MỤC LỤC
STT
Nội dung
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
I
II
III
IV
V
I
II
III
IV
I
II
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
Cơ sở lý luận và thực tiễn
Thực trạng của văn đề
Các biện pháp để giải quyết vấn đề
Kết quả đạt được
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
- Dân tộc thiểu số
- Giáo dục và đào tạo
- Sáng kiến nghiệm
2
Đề tài:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
TIẾNG VIỆT CHO TRẺ MẦM NON
PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Lý do chọn đề tài:
Nói đến Tiếng Việt là một ngôn ngữ sử dụng chính thức dùng trong nhà
trường và các cơ sở Giáo dục khác (quy định tại Luật giáo dục Việt Nam).
Như vậy trẻ mầm non dân tộc thiểu số được giáo dục thông qua ngôn ngữ
tiếng Việt trong nhà trường. Bởi vì Tiếng Việt không phải là tiếng mẹ đẻ của
trẻ , mà ngôn ngữ trẻ sử dụng trong gia đình và cộng đồng chủ yếu bằng tiếng
mẹ đẻ. Vì vậy, trẻ em các DTTS trước khi đi học chưa biết hoặc biết rất ít
Tiếng Việt. Đây là một cản trở lớn đến khả năng tiếp thu kiến thức khi trẻ đến
trường.
Trẻ dân tộc thiểu số khi giao tiếp tiếng việt ở trường lớp còn gặp những
khó khăn ảnh hưởng đến việc học tham gia các hoạt động và kỹ năng sông
trong các hoạt động hàng ngày, trẻ giao tiếp tiếng dân tộc thiểu sô là chủ yếu,
3
giao tiếp tiếng việt ở lớp là một vấn đề khó khăn, thời gian ở nhà là trẻ nói
tiếng dân tộc với cha mẹ người thân trong gia đình nhiều hơn, trẻ ít giao tiếp
lớp Một. Tuy nhiên Khi đi xuống các lớp, tôi thấy các cháu đi học chủ yếu là
nói tiếng mẹ đẻ, tỷ lệ nói tiếng việt đạt chưa cao, chỉ đạt 50- 60%. Vì vậy tôi
đã nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nói tiếng việt đạt chưa cao
và tôi đi sâu vào nghiên cứu các biện pháp để tăng tỷ lệ nói tiếng việt của học
sinh các lớp. Đề ra những kiến nghị, nhằm nâng cao hiệu quả của việc hình
thành khả năng giao tiếp tiếng việt cho trẻ. Xây dựng một số biện pháp nâng
cao Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo nhằm giúp trẻ phát triển khả
năng giao tiếp tiếng việt biết cách ứng xử, xử lý tình huống, biết một số kỹ
năng sống cơ bản cần thiết cho trẻ. Giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc khi
giao tiếp. Dạy trẻ biết cách sử dụng từ, câu, câu ghép, các chuẩn mực đạo đức
trong giao tiếp.
III/ Đối tượng nghiên cứu:
Bản thân tôi đã và đang cố gắng đi sâu tìm những đối tượng và biện pháp
thích hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học nhằm nâng cao tiếng việt cho
trẻ mầm non vùng có dân tộc thiểu số, tạo tiền đề giúp trẻ biết được cách giao
tiếp bằng tiếng việt, ứng xử, xử lý tình huống, giúp trẻ phát triển ngôn ngữ
mạch lạc và mạnh dạn tự tin bày tỏ ý kiến đó làm hành trang vững trãi cho trẻ
bước vào đời.
Đối tượng ở đây tôi nghiên cứu và thực nghiệm ở giáo viên và trẻ tại
Trường Mầm Non Chồi Non xã Buôn Choah, Huyện Krông Nô, Đăk Nông.
IV/ Phương pháp nghiên cứu:
1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Tìm kiếm, sưu tầm, đọc, sử dụng, phân tích và tổng hợp tài liệu phục vụ
đề tài nghiên cứu như sách giáo khoa, sách chuyên ngành, tạp chí, trang
web…. Chỉ ra được các biện pháp tích cực nhằm nâng cao taiêngs việt của trẻ
dân tộc thiểu số .
