LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp nghiệp “Ứng dụng phần mềm
ARM trong công tác quản lý hồ sơ Đảng viên tại Đảng bộxã Đồng Sơn, huyện
Hoành Bồ, tỉnh Quảng Nin”
Em xin trân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Hệ thống thông tin kinh
tế, trường Đại học công nghệ thông tin và truyền thông, đã truyền đạt cho em
những kiến thức quý báu và bổ ích.
Em trân thành cảm ơn Cô giáo, ThS Phan Thị Thanh Huyền và các thầy
cô khác trong thời gian qua đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình viết
và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này tốt nghiệp.
Em xin trân thành cảm ơn các bác, các cô, chú lãnh đạo Đảng ủy - HĐND
- UBND đã tạo điều kiện cho em có thời gian để nghiên cứu để hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp này.
Với thời gian thực tập hạn chế, sự hiểu biết có hạn, khóa luận không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của
thầy, cô giáo để khóa luận tốt nghiệp của em hoàn thiện hơn.
Em xin trân thành cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan tất cả các nội dung trong khóa luận tốt nghiệp tốt
nghiệp của em không sao chép nội dung cơ bản từ các khóa luận khác. Các số
liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong các
công trình khác. Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm về đề tài của mình.
Người cam đoan
Lý Sinh Quý
MỤC LỤC
2.6.2. Phạm vi áp dụng:.......................................................................................35
2.6.3. Nguyên tắc quản lý hồ sơ:..........................................................................35
2.6.4. Căn cứ xây dựng quy trình:........................................................................36
2.6.5. Nội dung:...................................................................................................37
Chương 3. ỨNG DỤNG PHẦN MỀM ARM TRONG QUẢN LÝ HỒ SƠ ĐẢNG
VIÊN TẠI ĐẢNG BỘ XÃ ĐỒNG SƠN.....................................................................44
3.1. Giới thiệu một số giao diện cơ bản của phần mềm...........................................44
3.1.1. Thực đơn hệ thống.....................................................................................44
3.1.2. Thực đơn danh mục....................................................................................45
3.2. Cài đặt, nhập dữ liệu mô tả chi tiết từng màn hình............................................49
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN....................................................................58
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................61
LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện theo nghị quyết Trung ương 4 – Khóa XI về tăng cường công
tác xây dựng Đảng, Đảng bộ xã Đồng Sơn đặc biệt quan tâm đến công tác chính
trị, tư tưởng và tổ chức; coi đây là nhệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay.
Để đáp ứng yêu cầu công tác Đảng vụ trong tình hình mới, Đảng bộ xã Đồng
Sơn thường xuyên cập nhật các số liệu về tình hình Đảng viên, thực hiện chế độ
báo cáo định kỳ và đột xuất các hoạt động của Đảng bộ về lãnh đạo nhiệm vụ
chính trị kịp thời. Bên cạnh đó, một nhiệm vụ quan trọng khác là công tác quản
lý nhân sự Đảng viên phục vụ việc báo cáo Đảng viên phục vụ cho báo cáo
Đảng cấp trên cần phải đổi mới để kịp thời năm bắt các thông tin khi số lượng
Đảng viên ngày càng tăng. Với tình hình trên cùng với việc thực hiện chỉ thị số
58-CT/TW của Bộ chính trị về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ
thông tin trong phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” việc xây dựng
phần mềm để quản lý hồ sơ Đảng viên là hết sức phù hợp với tình hình thực tế,
KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HỒ SƠ ĐẢNG VIÊN.
1. Một số khái niệm:
1.1. Khái niệm về Quản lý
- Khái niệm chung về quản lý
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì “ Quản lý là chức năng và hoạt
động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau, bảo đảm giữ gìn một cơ
cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những
chương trình và mục tiêu của hệ thống đó”.
Theo TS. Trần Ngọc Liêu: “ Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền
lực, theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các
nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường biến
đổi.” (Tập bài giảng Khoa học quản lý đại cương, Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn -ĐHQGHN).
