VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
……………………….
NGUYỄN THỊ LIỄU
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC,
HOẠT TÍNH SINH HỌC VÀ ĐA DẠNG NGUỒN
GEN DI TRUYỀN CỦA MỘT SỐ LOÀI LÁ KIM
Ở TÂY NGUYÊN, VIỆT NAM
Chuyên ngành: Hóa hữu cơ
Mã số: 62440114
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TSKH. Trần Văn Sung
2. PGS. TS. Đinh Thị Phòng
HÀ NỘI - 2017
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN.................................................................................. 3
1.1. Tổng quan về 3 loài lá kim nghiên cứu .......................................................... 3
1.1.1. Đặc điểm thực vật và tình trạng bảo tồn. ................................................... 3
1.1.2. Tình hình nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của
các loài trong chi Cephalotaxus, Dacrydium và Nageia. ..................................... 9
1.2. Ứng dụng kĩ thuật phân tích ISSR và SSR trong nghiên cứu đa dạng di
truyền ở thực vật ................................................................................................. 27
1.2.1. Kỹ thuật ISSR ( Inter Simple Sequence Repeat )....................................... 27
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................................... 132
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN .................................................. 135
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN
ÁN ...................................................................................................................... 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 137
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
H-NMR
13
C-NMR
DEPT
HMBC
HSQC
COSY
MS
Proton Nuclear
MagneticResonance Spectrocopy
Carbon-13 Nuclear Magnetic
Resonance Spectrocopy
Distortionless Enhancement by
Polarisation Transfer
Heteronuclear MultipleBond
Coherence
Human hepatocellular carcinoma
Human lung carcinoma
MCF-7
SW626
SW480
HL-60
SK-Mel2
P388
HT-29
Human breast carcinoma
Human ovarian adenocarcinoma
Human colon adenocarcinoma
Human promyeloccytic leukemia
Human malignant melanoma
ESI-MS
HR-ESI-MS
NOESY
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân
proton
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân
carbon
Phổ DEPT
Phổ HMBC
Phổ HSQC
Phổ tương tác proton
Phổ khối lượng
Simple Sequence Repeat
TLTK
EtOAc
MeOH
DMSO
Ung thư ruột kết
Công thức phân tử
Số thứ tự
Lặp lại trình tự đơn giản ở giữa
Lặp lại trình tự nucleotide đơn
giản
Tài liệu tham khảo
Ethyl acetat
Methanol
Dimethylsunfoxid
PIC
Polymorphic Information
Content
Hàm lượng thông tin đa hình
DNA
PCR
VU
NT
Độ chuyển dịch hóa học tính
chemical shift in parts per million
bằng phần triệu
Silica gel pha đảo RP-18
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1.
Các loài thực vật thuộc chi Cephalotaxus ............................................. 4
Bảng 1.2.
Các loài thực vật thuộc chi Dacrydium ................................................. 5
Bảng 1.3.
Các kiểu khung carbon của các hợp chất alkaloid được phân lập từ
chi Cephalotaxus ................................................................................ 10
Bảng 1.4.
Các alkaloid khung homoerythrine phân lập từ một số loài thuộc
chi Cephalotaxus ................................................................................ 16
Bảng 1.5.
Bảng giá trị IC50 thử hoạt tính gây độc tế bào đối với 2 dòng tế bào
L1210 và KB của các alkaloid phân lập từ lá của loài C.
harringtonia var. nana [15] [20]. ........................................................ 25
H-NMR và
13
C-NMR của hợp chất DT1 và
Cephalotaxine ..................................................................................... 60
Bảng 3.4.
Dữ liệu phổ 1H-NMR và
13
C-NMR của DT2 và Cephalotaxine--
N-oxide .............................................................................................. 63
Bảng 3.5.
Dữ
liệu
phổ
1
H-NMR
và
13
C-NMR của các chất DT6, DT7 và 3-
epi-schellhammericine. ....................................................................... 77
Bảng 3.9.