2. Phương pháp điều tra thực tiễn:
+ Điều tra bằng phiếu điều tra của phụ huynh tại trường lớp.
5
và nghiên cứu rộng và sâu hơn về phát triển Tăng cường nâng cao Tiếng việt
cho trẻ mầm non. Chúng tôi xây dựng kế hoạch và chọn ngẩu nhiên một lớp
với sĩ số 30 cháu, 15 bé thực hiện giao tiếp Tiếng Việt tương đối tốt và 15 bé
khác là giao tiếp bằng tiếng Việt chưa được, tôi xác định được rằng khả
năng giao tiếp bằng tiếng việt cho trẻ 4-5 tuổi ở lớp ghép này cần phâỉ có
biện pháp thực hiện.
7
PHẦN NỘI DUNG
I/ Cơ sở lý luận
Đất nước ta đã và đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
thời kỳ mở cửa, với sự thay đổi cơ cấu xã hội, để tiếp thu một nền văn minh
phát triển cao đòi hỏi con người phải giao lưu trong phạm vi rộng. Mở rộng
quan hệ giao tiếp đặc biệt ở trẻ dân tộc thiểu số lứa tuổi mầm non việc giao
tiếp Tiếng Việt là rất quan trọng cần đáp ứng mọi nhu cầu phát triển của xã
hội .
Ở lứa tuổi mần non trẻ bắt đầu có ý thức về bản thân, bắt đầu chuyển sự
tìm hiểu của thế giới xung quang của các đồ vật trước đây sang một lĩnh vực
chủ yếu. Từ nhân cách của trẻ được phát triển và hình thành. Để đảm bảo cho
sự phát triển về nhân cách của trẻ, phụ thuộc phần lớn vào Tăng cường Tiếng
việt thông qua giao tiếp của trẻ qua các hoạt động học và chơi. Qua giao tiếp
trẻ lĩnh hội được tri thức hình thành và phát triển nhân cách.
Mục đích cviệc tăng cường tiếng việt cho trẻ DTTS ở trường mầm non là
giúp trẻ hình thành và phát triển nhân cách, là nơi đặt nền móng đầu tiên trong
sự nghiệp trông người. việc chăm sóc và giáo dục trẻ một cách đúng đắn ,
trong việc hình thành thói quen giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt có văn hóa,
thói quen có văn hóa. Để tạo điều kiện cho trẻ có một cơ thể khỏe mạnh, có
dân tộc trên địa bàn xã, tôi coi đó cũng là nguồn thuận lợi đối với chúng tôi.
2/ Khó khăn:
Một số trẻ chưa giao tiếp bằng tiếng Việt, khi đến lớp vẫn còn mang đậm
bản sắc dân tộc từ lời nói cử chỉ, điệu bộ…còn lúng túng trong việc giao tiếp.
Đặc điểm phát âm của trẻ ở lớp ghép 2 độ tuổi ở điểm lẻ, đặc thù ở đây là lớp có trẻ
là con em đồng bào dân tộc chiếm 95,3% , đa số trẻ ở đây còn sử dụng tiếng mẹ đẻ.
cách diễn đạt giao tiếp bằng tiếng Việt còn cảm thấy lạ lẫm, còn nhút nhát, ngại
ngùng khi giao tiếp. Bất đồng ngôn ngữ giữa giáo viên với trẻ khi giao tiếp,
giữa trẻ với trẻ. Đó là điều tôi cảm thấy khó khăn, nhưng đó cũng chính là
động lực thúc đẩy trong tôi, khiến tôi không thể chùn bước mà phải tìm ra
những phương pháp hữu hiệu khắc phục những khó khăn ấy.
3/ Khảo sát ban đầu:
Stt
Khảo sát
Số lượng
9
Tỷ lệ nói
trẻ
1
2
3
Mức độ 1: Trẻ không chào các cô giáo
trong trường và khách khi đến thăm.
