rất nhiều khó khăn, nhất là việc tự túc lương
thực khi đến trường. Nhiều trường hợp các em đến trường rồi lại bỏ về do thiếu
ăn, thiếu mặc.
Mặc dù Nhà nước đã hỗ trợ nhiều kinh phí để giảm bớt phần nào sự
nghèo đói của các xã trên địa bàn, thực hiện nhiều chính sách xóa đói giảm
nghèo cho nhân dân. Bên cạnh đó, một bộ phận người dân và chính quyền cấp
xã vẫn còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại, nhận thức chưa đầy đủ về mục tiêu giảm
nghèo, chính sách an sinh xã hội của Nhà nước.
2.2. Sự chỉ đạo của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện
Sìn Hồ đối với công tác an sinh xã hội trên địa bàn
nước, sự đóng góp của người dân là rất ít. Với cơ chế điều hành theo kiểu hành
chính, mệnh lệnh đã dẫn đến là Nhà nước không phát huy được những nguồn
lực cho hoạt động an sinh xã hội. Về phía xã hội thì lãng phí nguồn lực nhưng
phân phối lại mang tính bình quân. Còn về phía người lao động thì hoàn toàn
trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước.
Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Sìn Hồ hỗ trợ nguồn vốn vay tín
dụng cho nhân dân nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững trên địa bàn
huyện.
Với mục tiêu: “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã
hội” huyện Sìn Hồ đã ưu tiên nguồn lực xã hội đầu tư cho phát triển dịch vụ
phúc lợi xã hội cơ bản: Y tế, giáo dục, nước sạch... Do vậy đời sống vật chất,
tinh thần của đại bộ phận nhân dân, trong đó có nhóm người yếu thế đã từng
bước được nâng lên. Đi cùng với đầu tư phát triển phúc lợi xã hội một loạt chính
sách hỗ trợ trực tiếp cũng được triển khai thực hiện như: chính sách cứu trợ đột
xuất, thường xuyên, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Cụ thể là
một hệ thống văn bản pháp quy đã được xây dựng như: Pháp lệnh người tàn tật
được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 30/7/1998, Pháp lệnh người
cao tuổi được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 28/4/2000, Nghị định
số 07/2000/NĐ-CP ngày 9/3/2000 của Chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội…
Những văn bản này được UBND cấp tỉnh, cấp huyện chỉ đạo các phòng, ban
thực hiện. Đặc biệt, phòng Lao động – TB&XH huyện là cơ quan thực hiện chủ
yếu, phối hợp với các Tổ chức xã hội để đưa các chính sách xã hội tới người
dân. Theo đó, người chết do thiên tai được hỗ trợ tiền thuốc chữa bệnh, hộ gia
đình mất nhà, mất tài sản, phương tiện sản xuất, thiếu đói… đều có chính sách
trợ giúp của Nhà nước. Đối với người già cô đơn không nơi nương tựa, trẻ em
mồ côi, người tàn tật nặng không có nguồn nuôi dưỡng được hưởng trợ cấp cứu
trợ xã hội thường xuyên của xã, phường hoặc được đưa vào nuôi dưỡng tập
trung trong các cơ sở Bảo trợ xã hội. Ngoài ra, họ được hỗ trợ khám chữa bệnh
miễn phí, giáo dục, chỉnh hình phục hồi chức năng, dạy nghề, tạo việc làm… và
đặc biệt thường xuyên nhận được sự chăm sóc của cộng đồng xã hội. Hệ thống
tỷ đồng (đạt 81% cam kết); hoạt động ASXH 74 tỷ đồng (đạt 70,5% cam kết).
Huyện Sìn Hồ có lợi thế nằm trong 3 vùng kinh tế trọng điểm gồm vùng
kinh tế động lực quốc lộ 32, 4D...; vùng kinh tế nông - lâm nghiệp sinh thái sông
Đà; vùng kinh tế cao nguyên Sìn Hồ và các điểm kinh tế phụ trợ. Năm 2009, Sìn
Hồ dự kiến trồng mới 2.000 ha cao su ở 4 xã Ma Quai, Nậm Tăm, Nậm Cuổi,
Nậm Cha. Riêng vùng biên giới và 5 xã dọc sông Nậm Na chỉ trồng rừng và cây
17
ăn quả.