Dữ liệu phổ 1H và 13C-NMR của hợp chất DT8 và Harringtonolide ... 79
Bảng 3.10. Dữ liệu phổ 1H và 13C-NMR của HĐ1và Lambertic acid .................... 83
Bảng 3.11. Dữ liệu phổ NMR của HĐ2, Salvinolone [106] và Montbretol .......... 87
Bảng 3.12. Dữ liệu phổ 1H-NMR,
13
CNMR, HMBC, NOESY của HĐ2 đo
trong CDCl3........................................................................................ 88
Bảng 3.13. Dữ liệu phổ 1H và 13C-NMR của HĐ4 và Ponasterone A.................... 92
Bảng 3.14. Dữ liệu phổ
1
H và
13
C-NMR của hợp chất HĐ5 và 20-
Hình 1.3.
Cây Kim giao núi đất (N. wallichiana) ở Lâm Đồng và mẫu tiêu bản ............. 8
Hình 1.4.
Các hợp chất cephalotaxine không có mạch nhánh tại C-3................... 12
Hình 1.5.
Các hợp chất harringtonine phân lập từ chi Cephalotaxus ....................... 14
Hình 1.6.
Các hợp chất alkaloid khung Drupacine phân lập từ chi Cephalotaxus ... 15
Hình 1.7.
Cấu trúc các hợp chất homoerythrina alkaloid ......................................... 16
Hình 1.8.
Các hợp chất flavonoid phân lập từ một số loài thuộc chi
Cephalotaxus ........................................................................................... 19
Hình 1.9.
Các hợp chất diterpenoid và norditerpen phân lập từ một số loài
thuộc chi Cephalotaxus ........................................................................... 21
Sơ đồ phân lập các chất từ dịch chiết EtOAc mẫu thân và cành
Hoàng đàn giả .......................................................................................... 43
Hình 2.6.
Sơ đồ chiết từ mẫu lá và cành Kim giao núi đất....................................... 47
Hình 2.7.
Sơ đồ phân lập các chất từ cao chiết n-hexane lá và cành Kim giao
núi đất ...................................................................................................... 47
Hình 2.8.
Sơ đồ phân lập các chất từ cao chiết MeOH lá và cành Kim giao núi
đất ............................................................................................................ 48
Hình 2.9.
Sơ đồ phân lập các chất từ dịch chiết EtOAc lá và cành Kim giao núi
đất ............................................................................................................ 50
Hình 3.1.
Phổ 1H-NMR của hợp chất DT1 .............................................................. 61
Hình 3.2.
Phổ 13C-NMR và DEPT của hợp chất DT1 ............................................. 61
Hình 3.10.
Phổ 1H-NMR của DT5.1 và DT5.2.......................................................... 73
Hình 3.11.
Phổ 1H-NMR giãn của DT5.1 và DT5.2 .................................................. 74
Hình 3.12.
Phổ 13C-NMR và DEPT của DT5.1 và DT5.2 ......................................... 74
Hình 3.13.
Phổ 1H-NMR giãn của hợp chất DT6 ...................................................... 76
Hình 3.14.
Phổ13C-NMR và DEPT của hợp chất DT6 .............................................. 76
Hình 3.15.
Phổ 1H-NMR giãn của hợp chất DT7 ...................................................... 78
Hình 3.16.
Phổ 1H-NMR giãn của hợp chất DT8 ...................................................... 80
Hình 3.17.
Hình 3.25.
Phổ 1H-NMR của hợp chất HĐ4 ............................................................. 93
Hình 3.26.
Phổ 1H-NMR giãn của hợp chất HĐ4...................................................... 94
Hình 3.27.
Phổ 13C-NMR và phổ DEPT của hợp chất HĐ4 ...................................... 94
Hình 3.28.
Phổ 1H-NMR của hợp chất HĐ5 ............................................................. 96
Hình 3.29.
Phổ 1H-NMR giãn của hợp chất HĐ5...................................................... 96
Hình 3.30.
Phổ 13C-NMR và DEPT của hợp chất HĐ5 ............................................. 97
Hình 3.31.
Phổ 1H-NMR của hợp chất HĐ6 ............................................................. 98
Hình 3.32.
Hình 3.40.
Phổ 13C-NMR và DEPT của hợp chất KG6........................................... 111
Hình 3.41.
Phổ 1H-NMR của KG7 .......................................................................... 112
Hình 3.42.