- Khái niệm chung về Quản lý hồ sơ:
Quản lý hồ sơ là việc sắp xếp, thiết kế và xem xét lại các văn bản, hồ sơ
trong tổ chức. Nó liên quan đến việc phối hợp các nhiệm vụ, quản lý, bảo quản,
tiêu hủy trong sự hoạt động của một tổ chức trong khoảng thời gian hoạch định.
Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ),
các cấp ủy cơ sở cần phân công cán bộ (hoặc cấp ủy) làm tốt tác quản lý hồ sơ
đảng viên và thực hiện công tác Đảng của Chi bộ. Cán bộ quản lý hồ sơ, lý lịch
đảng viên phải có trình độ ngày càng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao,
được bố trí ổn định, quản lý chặt chẽ; phải là người có quan điểm, lập trường tư
tưởng và bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất, đạo đức trong sáng, có tinh
thần trách nhiệm cao, trung thực, có ý thức tổ chức, kỷ luật nghiêm minh, tự
giác; có hiểu biết về tình hình chính trị xã hội ở địa phương, đơn vị và về lịch sử
Chi, Đảng bộ mình; có tinh thần học tập cầu tiến bộ, có kiến thức và kinh
nghiệm về công tác quản lý hồ sơ, lý lịch đảng viên và được bồi dưỡng về
3
4
liệu không cón tác dụng thiết thực trong hồ sơ đảng viên được cấp ủy đảng và tổ
chức chuyên môn cho phép. Thường xuyên và kịp thời làm rõ về tình hình công
tác hồ sơ đảng viên và làm thống kê về cơ cấu, chất lượng đảng viên theo quy
định. Thực hiện nghiêm chế độ báo cáo về việc quản lý hồ sơ, lý lịch đảng viên
(theo yêu cầu, nội dung, thời gian căn cứ quy định của Điều lệ Đảng và theo
Hướng dẫn của Trung ương).
Cấp ủy đảng hoặc cán bộ tổ chức được cấp ủy giao trách nhiệm quản lý
đảng viên phải thường xuyên nắm chắc lượng hồ sơ đảng viên, theo dõi chặt chẽ
việc giao, nhận, mượn đọc hồ sơ đảng viên. Định kỳ đối chiếu danh sách đảng
viên với số lượng hồ sơ đảng viên; kịp thời phát hiện những tài liệu trong hồ sơ
đảng viên bị hư hỏng để xử lý ngay. Khi thay đổi cán bộ quản lý phải có biên
bản giao nhận chặt chẽ, đúng nguyên tắc.
Để các cơ sở Đảng, đảng viên hiểu, coi trọng và làm tốt công tác quản lý
hồ sơ lý lịch đảng viên, đưa các hoạt động của công tác này đi vào nền nếp, trở
thành một hệ thống quản lý chặt chẽ, thống nhất (theo quy định của Trung
ương), phục vụ có hiệu quả sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác đảng
viên; nhanh chóng khắc phục tình trạng buông lỏng, tùy tiện, không nghiêm túc
thực hiện đúng Hướng dẫn của cấp trên và những quy định của Trung ương
trong việc viết lý lịch và quản lý hồ sơ lý lịch đảng viên.
Hồ sơ đảng viên phải được phản ánh đầy đủ, kịp thời, chính xác về
những hoạt động của đảng viên, về quan hệ gia đình, xã hội, đặc biệt là về đảng
tịch, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, trình độ năng lực công tác và
những đặc điểm lịch sử nếu có. Lý lịch và những giấy tờ trong hồ sơ đảng viên
phải được cấp ủy chứng nhận, ký tên, đóng dấu mới có giá trị. Hồ sơ lý lịch
đảng viên là tài liệu quan trọng của Đảng, phải tổ chức quản lý chặt chẽ, không
được để mất hoặc hư hỏng.