Năm 2010, Sìn Hồ phấn đấu giảm tỷ lệ đói nghèo xuống còn dưới 10% và
trồng mới thêm 2.350 ha cao su. [4; Tr. 32] Công tác trồng cây cao su nhằm xóa
đói giảm nghèo, an sinh xã hội được Phòng Lao động – TB&XH huyện Sìn Hồ
đưa vào thực hiện. Từ khi triển khai kế hoạch trồng cây cao su với mục tiêu
giảm nghèo, hỗ trợ việc làm cho người nghèo đã đạt được nhiều thành công.
Năm 2015, sau nhiều năm bén rễ trên vùng đất Sìn Hồ cao su đã phủ màu
xanh bạt ngàn trên khắp các sườn đồi của các xã, tạo ra cơ hội xóa đói, giảm
nghèo cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn, hai nhà máy sơ chế trên địa bàn
huyện hoạt động, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho khoảng 5.500 công nhân.
Với mức thu nhập từ 2,5 - 4 triệu đồng/tháng, cùng với thu nhập từ góp đất cổ
phần của khoảng 6.000 hộ dân góp phần tích cực vào xóa đói, giảm nghèo cho
nhân dân vùng trồng cây cao su nói riêng và huyện Sìn Hồ nói chung. [1; Tr. 22]
Nậm Cuổi là xã đi đầu của huyện về trồng cây cao su. Hiện cả xã có
khoảng 1.350ha cao su, có diện tích vừa mới trồng, có diện tích đã được 6 năm.
Cũng nhờ có cây cao su cuộc sống của người đã thay đổi rõ rệt, thay vì đói đứt
bữa, nghèo kinh niên nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo trở thành hộ khá. Người
dân trong vùng quy hoạch trồng cây cao su được hỗ trợ 5 triệu đồng/ha đất trồng
cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm để chuyển đổi sang trồng cao su; 3 triệu
đồng/ha đối với đất trồng cây hàng năm; 2 triệu đồng với đất trồng cây lâm
nghiệp và 3 triệu đồng hỗ trợ di chuyển nhà. Ngoài mức hỗ trợ này, người dân
nhiều xã trên địa bàn huyện gặp rất nhiều khó khăn vì số hộ nghèo quá nhiều,
những chính sách an sinh xã hội của Nhà nước chưa đáp ứng đủ kịp thời; cơ sơ
vật chất, cơ sở hạ tầng, nhà ở cho người dân còn nhiều thiếu thốn.Xã Tủa Sín
Chải là xã nghèo tiêu biểu của huyện, tính đến năm 2010, toàn xã có 769 hộ, tỷ
lệ hộ nghèo chiếm trên 39%, 10/13 bản chưa có điện lưới quốc gia, giao thông
khó khăn, chủ yếu là đường dân sinh. Điều đó không chỉ hạn chế sự phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương mà hoạt động của cán bộ Ngân hàng cũng gian
nan không kém. Trèo đèo, lội suối tìm đến từng hộ dân để tuyên truyền, vận
động bà con vay vốn phát triển kinh tế, góp phần xóa đói, giảm nghèo là việc
làm thường xuyên của cán bộ Ngân hàng CSXH.
Theo thống kê của Phòng Giao dịch Ngân hàng CSXH huyện Sìn Hồ,
thông qua các tổ chức hội nhận uỷ thác (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn
Thanh niên), đến cuối năm 2014, xã Tủa Sín Chải có 253 hộ nghèo, cận nghèo,
đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn được vay vốn ưu đãi, chiếm 33% số
hộ trong xã, với tổng số tiền 3.932 triệu đồng từ các nguồn vốn thuộc chương
19
trình tín dụng ưu đãi của Ngân hàng CSXH. [5; Tr.6]
Từ nguồn vốn này, các hộ phát triển chăn nuôi, mua sắm công cụ phục vụ
sản xuất và chăn nuôi, xây dựng nhà ở, đầu tư cho con em theo học các trường
chuyên nghiệp. Qua kiểm tra, giám sát, các hộ sử dụng vốn vay đúng mục đích,
mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần ổn định đời sống, xóa đói giảm nghèo. Năm
2014, toàn xã có 58 hộ thoát nghèo, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 44,91%
(năm 2013) xuống còn 39,75%.
Tính đến ngày 16/6/2011, Phòng Giao dịch NHCSXH huyện Sìn Hồ có
tổng dư nợ hơn 109 tỷ đồng. Đó là kết quả của Phòng Giao dịch NHCSXH
huyện Sìn Hồ cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo vay vốn phát triển kinh tế
thông qua các tổ chức chính trị xã hội trên địa huyện vay.