Phổ 13C-NMR và DEPT của hợp chất KG7........................................... 113
Hình 3.43.
Phổ 1H-NMR giãn vùng trường cao của KG8 ....................................... 114
Hình 3.44.
Phổ 1H-NMR giãn vùng trường thấp của KG8 ...................................... 114
Hình 3.45.
Phổ 13C-NMR và DEPT của hợp chất KG8........................................... 115
Hình 3.46.
Biểu đồ hình cây tính theo phương pháp của Jacccard và kiểu phân
nhóm UPGMA thể hiện mối quan hệ di truyền của 34 mẫu Đỉnh tùng
phân tích với chỉ thị ISSR và SSR (Ghi chú: a: mẫu ở Hiệp An, b:
(David et al., 2000) hay hợp chất homoharringtonine được phân lập từ nhiều loài
trong chi Cephalotaxus được phát triển thành thuốc omacetaxine mepesuccinate sử
dụng trong điều trị bệnh bạch cầu mãn tính.
Khí hậu Việt Nam phân hóa đa dạng theo địa hình, có 4 miền là khí hậu miền
Bắc, miền Nam, khí hậu Đông Trường Sơn và khí hậu biển Đông. Đặc điểm địa hình
và thời tiết đó đã tạo ra một thảm thực vật vô cùng đa dạng phong phú. Các loài cây
lá kim là những loài cây quan trọng cả về sinh thái, kinh tế và văn hóa tại nhiều địa
phương như Lâm Đồng, KomTum, Gia Lai, … Các loài lá kim không chỉ giữ vai trò
quan trọng trong các hệ sinh thái rừng trên các vùng núi cao mà còn là nguồn nguyên
liệu chính trong nhiều ngành công nghiệp (công nghiệp sơn, xây dựng, công nghiệp
chất béo, hóa mỹ phẩm, dược phẩm…), đặc biệt một số loài còn được dùng trong các
bài thuốc dân tộc. Theo số liệu thống kê của Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự (2005),
trong số 34 loài lá kim ở Việt Nam có tới 15 loài ở Tây Nguyên (chiếm 44,11%). Vì
thế mà Tây Nguyên được coi là “cái nôi” của loài lá kim có tính đa dạng vào hàng
thứ hai của Việt Nam, đặc biệt là tại Đắk Lắk, Kon Tum và Lâm Đồng.
Đỉnh tùng (Cephalotaxus mannii), Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum) và Kim
giao núi đất (Nageia wallichiana) là những loài cây lá kim có giá trị kinh tế của khu
vực Tây Nguyên, Việt Nam. Tuy nhiên, cho tới nay loài Kim giao núi đất vẫn chưa
1
được nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học cả trong và ngoài nước,
trong khi Đỉnh tùng mới chỉ được nghiên cứu hạn chế tại một số nước như Trung
Quốc, Nhật Bản và chưa được nghiên cứu tại Việt Nam, Hoàng đàn giả mới chỉ có
nghiên cứu thành phần hóa học qua tinh của dầu lá.Vì vậy việc nghiên cứu thành
phần hóa học và hoạt tính sinh học của ba loài lá kim trên có nhiều triển vọng tìm ra
chất có cấu trúc mới và có hoạt tính sinh học lý thú làm tiền đề cho việc nghiên cứu,
phát triển thuốc chữa bệnh góp phần nâng cao giá trị nguồn tài nguyên sẵn có ở vùng
Tây Nguyên. Kết hợp với kết quả nghiên cứu về đa dạng nguồn gen di truyền tạo cơ
1.1.1. Đặc điểm thực vật và tình trạng bảo tồn.
Các loài lá kim thuộc lớp Thông (Pinopsida), trong ngành Thông
(Pinophyta). Trên thế giới cho đến nay đã thống kê được khoảng 630 loài thuộc 68
chi và 8 họ [1]. Chúng rất đa dạng về hình thái, kích thước và các đặc tính sinh thái
(cây thân bò, bụi nhỏ, cây gỗ nhỏ hoặc cây gỗ lớn hay rất lớn). Điển hình loài gỗ
khổng lồ như Cụ Tùng (Sequoia gigantea) ở vùng núi Sierra Nevada (Hoa Kỳ) có
chiều cao tới 142 m với tuổi thọ đạt 3000 - 4000 năm, hay loài Ngân Hạnh (Ginkgo
biloba) ở Sơn Đông, Trung Quốc cao tới 25 m với chu vi thân đạt tới 16 m. Nhưng
trong đó cũng có loài lại được trồng làm cây cảnh như Thanh tùng (Juniprus
chinensis), Tùng xà (Juniperus squamata), Thông la hán (Podocarpus chinensis),…
ở Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam [2].