Khi đảng viên chuyển công tác phải làm thủ tục chuyển sinh hoạt Đảng
+ Nghị quyết xét, đề nghị kết nạp đảng viên của đảng uỷ cơ sở;
+ Quyết định kết nạp đảng viên của cấp uỷ có thẩm quyền;
+ Lý lịch đảng viên;
6
+ Phiếu đảng viên.
b)Khi đảng viên đã được công nhận chính thức có thêm các tài liệu sau :
+ Giấy chứng nhận học lớp bồi dưỡng đảng viên mới;
+ Bản tự kiểm điểm của đảng viên dự bị;
+ Bản nhận xét đảng viên dự bị của đảng viên được phân công giúp đỡ;
+ Tổng hợp ý kiến nhận xét của đoàn thể chính trị - xã hội nơi làm việc và
chi uỷ (hoặc chi bộ) nơi cư trú đối với đảng viên dự bị;
+ Nghị quyết xét, đề nghị công nhận đảng viên chính thức của chi bộ;
+ Báo cáo thẩm định của đảng uỷ bộ phận (nếu có);
+ Nghị quyết xét, đề nghị công nhận đảng viên chính thức của đảng uỷ cơ
sở;
+ Quyết định công nhận đảng viên chính thức của cấp uỷ có thẩm quyền;
+ Các bản bổ sung hồ sơ đảng viên hằng năm;
+ Các bản thẩm tra, kết luận về lý lịch đảng viên (nếu có);
+ Các quyết định của cấp có thẩm quyền về điều động, bổ nhiệm, nghỉ
hưu, nghỉ mất sức, chuyển ngành, phục viên, xuất ngũ, kỷ luật, khen thưởng;
bản sao các văn bằng chứng chỉ về chuyên môn, lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin
học...;
+ Hệ thống giấy giới thiệu sinh hoạt đảng từ khi vào Đảng;
+ Các bản tự kiểm điểm hằng năm (của 5 năm gần nhất) và khi chuyển
sinh hoạt đảng của đảng viên.
Ngoài những tài liệu trên, những tài liệu khác kèm theo trong hồ sơ đảng
viên đều là tài liệu tham khảo.
-Các tài liệu trong hồ sơ đảng viên (trừ phiếu đảng viên được sắp xếp
bộ và chuyển phiếu bổ sung hồ sơ đảng viên lên đảng uỷ cơ sở (nếu là chi bộ cơ
sở thì chi uỷ xác nhận vào mục của cấp uỷ cơ sở).
+ Cấp uỷ cơ sở ghi bổ sung vào lý lịch đảng viên và danh sách đảng viên
của đảng bộ, rồi chuyển phiếu bổ sung hồ sơ đảng viên lên cấp uỷ cấp trên trực
tiếp.
+ Cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng bổ sung vào phiếu
đảng viên, lý lịch đảng viên, danh sách đảng viên và cơ sở dữ liệu đảng viên; lưu
8
giữ phiếu bổ sung cùng với hồ sơ đảng viên, nếu cấp uỷ cơ sở quản lý hồ sơ
đảng viên thì chuyển phiếu cho cấp uỷ cơ sở.
1.2.2. Yêu cầu quản lý hồ sơ đảng viên.
a)Hồ sơ đảng viên phải được tổ chức đảng quản lý chặt chẽ theo chế độ
bảo mật, không được tẩy xoá, tự ý sửa chữa. Khi có đủ căn cứ pháp lý, được cấp
uỷ có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản thì cấp uỷ được giao quản lý hồ sơ mới
được sửa chữa vào hồ sơ đảng viên và đóng dấu của cấp uỷ vào chỗ sửa chữa.
b)Hồ sơ đảng viên do cấp uỷ cơ sở nơi đảng viên đang sinh hoạt đảng
chính thức quản lý, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý.