Bảng 2.1: Dư nợ của Ngân hàng CSXH huyện Sìn Hồ năm 2011
2,9 tỷ đồng
Thương nhân
1 tỷ đồng
[Nguồn: Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện Sìn Hồ năm 2011]
Từ bảng trên ta có thể tổng dư nợ mà Ngân hàng CSXH huyện Sìn Hồ
đều nhằm mục đích xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội tại địa phương. Hầu hết
nguồn vốn vay tín dụng tại Ngân hàng đều là cho vay hộ nghèo là 58,8 tỷ đồng
chiếm 53,94% tổng dư nợ; nguồn vốn hỗ trợ các hộ sản xuất kinh doanh vùng
khó khăn là 27 tỷ đồng chiếm 24,77% tổng dư nợ của huyện; các khoản hỗ trợ
hộ nghèo về nhà ở là 11,6 tỷ đồng chiếm 10,64% tổng dư nợ. Ngoài ra Ngân
hàng CSXH huyện Sìn Hồ còn hỗ trợ các khoản như: vốn giải quyết việc làm là
1,47%, vốn nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 1,93%, hỗ trợ HSSV có
hoàn cảnh khó khăn là 3,67%, hỗ trợ đồng bào DTTS đặc biệt khó khăn là
2,66%, hỗ trợ thương nhân là 0,92%. Các chính sách hỗ trợ của Ngân hàng
CSXH huyện Sìn Hồ giúp giảm tỉ lệ nghèo đói trên địa bàn huyện.
20
Theo đánh giá của phòng giao dịch huyện Sìn Hồ, các hộ vay vốn đều sử
dụng đúng mục đích và phát huy được hiệu quả đồng vốn vay. Từ nay đến cuối
năm 2014, Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện Sìn Hồ tăng cường thực
hiện giải pháp phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu tín dụng Ngân hàng CSXH tỉnh Lai
Châu giao, giải ngân hết nguồn vốn hỗ trợ về nhà ở, nguồn vốn 30a, cho vay
đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn với các mức lãi suất thấp
[Xem phụ lục 2; Tr. 39].
Cùng với nghị lực vươn lên của đồng bào; sự quan tâm giúp đỡ của các
thường xuyên phát dọn thực bì, chống cháy rừng vào mùa khô hanh, trồng rừng
trên những đồi núi trọc… Đến nay, đã có thêm khoảng 40 hộ trong số 624 hộ
của xã thoát nghèo, nhiều gia đình được sử dụng điện lưới, 100% trẻ em đúng độ
tuổi được tới trường. [4; Tr. 11]
Đào tạo nghề cho thanh niên là hướng đi thiết thực để đảm bảo nguồn
nhân lực có tay nghề cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện, đồng thời
góp phần thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới
trên địa bàn. Để công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Sìn Hồ đi vào
cuộc sống cần sự quan tâm hơn nữa của hệ thống chính trị ở địa phương, đầu tư
theo chiều sâu, đảm bảo chất lượng đào tạo; sự phối hợp giữa các ngành, các cấp
và ý chí vươn lên thoát nghèo của thanh niên nông thôn.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Sìn Hồ lần thứ XVI xác định công tác
đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở xã, thị trấn là một
trong 3 chương trình trọng điểm của Đảng bộ huyện đến năm 2015. Đây là
nhiệm vụ có ý nghĩa đòn bẩy góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc.
Bởi vậy, huyện đã ban hành Nghị quyết 01-NQ/HU về đẩy mạnh công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, thị trấn (gọi chung là cán bộ, công chức
xã) giai đoạn 2010 – 2015 và đã đạt nhiều kết quả quan trọng.
Với một huyện còn khó khăn về điều kiện giao thông, tỷ lệ hộ nghèo,
trình độ dân trí như Sìn Hồ thì chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở xã, thị trấn còn
nhiều hạn chế cũng là điều dễ hiểu.
Bảng 2.2: Trình độ cán bộ công chức huyện Sìn Hồ năm 2011
Trình độ học vấn
Tỷ lệ
Tốt nghiệp tiểu học
27,6%
Tốt nghiệp THCS
56,2%
Tốt nghiệp THPT
16,2%
dụng đúng với trình độ được đào tạo; học sinh ở các xã sau khi được cử đi đào
tạo văn hoá, chuyên môn nhưng chưa được bố trí, sử dụng; công tác đào tạo, bồi
dưỡng còn nặng về lý luận, chưa đi sâu vào rèn luyện kỹ năng, nghiệp vụ công
tác cho cán bộ. Do đó một số cán bộ mặc dù đã được đào tạo cơ bản nhưng năng
lực chuyên môn, khả năng thực hiện nhiệm vụ, điều hành giải quyết công việc
thực tiễn còn rất hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Với những lí do
khách quan và chủ quan trên đã khiến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã trên địa bàn huyện chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Xuất phát từ những hạn chế, yếu kém đó, ngày 19/10/2010, Ban Chấp
hành Đảng bộ huyện ban hành Nghị quyết số 01-NQ/HU về đẩy mạnh công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, thị trấn giai đoạn 2010 – 2015.