Tại Việt Nam, đã phát hiện và xác định được khoảng 34 loài thuộc 5 họ
trong lớp Thông (Pinopsida). Trong số đó 15 loài được tìm thấy ở khu vực Tây
Nguyên (gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lăk, Đắc Nông và Lâm Đồng) đó là:
Đỉnh tùng (Cephalotaxus mannii), Pơ mu, Bách xanh núi đất, Thông nước, Du sam
núi đất, Thông đà lạt, Thông ba lá, Thông hai lá, Thông lá dẹt, Thông lông gà,
Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Kim giao núi đất (Nageia wallichiana), Thông
tre lá dài, Dẻ tùng nam và Thông đỏ nam. Các loài này đều có giá trị kinh tế và ứng
dụng trong y học [3] [4].
1.1.1.1. Đỉnh tùng (Cephalotaxus mannii)
Đỉnh tùng: Tên khoa học Cephalotaxus mannii Hook.f (Taxaceae)
Năm 1995 tác giả K. E. Tripp đã xác định chi Cephalotaxus có mười loài [5].
Đến năm 1999 các tác giả L. Fu, N. Li và R. R. Mill đã xác định thêm một loài là C.
latifolia Cheng and Fu [6]. Như vậy hiện nay trên thế giới chi Cephalotaxus được
công nhận gồm 11 loài. Ở Việt Nam có 2 loài là C. mannii và C. oliveri [7].
3
Bảng 1.1. Các loài thực vật thuộc chi Cephalotaxus
Mô tả hình thái: Cây gỗ nhỏ, thường xanh, cây trưởng thành có thể cao từ
10 - 15 m. Thân tròn, vỏ trơn nhẵn (vỏ non có màu đỏ, vỏ già bong thành mảng màu
trắng). Cành mảnh, mọc đối và xòe ngang. Lá mọc xoắn ốc, xếp thành 2 dãy, hình
dải, dài 2 - 4cm, rộng 0,2 - 0,4cm, thẳng hay hơi cong ở gần đầu, ở mặt dưới có 2
dải lỗ khí màu trắng. Mùa ra nón tháng 3 - 5, mùa quả chín tháng 8 - 10 năm sau.
Đỉnh tùng tái sinh bằng hạt tốt, mọc rải rác trên các sườn và đỉnh núi đất và núi đá
vôi với đội cao từ 600 - 1400 m [7].
Phân bố: Trên thế giới Đỉnh tùng phân bố ở khu vực Nam và Đông Nam Á
bao gồm: Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Bắc Myanmar, Bắc Thái
Lan. Tại Việt Nam loài này được ghi nhận có ở Lào Cai, Hà Giang, Sơn La, Cao
Bằng, Hòa Bình, Hà Nội (Ba Vì), Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Kon Tum, Gia Lai,
Lâm Đồng và Thanh Hóa [7].
Hình 1.1. Cây Đỉnh tùng (C. mannii) Tà Nung, Lâm Đồng và mẫu tiêu bản
(nguồn Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam)
4
Công dụng: Gỗ Đỉnh tùng có chất lượng cao, chịu mối mọt, được sử dụng
làm đồ gỗ cao cấp, đồ mỹ nghệ và cán công cụ. Vỏ cây được dùng chữa sốt tại đảo
Hải Nam, Trung Quốc. Nó còn được sử dụng làm cây cảnh do các cây có hình dáng
đẹp và độc đáo [7].