Cấp uỷ cơ sở không có điều kiện quản lý và bảo quản hồ sơ đảng viên thì đề
nghị cấp uỷ cấp trên trực tiếp quản lý, bảo quản.
c)Quản lý hồ sơ khi chuyển sinh hoạt đảng : Khi đảng viên chuyển sinh
hoạt đảng, cấp uỷ nơi đảng viên chuyển đi làm đầy đủ thủ tục, niêm phong hồ
sơ, giao cho đảng viên trực tiếp mang theo để báo cáo với cấp uỷ nơi đảng viên
chuyển đến; trường hợp đặc biệt thì tổ chức đảng chuyển hồ sơ.
Tổ chức đảng tiếp nhận đảng viên phải kiểm tra chặt chẽ hồ sơ đảng viên
theo bản mục lục các tài liệu có trong hồ sơ, vào sổ theo dõi, sắp xếp, quản lý;
nếu chưa có xác nhận của cấp uỷ quản lý hồ sơ đảng viên (nơi đảng viên chuyển
đi) trong bản mục lục hồ sơ đảng viên thì chưa tiếp nhận sinh hoạt đảng.
-Khi đảng viên chuyển sinh hoạt đảng chính thức ra khỏi đảng bộ huyện
và tương đương thì phiếu đảng viên được chuyển giao cùng với hồ sơ đảng viên
đến đảng bộ mới để quản lý (đảng viên không phải khai lại phiếu đảng viên).
h)Giải quyết việc thay đổi họ tên, ngày tháng năm sinh
-Trường hợp đảng viên cần thay đổi họ, tên khác với đã khai trong lý lịch
đảng viên thì thực hiện như sau :
+ Đảng viên gửi đến cấp uỷ cơ sở đơn đề nghị và văn bản chính thức của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép được thay đổi họ, tên.
+ Cấp uỷ cơ sở xem xét và đề nghị cấp uỷ cấp trên trực tiếp xem xét,
quyết định.
- Trường hợp đảng viên cần thay đổi ngày tháng năm sinh khác với đã
khai trong lý lịch đảng viên thì thực hiện như sau :
+ Đảng viên gửi đến cấp uỷ cơ sở đơn đề nghị và các giấy tờ liên quan tới
ngày tháng năm sinh của bản thân.
10
+ Cấp uỷ cơ sở xem xét nếu đồng ý thì đề nghị cấp uỷ cấp trên trực tiếp
xem xét, quyết định.
+ Cấp uỷ cấp trên trực tiếp giải quyết việc thay đổi ngày tháng năm sinh
của đảng viên theo nguyên tắc :
Tuổi của đảng viên tính theo giấy khai sinh gốc; nếu không có giấy khai
sinh gốc thì tính theo lý lịch khai khi vào Đảng. Trường hợp lý lịch khai khi vào
Đảng có đủ căn cứ chứng minh là không đúng thì căn cứ vào các hồ sơ, giấy tờ
có liên quan theo quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch và phải
được cấp uỷ có thẩm quyền xem xét, công nhận.
-Khi có quyết định của cấp uỷ có thẩm quyền cho thay đổi họ, tên hoặc
ngày tháng năm sinh thì tổ chức đảng phải sửa đồng bộ các tài liệu trong hệ
thống hồ sơ của đảng viên do cấp uỷ các cấp quản lý.
i) Tổ chức quản lý hồ sơ đảng viên
ra như vũ bão, làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức, quan điểm và hành động
của hầu hết các quốc gia về lĩnh vực công nghệ này. Công nghệ thông tin hiện
nay đang được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, góp phần thay đổi cơ cấu
xã hội, phong cách sống, học tập và làm việc của con người. Nhờ ứng dụng công
nghệ thông tin nên ngày nay khối lượng công việc của hoạt động thương mại
được giải quyết trong một ngày bằng cả năm 1949, một ngày xử lý các dự án
khoa học bằng cả năm 1960, số thư điện tử gửi đi trong một ngày bằng cả năm
1990. Văn bản chuyển đi bằng thư điện tử rẻ hơn so với fax hàng nghìn lần. Việc
ứng dụng công nghệ thông tin ở Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nhanh chóng rút ngắn khoảng
cách phát triển so với các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế và đảm bảo quốc phòng, an ninh khi nước ta đã gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO).