Huyện Sìn Hồ đã chỉ đạo các xã, thị trấn cử đi đào tạo theo chức danh, vị
trí công tác; quan tâm tạo điều kiện cử những cán bộ đương chức, còn đủ tuổi
đào tạo, có năng lực thực tiễn và uy tín trong nhân dân để cử đi đào tạo, đào tạo
lại để phục vụ công tác. Hầu hết số cán bộ sau khi được đào tạo, bồi dưỡng đã
phát huy được trình độ, năng lực thực tiễn từng bước đáp ứng được yêu cầu
nhiệm vụ ở cơ sở.
Trên cơ sở kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, các xã, thị trấn thực hiện
nghiêm túc đảm bảo đúng nguyên tắc, thủ tục, công khai, dân chủ và theo đúng
quy định về phân cấp quản lý cán bộ. Huyện đã tiến hành liên kết với các cơ sở
đào tạo trong và ngoài tỉnh tổ chức mở các lớp đào tạo chuyên môn, lý luận
23
chính trị và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ, công chức xã, thị trấn.
Song song với đó, huyện cũng đặc biệt quan tâm đến công tác tuyển dụng, bố trí
sử dụng cán bộ, công chức xã, thị trấn. Quan điểm sử dụng cán bộ của huyện là
kiên quyết giải quyết chế độ cho những cán bộ, công chức xã trình độ, năng lực
hạn chế không đủ điều kiện để cử đi đào tạo cho nghỉ công tác theo chế độ Bảo
hiểm xã hội, nhằm từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã.
Bảo hiểm xã hội huyện huyện Sìn Hồ tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp thẻ
BHYT cho đối tượng cận nghèo, trên cơ sở danh sách đã được phê duyệt và mức
đóng cụ thể của từng thành viên trong hộ theo quy định thu tiền và nhận danh
sách do Công chức Văn hóa – Xã hội các xã, thị trấn thu của đối tượng nộp về
BHXH, bàn giao thẻ của đối tượng cho phòng Lao động - Thương binh và Xã
hội. Phòng Y tế phối hợp với Trung tâm Y tế huyện tổ chức thực hiện nhiệm vụ,
khám chữa bệnh cho các đối tượng theo đúng quy định.
Đối với UBND các xã, thị trấn thuộc huyện Sìn Hồ đã tổ chức triển khai
rà soát, lập danh sách và trình đề nghị cấp thẻ BHYT chính xác, đúng đối tượng,
đúng thời gian và nộp về phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện để
quản lý.
Đối với đối tượng hộ cận nghèo mới thoát nghèo (theo chuẩn nghèo quốc
gia): Căn cứ kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm đã được UBND
huyện Sìn Hồ phê duyệt công nhận, hướng dẫn các đối tượng thuộc hộ gia đình
cận nghèo mới thoát nghèo kê khai thông tin, rà soát loại bỏ đối tượng trùng; lập
danh sách chi tiết và hoàn thiện các thủ tục gửi về phòng Lao động - Thương
binh và Xã hội để phê duyệt danh sách cấp thẻ BHYT.
Từ năm 2010 - 2015, toàn huyện đã cấp 296.085 thẻ BHYT; 341.856 lượt
người đến khám bệnh và 12.648 lượt bệnh nhân điều trị nội trú tại các cơ sở y tế.
[4; Tr.8]
Trong những năm vừa qua, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp trên địa bàn huyệnvẫn còn gặp muôn vàn khó khăn, thử thách; rồi còn
phải chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, lũ lụt... Song, BHXH huyện đã có
nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt như: Thành lập Tổ thu nợ, kiến nghị thành
lập các đoàn kiểm tra liên ngành để thanh tra, kiểm tra, khởi kiện đối với những
đơn vị cố tình dây dưa nợ đọng BHXH, BHYT.
Cũng do đặc thù của huyện có nhiều đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu
số nên BHXH huyện Sìn Hồ rất chú trọng nâng cao chất lượng công tác chi trả,