Mức độ 2: Trẻ giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ
96%. Hôm tôi đi dự họp phụ huynh đầu năm, tôi nhận thấy rằng một sô phụ
huynh khen con em học ngoan, giỏi, thông minh thành thạo giao tiếp bằng
tiếng việt, nhưng khi trò chuyện với con thì chỉ nhận được ánh mắt dè chừng
của cháu phát bằng tiếng dân tộc. Ngượng với các chị em chị vội vàng nói
sang những chuyên khác chờ họp xong rồi đưa cháu ra về. Thế nhưng khi chị
vừa ra khỏi cổng trường cháu lại liếng thoáng trò chuyện bằng tiếng mẹ đẻ
cùng với mẹ nào là “Sao hôm nay có nhiều người người thê? Sao con không
thấy các bạn đi" cái bác đứng cạnh mẹ lúc nãy, mặc áo xanh là ai vậy mẹ?...
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ DTTS
trong trường Mầm non. Phần lớn trẻ em dân tộc thiểu số trước khi tới trường,
lớp Mầm non đều sống trong môi trường tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Việt,
10
ít có môi trường giao tiếp tiếng Việt. Khi đến trường, trẻ em thích trao đổi với
nhau bằng tiếng mẹ đẻ và có thói quen giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ trong hoạt
động chơi, trò chuyện hàng ngày.
III/ Các biện pháp giải quyết vấn đề
1/Biện pháp thứ nhất: Bồi dưỡng về chính trị, nhận thức, tư tưởng
và chuyên môn.
Chất lượng giáo dục cho trẻ phụ thuộc rất nhiều vào tập thể sư phạm do
đó yếu tố con người đóng vai trò quyết định mà các văn kiện của Đảng và nhà
nước. Với đội ngũ giáo viên xa gia đình, giao thông đi lại khó khăn, phải qua
sông, qua đò, giao thông không thuận lợi như những trường khác tôi đã dần
từng bước xóa bỏ những suy nghĩ này để giúp giáo viên yên tâm công tác, gắn
bó với trường hơn. Tôi thường xuyên an ủi và gợi cho đội ngũ thấy sự phát
triển về qui mô trường lớp, niềm tin về mái trường khang trang, trong tương
lai sẽ là trường chuẩn quốc gia.
Bản thân tôi là cán bộ quản lý cũng chưa hài lòng, thoả mãn về những gì
đạt được, luôn đặt ra những yêu cầu cao hơn cho đội ngũ giáo viên, luôn tìm
“Triển khai một số văn bản liên quan đến trẻ dân tộc thiểu số tại trường
Mầm non”
12
2/ Biện pháp thứ hai: Bồi dưỡng thêm tiếng dân tộc địa phương cho
giáo viên.
Nhằm nâng cao nhận thức của giáo viên về khả năng giao tiếp tiếng viêt
đối với trẻ dân tộc thiểu số. Giúp giáo viên nâng cao trình độ , kỹ năng nghề,
phẩm chất chính trị và hoàn thành tốt các nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi các cô giáo
tương tác với trẻ về song ngữ tiếng việt và tiếng đân tộc đia phương chúng
tôiễây dựng kế hoạch cho giáo viên tự đăng ký bồi dưỡng thêm tiếng dân tộc
đừng nên để trẻ bị rơi vào cảnh “Chim lồng cá chậu”, tạo điểu kiện cho trẻ
được vui chơi với bạn bè, cùng trường, cùng lớp... Trẻ sẽ trở nên mạnh dạn
hơn, học hỏi được nhiều điều thú vị hơn trong cuộc sống hằng ngày và có thể
phát triển khả năng ngôn ngữ tiếng việt của trẻ, cách giao tiếp, diễn đạt cũng
được hình thành và phát triển thông qua hoạt động giao tiếp.
Giáo viên đưa ra qua tình huống cụ thể trong đời sống hàng ngày, qua
những câu chuyện, lời thơ, bài hát, đó chính là những lời dạy bảo sống động
khó quên trong lòng trẻ.