1.3.2. Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của việc ứng dụng và phát
triển công nghệ thông tin nên Đảng, Nhà nước đã sớm có những chủ trương,
chính sách ứng dụng và phát triển lĩnh vực quan trọng này như Chỉ thị số 58CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát
triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá;
Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg ngày 24/5/2001 của Thủ tướng Chính phủ về
phê duyệt Chương trình hành động triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW ngày
17/10/2000 của Bộ Chính trị; Quyết định số 47-QĐ/TW ngày 6/8/2002 của Ban
Bí thư Trung ương về việc ban hành Đề án tin học hoá hoạt động của các cơ
14
quan Đảng giai đoạn 2001-2005; Quyết định số 95/2002/QĐ-TTg ngày
17/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch tổng thể về ứng dụng
và phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam đến năm 2005; Quyết định số 06QĐ/TW ngày 19/5/2006 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc ban hành Đề
án Tin học hoá hoạt động của các cơ quan Đảng giai đoạn 2006-2010; Luật
Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006 của Quốc hội; Nghị định
số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về Ứng dụng công nghệ
làm việc cũ, chuyển dần sang phong cách làm việc mới; giúp chuyển tải, xử lý
thông tin nhanh và chính xác hơn, tiết kiệm thời gian, chi phí in tài liệu, chi phí
vận chuyển... góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác.
- Đảng uỷ đã cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về
quản lý các dự án công nghệ thông tin, công tác quản trị mạng… do Tỉnh uỷ, Sở
khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An tổ chức. Đến nay toàn Trường đã có trên
800 máy tính các loại. Các đảng bộ bộ phận, các chi bộ đều được trang bị máy
tính, máy in và nối mạng Internet, mạng máy tính cục bộ (LAN). Văn phòng
Đảng uỷ được Tỉnh uỷ trang bị 02 máy tính, 02 thiết bị lưu điện, 01 máy quét
ảnh, 01 máy in, 01 modem, 02 bộ bàn ghế vi tính, ổn áp Lioa, thiết bị chống sét
đường điện thoại, chống sét cho máy tính... Các máy tính và thiết bị tin học đều
được đưa vào sử dụng ngay sau khi được trang bị, đáp ứng được những yêu cầu
về nâng cao năng lực soạn thảo, đánh máy văn bản nói riêng và việc trao đổi, xử
lý thông tin nói chung. Các đồng chí trong Đảng uỷ, các ban của Đảng uỷ đều sử
dụng thành thạo máy tính để soạn thảo văn bản, lưu trữ và khai thác tài liệu, trao
đổi thông tin trên mạng máy tính và truy tìm, khai thác thông tin trong các cơ sở
dữ liệu hiện có.
- Tổng dung lượng thông tin trong các cơ sở dữ liệu của Đảng bộ xã đạt
trên 1GB. Các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu dùng chung được triển khai
tích cực. Đảng uỷ đã áp dụng các phần mềm vào công tác như phần mềm Open
Offices, phần mềm Cơ sở dữ liệu đảng viên, phần mềm Thẻ đảng viên, phần
mềm Quản lý đảng phí... Cơ sở dữ liệu đảng viên gồm hơn 800 hồ sơ đã được
xây dựng, thường xuyên cập nhật và đưa vào khai thác. Việc cập nhật cơ sở dữ
liệu văn kiện Đảng, cơ sở dữ liệu mục lục hồ sơ lưu trữ của Đảng bộ Trường
16
đang được triển khai tích cực. Các hồ sơ, văn bản về công tác Đảng của Đảng bộ
từ khi thành lập đến nay đã và đang được đánh máy lại để lưu vào cơ sở dữ liệu.