Đánh giá tình trạng bảo tồn: Trong sách Đỏ Việt Nam (2007) [8], loài Đỉnh
tùng được đánh giá là sẽ nguy cấp VU A1,c,d, B1+2b,c. Trong danh lục đỏ của
IUCN năm 2012, loài này được xếp VU A1d ở phạm vi toàn cầu. Căn cứ vào các
dẫn liệu thu thập được qua khảo sát, nghiên cứu ở các điểm còn rừng nguyên sinh ở
hầu khắp nước ta trong nhiều năm qua và đối chiếu với tiêu chuẩn của các thứ hạng
trong Danh lục đỏ của IUCN nhận thấy loài Đỉnh tùng đáp ứng được các tiêu chuẩn
VU A4a,c,d, B1,2a,b, C (sự suy giảm quần thể trong quá khứ, hiện tại và dự đoán
D. ericoides
D. gibbsiae
D. gracile
D. guillauminii
STT
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
5
Tên khoa học
D. leptophyllum
D. lycopodioides
D. magnum
D. medium
D. nausoriense
D.nidulum
D. novoguineense
D. pectinatum
D. spathoides
D. xanthandrum
những cây khác để chữa kiết lị [9].
Đánh giá tình trạng bảo tồn: Căn cứ vào các dẫn liệu thu thập được qua
khảo sát, nghiên cứu ở các điểm còn rừng nguyên sinh ở hầu khắp nước ta trong
nhiều năm qua và đối chiếu với tiêu chuẩn của các thứ hạng theo danh lục đỏ của
IUCN thấy loài đáp ứng được các tiêu chuẩn sẽ nguy cấp: VU A4a,c,d, B2b(ii, iii,
v), C (sự suy giảm quần thể trong quá khứ, hiện tại và dự đoán tương lai nhiều nhất
tiểu quần thể và số lượng cá thể trưởng thành nên quần thể Kim giao núi đất này được
xếp ở thứ hạng sắp bị đe dọa (NT) [3] [4], thứ hạng gần đạt được là sẽ nguy cấp: VU
B2ab (iii,v) [8].
1.1.2. Tình hình nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các
loài trong chi Cephalotaxus, Dacrydium và Nageia.
1.1.2.1. Thành phần hóa học
Các loài lá kim nhìn chung đều là nguồn nguyên liệu chứa các hợp chất tự
nhiên có hoạt tính sinh học cao được ứng dụng trong công nghiệp dược, công nghệ
hóa mỹ phẩm… Tuy nhiên, đến nay có nhiều loài lá kim vẫn chưa được nghiên cứu
nhiều về thành phần hóa học. Qua tổng quan tài liệu chúng tôi nhận thấy trong 3 chi
Cephalotaxus, Dacrydium và Nageia, chỉ có các loài thuộc chi Cephalotaxus đã
được nghiên cứu nhiều về thành phần hóa học, trong khi chi Dacrydium mới chỉ có
các phân tích sơ bộ về thành phần hóa học tinh dầu của lá bằng phương pháp sắc ký
khí (GC/MS). Số lượng các nghiên cứu về thành phần hóa học của các loài trong chi
còn rất hạn chế. Đặc biệt chi Nageia cho đến nay chưa có nghiên cứu cả trong và
ngoài nước về thành phần hóa học của tất cả các loài.
Thành phần hóa học của các loài trong chi Cephlotaxus đã được quan tâm
nghiên cứu sớm, từ những năm 60 của thế kỉ 20 gồm các loài như C. harringtonia, C.
fortunei, C. hainanensis, C. wilsoniana, C. sinensis, C. oliveri [11]. Trong đó loài
Đỉnh tùng (C. mannii) cũng đã được nghiên cứu song chưa nhiều. Các kết quả nghiên
cứu cho thấy lớp chất chính trong các loài thuộc chi Cephalotaxus là các alkaloid.
Đến nay có hơn 100 hợp chất alkaloid đã được phân lập và xác định cấu trúc. Ngoài
ra còn có các lớp chất khác như: flavonoid, diterpenoid, ligan, tropone… song không
nhiều [11].