13
“BGH cùng giáo viên xây dựng phương pháp nâng Tăng cường tiếng việt
cho trẻ”
Giáo viên có thêm ngôn ngữ về tiếng dân tộc để giao tiếp giữa “trẻ với
trẻ”, giữa “trẻ với cô”, không chỉ giúp bé ổn định tinh thần nhanh chóng, mà
còn giúp phát hiện ra các tiềm năng về mặt trí tuệ, xúc cảm của trẻ, tiếp cận
là những công việc, hoạt động diễn ra hằng ngày xung quanh trẻ như: cách
chào hỏi khi gặp người lớn, công việc của bố mẹ, anh chị em trong gia đình
và bản thân, về thời tiết, về các vật nuôi, cây trồng, về bản làng/buôn.
Cho trẻ nghe và kể lại các truyện trong chương trình: Giáo viên tóm tắt
câu chuyện bằng tiếng Việt để trẻ hiểu được ý nghĩa, nội dung truyện và cho
trẻ kể lại bằng tiếng mẹ đẻ. Sau đó mới cho trẻ nghe và kể lại bằng tiếng Việt.
Có thể dịch một số bài thơ, bài hát có nội dung gần gũi sang tiếng dân
tộc thiểu số cho trẻ đọc, hát (có lời ca có âm vần phù hợp với ngôn ngữ đó,
không nên quá gượng ép sẽ làm mất đi tính thẩm mĩ của bài hát, bài thơ). Sau
đó cho trẻ đọc, hát bằng cả tiếng dân tộc thiểu số và tiếng Việt.
b. Trò chuyện đàm thoại:
Sử dụng được các từ và câu đơn giản trong sinh hoạt hàng ngày phù hợp
với ngữ cảnh, nghe hiểu được từ về tên gọi, đặc điểm của các đồ vật, con vật
và sự vật hiện tượng thiên nhiên gần gũi quen thuộc như quan sát đàm thoại
15
một số đặc điểm của cây… Biết trả lời và hỏi các câu hỏi: Tại sao? Như thế nào?
Làm bằng gì? Để làm gì?...
“Giáo viên cho trẻ quan sát trò chuyện về sự vật hiện tượng thiên nhiên”
Biết điều chỉnh giọng nói phù hợp với ngữ cảnh tiếng việt và thể hiện
hành vi văn minh trong giao tiếp (chú ý lắng nghe người khác nói, nhìn vào
mặt người nói, giơ tay khi muốn nói và biết chờ đến lượt).
Thể hiện sự quan tâm, hứng thú đến chữ viết trong môi trường xung quanh.
Biết cầm sách đúng chiều, giở sách từ trang đầu đến trang cuối, “đọc” sách từ trái
sang phải, từ trên xuống dưới. Nói được tên các chữ cái, chữ số và phát âm đúng
các âm tương ứng 29 chữ cái tiếng Việt; sao chép được ký hiệu, chữ cái, từ, tên
của mình. Đảm bảo giao tiếp thường xuyên bằng tiếng Việt . Cho trẻ nghe nói
tham gia trò chuyện với cô giáo và các bạn, trò chuyện, giao tiếp với trẻ để
tạo cơ hội cho trẻ được nghe và nói. Tổ chức các hoạt động có sử dụng văn
hoá địa phương như kể chuyện dân gian, đọc thơ/ đồng dao, ca dao, hát dân
ca, hò vè… bằng tiếng Việt.
Tăng cường sử dụng các phương tiện hỗ trợ như băng đĩa và máy/đài, ti
vi .. để trẻ được nghe và phân biệt âm thanh từ các giọng khác nhau, các hình
thức như chơi trò chơi, văn nghệ, sinh hoạt tập thể để trẻ có nhiều cơ hội thể
hiện mình.