1.4.2. Trong ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ởĐảng bộ xã
trị (khoá VIII) về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tăng cường tuyên truyền hướng dẫn
thực hiện tốt Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử và các nghị định,
quyết định, chỉ thị về ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển công nghệ
thông tin. Các cấp ủy Đảng cần coi việc lãnh đạo, chỉ đạo ứng dụng, phát triển
công nghệ thông tin là một nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên; coi trọng lãnh
đạo, kiểm tra đảng viên, quần chúng thực hiện nghiêm chỉnh quy chế sử dụng
mạng thông tin, bao gồm cả Internet. Mỗi cán bộ, đảng viên có trách nhiệm
gương mẫu học tập nâng cao trình độ sử dụng các công cụ trong công nghệ
thông tin ngày một thành thạo, ứng dụng thực sự thiết thực để nâng cao chất
lượng và hiệu quả công tác chuyên môn được giao.
1.5.2. Để có thể ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin vào hoạt động,
các cấp uỷ Đảng, chính quyền cần tiếp tục hợp lý hoá, cải tiến, minh bạch quy
trình công việc, thủ tục hành chính. Nhà trường cần thành lập Ban Chỉ đạo công
nghệ thông tin cấp trường theo hướng tinh gọn để chỉ đạo phát triển công nghệ
thông tin thống nhất, có hiệu quả, đảm bảo an toàn mạng lưới và an ninh thông
tin. Các đơn vị phải có cán bộ lãnh đạo được phân công trực tiếp phụ trách công
tác thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin. Cần sắp xếp, hoàn thiện hệ thống
chuyên trách về công nghệ thông tin theo Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày
10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan
nhà nước. Cụ thể hoá các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành công nghệ
thông tin phù hợp với điều kiện của Nhà trường để tăng cường hiệu lực quản lý
nhà nước về công nghệ thông tin.
1.5.3. Đưa công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức công nghệ thông tin cho
cán bộ, công chức vào nhiệm vụ và kế hoạch hàng năm của các đơn vị. Bố trí đủ
cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin và tạo điều kiện cho họ được nâng
cao trình độ quản lý, kỹ thuật, nghiệp vụ. Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ của
Trung tâm Công nghệ phần mềm và Trung tâm Đào tạo và Ứng dụng công nghệ
18
19
1.5.6. Để chuẩn hoá việc ứng dụng công nghệ thông tin trongCơ quan cần
triển khai tiêu chuẩn ISO về cải cách hành chính. Ở nước ta, ISO đã được áp
dụng trong khối doanh nghiệp từ năm 1996 song đối với khối hành chính thì vẫn
còn tương đối mới mẻ. Việc áp dụng bộ tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất
lượng ISO 9000 có nhiều nội dung đòi hỏi ứng dụng công nghệ thông tin, giúp
phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm ở từng đơn vị; minh bạch hoá khâu
điều hành, tài chính, trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức; làm rõ quy trình
thủ tục hành chính, công đoạn làm việc của từng công chức và tăng khả năng
giám sát, đánh giá của cán bộ, công chức cũng như chính trong nội bộ mỗi đơn
vị.
Ứng dụng phần mềm là sử dụng một loại chương trình có khả năng làm
cho máy tính thực hiện trực tiếp một công việc nào đó mà người dùng muốn
thực hiện.
Ứng dụng phần mềm trong quản lý hồ sơ Đảng viên là việc cài đặt, sử
dụng phần mềm nào đó để thực hiện chức năng quản lý, lưu trữ hồ sơ của Đảng
viên trong toàn Đảng bộ xã Đồng Sơn thông qua cách con người tác động vào
phần mềm để phần mềm sắp xếp,tập hợp, lưu trữ, xử lí và in xuất thông tin Đảng
viên khi cần.
Việc sử dụng phần mềm có tác dụng hiệu quả trong công việc nhờ đảm
bảo về trình tự công việc, tập hợp lưu trữ được thông tin, địa chỉ, nội dung, công
việc, trình độ, hoàn cảnh gia đình… Không những thế, còn giúp cho người dùng
tìm kiếm, kiểm tra thông tin nhanh chóng, dễ dàng.
20
Chương 2.