9
Các alkaloid được tìm thấy trong trong chi Cephalotaxus chủ yếu là các hợp
chất có cấu trúc khung carbon kiểu Cephalotaxine, ngoài ra một số ít hợp chất
nhằm phát hiện ra thuốc trừ sâu mới, các nhà nghiên cứu đã cô lập được 5 hợp chất
alkaloid
đó
là
cephalotaxine
(1);
11-hydroxycephalotaxine
(2);
4-
hydroxycephalotaxine (3); isocephalotaxine (4) và cephalancetin (5) [14]. Ba
alkaloid mới là cephalezomin G (8), H (9), J (7) và demethylcephalotaxinone (6), đã
được phân lập từ lá của loài C. harringtonia
var. nana [15]. Các hợp chất
epicephalotaxine (10), demethylcephalotaxine (11) và cephalotaxinone (12) được
phân lập từ loài C. fotunei [16]. Năm 2016 trong một báo cáo các nhà nghiên cứu
Trung Quốc đã phân lập được từ cành và lá của 2 loài C. lanceolata và C. fortune
var. alpine các hợp chất cephalotine C (16), isocephalotaxinone (14) và
demethylcephalotaxine (15) [11]. Các hợp chất cephalotaxine N- oxide (16-18) đã
được Jossang và cộng sự xác định năm 2003 từ hạt của loài C. fortune là
cephalotaxine-α-N-oxide
O
O
H
HO
HO
OCH3
21
20
O
HO
H
H3CO
O
O
O
H
HO
H3CO
N
OCH3
N
O
23
22
Hình 1.4. Các hợp chất cephalotaxine không có mạch nhánh tại C-3
Harringtonine là sản phẩm ester hóa của cephalotaxine tại vị trí C-3 với các
acid khác nhau. Các phân tử acid thường phân nhánh tại vị trí C-2’, hơn kém nhau
một vài nhóm methylen -CH2- , có thể khác nhau các nhóm thế tại C-3’và C-4’ hoặc
khác nhau về cấu hình R, S tại vị trí C-3’. Đại diện cho cấu trúc này là các hợp chất
12
(24-51, hình 1.5). Năm 1996 trong một công bố kết quả nghiên cứu về thành phần
hóa học của loài C. harringtonia var. drupecea các nhà khoa học Nhật Bản đã phân
lập được 8 alkaloid trong đó có 4 hợp chất là harringtonine (24), isoharringtonine
(25), deoxyharringtonine (26), homoharringtonine (30) tại vị trí C-4’ nhóm
carboxylic đã bị ester hóa và bốn hợp chất có chứa nhóm carboxylic (COOH) dạng
tự do tại vị trí C-4’ là 5’-des-O-methylharringtonine (27), 3’S-hiđroxy-5’-des-Omethylharringtonine
(28),
5’-des-O-methylisoharringtonine
(29),
13
43. n=2, α-OH
44. n=2, β-OH
45. n=1, β-OH
Hình 1.5. Các hợp chất harringtonine phân lập từ chi Cephalotaxus
14
Các hợp chất alkaloid drupacine cũng có cấu trúc khung carbon của
cephalotaxine thêm một cầu nối oxi giữa C-11 với C-2 hoặc C-3 đại diện cho các hợp
chất này là các alkaloid (52-58, hình 1.6). Các hợp chất drupacine không có mạch
nhánh (52- 55) gồm drupacine (52) được phân lập từ loài C.sinensis [14] và C.
harringtonia var. nana [20]; 2 hợp chất là cephalotine A (53), cephalotine B (54) được
phân lập từ các loài C. lanceolata và C. fortune var. alpina [11] ; cephalancetine B
(55) phân lập từ loài C. lanceolata [18]. Các hợp chất ester có mạch nhánh tại C-3 lần
lượt là drupangtonine và cephalezomines A, B (56-58) phân lập từ C. drupacea [23]
và C. harringtonia var. nana [20]. Các hợp chất này chiếm một lượng nhỏ trong các
hợp chất alkaloid được phân lập từ các loài thuộc chi Cephalotaxus.
53. α-OH
54. β-OH
Hình 1.6. Các hợp chất alkaloid khung Drupacine phân lập từ chi Cephalotaxus
Các hợp chất Homoerythrina alkaloid lần đầu tiên được báo cáo từ chi
Cephalotaxus vào năm 1972 bởi Powell [12]. Tuy nhiên kể từ đó đến nay số lượng
các hợp chất này tăng lên không nhiều. Chúng chiếm thành phần nhỏ trong các dịch