Tăng cường các phương tiện, đồ vật xuất hiện chữ như dán tên cho các
góc hoạt động, các kệ, giá để đồ chơi, đồ dùng, học liệu, các đồ vật, đồ chơi,
tranh ảnh, cây cảnh, trên các sản phẩm của trẻ, thẻ tên của trẻ, biểu bảng có
chữ (danh sách trẻ, lịch sinh hoạt…), bảng chữ cái. Tăng cường các hoạt động
cho trẻ được tiếp xúc với chữ như “đọc” sách truyện tranh; “đọc” họa báo, tạp
chí; làm bộ sưu tập chủ đề cùng cô. Tổ chức các hoạt động “viết” như viết tên
trẻ, viết thư, viết thiếp...
5/ Biện pháp thứ năm: Tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu
số:
Tăng cường dự giờ, kiểm tra đôn đốc giáo viên thực hiện đúng chương
trình. Tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi người dân tộc thiểu số. Ban Giám
hiệu Trường cần chỉ đạo tốt các giáo viên phải thực hành thao giảng, dự giờ,
thảo luận, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm vụ năm học, Tăng cường
tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi người dân tộc thiểu số, giáo viên rèn luyện giao tiếp
cho trẻ mọi lúc, mọi nơi. Chúng tôi đưa ra các biện pháp phù hợp với thực tế
của trường, cụ thể như sau:
Chỉ đạo Tổ trưởng chuyên môn cùng với chuyên môn nhà trường xây
dựng kế hoach Tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi người dân tộc thiểu số.
Xây dựng kế hoạch thao giảng, dự giờ, thảo luận nhằm đúc kết và rút kinh
18
Tạo cho trẻ đọc theo cách của mình: Đầu tiên cho trẻ làm quen với chữ
cái qua bảng chữ cái được trang trí ở góc chơi và cho trẻ xem tranh và gợi ý
để trẻ kể lại bằng chính ngôn ngữ của trẻ.
Trẻ sáng tác (hay còn gọi là sáng tạo câu truyện ): Từ một bức tranh trẻ
“đọc” cho cả lớp nghe câu chuyện của mình.
Hằng ngày đọc truyện cho trẻ nghe để trẻ có thể “đọc” lại truyện theo trí
nhớ và bằng ngôn ngữ của mình.
b) Phương pháp cho trẻ làm quen viết :
Trước hết cần dành thời gian để luyện cơ ngón tay cho trẻ thông qua vẽ,
xâu hạt, xỏ dây vào lỗ, …
Đối với trẻ mẫu giáo, viết và vẽ có sự tương đồng về khái niệm, trẻ
thường nói “con vẽ chữ …” mặc dù trẻ rất muốn vẽ chữ một chữ nào đó,
nhưng trên thực tế trẻ có thể không “vẽ” đúng như vậy. Cho trẻ thường xuyên
được “viết” bằng que, phấn trên nền sân. Khuyến khích trẻ “viết” những gì trẻ
thích và sau đó hỏi trẻ là viết (vẽ) cái gì?.. Làm như vậy vừa khuyến khích trẻ
“viết”, vừa khuyến khích trẻ “đọc” lại (thực chất là luyện kỹ năng diễn đạt
suy nghĩ của bản thân).
c/ Phương pháp sử dụng trò chơi:
Trẻ mầm non học qua chơi vì trò chơi luôn mang lại hứng thú cho trẻ
nên việc tổ chức cho trẻ chơi trò chơi để học tiếng Việt là rất cần thiết. Giáo
viên tổ chức các trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò chơi âm nhạc, múa
hát,… Ví dụ khi chơi trò chơi “Chim bay, cò bay” trẻ sẽ học được các từ chỉ
các con vật biết bay và các từ chỉ đồ vật, con vật không thể bay được. Trò
chơi: “Đoán xem cô làm gì?” giáo viên làm động tác và yêu cầu trẻ đoán và
nói đúng hành động mà giáo viên làm như: chải đầu, đánh răng, rửa mặt, rửa
tay, mặc áo, xúc cơm, uống nước…
d/ Phương pháp luyện tập theo mẫu:
20
21
xây dựng góc tuyên truyền những điều cha mẹ cần biết nhằm giúp cho phụ
huynh nắm được một số kiến thức giáo dục, có thói quen về giao tiếp bằng
tiếng việt và nề nếp trong học tập, trong các hoạt động, từ đó chất lượng giáo
dục được tăng lên, trẻ mạnh dạn và sử dụng thành thạo tiếng việt nhằm mục
đích năm vững các kiến thức, kỹ năng, trả lời hồn nhiên, nhanh nhẹn, mạnh
dạn, tự tin.
Xây dưng phiếu điều tra điều tra dành cho phụ huynh. Mục đích điều tra
và kịp thời đưa ra phương pháp giải quyết giũa gia đình và nhà trường, xây
dựng mối quan hệ giữa cô với trẻ, giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Cần
dạy cho trẻ những gì, thường xuyên trao đổi giao tiêp đê trẻ cảm nhận tình
cảm của cô, động viên, khuyên khích trẻ mạnh dạn trong giao tiếp.
“Xây dựng góc tuyên truyền những điều cha mẹ cần biết”
IV/ Kết quả đạt được:
Qua một thời gian thực hiện theo các biện phấp trên tôi thấy trẻ đã tiến
bộ rõ rệt, trẻ giao tiếp bằng tiếng việt, trẻ mạnh dạn tự tin trẻ phát triển được
kỹ năng giao tiếp bàng tiếng việt, biết đưa ra câu hỏi và trả lời qua các lĩnh
vực phát triển trong hoạt động học.
1. Đối với giáo viên
22
- Giáo viên lập kế hoạch giáo dục phù hợp, đúng, đầy đủ nội dung, hình
thức, chuẩn bị tốt trước khi lên lớp. chuẩn bị tốt kỹ năng giao tiếp với trẻ. Xây
dựng kế hoạch dựa theo các chuẩn để quản lý giờ dạy trên lớp, đối chiếu kết
quả với kế hoach đề ra. Có đầy đủ các loại hồ sơ sử dụng có hiệu quả, biết
Yên tâm, tin tưởng gửi con em vào trường, đã hiểu biết về việc môi
trường giao tiếp của trẻ bằng tiếng Việt là rất tốt, họ đẫ hiểu ra việc tăng
cường tiếng việt cho trẻ ở trường mầm non là một việc có hiệu quả cao, kết
hợp cùng với giáo viên trao đổi thông tin tại gia đình.
23
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I/ Kết luận chung:
Để Tăng cường tiếng việt cho trẻ thông qua các hoạt động và kỹ năng
sống thì ngay từ khi còn nhỏ, trẻ phải được tiếp thu, học hỏi, bắt chước kỹ
năng hành động có văn hóa ngay trong môi trường gần gũi với trẻ như: cách
đi đứng , nói năng, tư thế, tác phong… các ứng xử tác động trực tiếp đến nhận
thức tâm hồn trẻ. Vì vậy, môi trường giáo dục Tăng cường tiếng việt cho trẻ
mọi nơi, mọi lúc, cần đúng chuẩn mực yêu cầu xã hội. Khi trẻ giao tiếp ứng
xử chưa đúng từ cô cần được sửa sai ngay và giúp trẻ hiểu được từ sai đó, tự
bản thân trẻ phải hiểu được từ đó và biết được những từ ngữ tiếng việt thân
thiện.
Từ quá trình nhận thức đến hành động là một việc kiên trì. Vì vậy, người
lớn cần tạo cho trẻ môi trường tiếp xúc bằng tiếng việt với nhiều mức độ, cấp
độ khác nhau để trẻ được luyện tập các kỹ năng và trở thành thói quen trong
cuộc sống hằng ngày của trẻ. Luyện tập cho trẻ cần đi từ dễ đến khó, từ yêu
cầu chỉ diễn đạt bằng lời đến yêu cầu bằng hành động cụ thể. Luyện tập từ
tình huống đơn giản đến phức tạp, từ các thao tác luyện nói đến luyện tập kết
hợp nhiều thao tác chuẩn mực, từ tình huống giả định đến tình huống có thật
trong cuộc sống hằng ngày.
II/ Kiến nghị:
Hàng năm các cấp lãnh đạo và các bậc phụ huynh, các nhà hảo tâm cần
có sự đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học cho các trường