Khảo sát kiến thức thực hành vệ sinh an toàn thực phẩm của người dân tại thành phố hà giang, tỉnh hà giang năm 2017 - Pdf 47

BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI

PHAN THỊ NGA

KHẢO SÁT KIẾN THỨC-THỰC HÀNH VỆ SINH
AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA NGƯỜI DÂN
TẠI THÀNH PHỐ HÀ GIANG,
TỈNH HÀ GIANG NĂM 2017

LUẬN VĂN DƢỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

HÀ NỘI - 2017


BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI

PHAN THỊ NGA

KHẢO SÁT KIẾN THỨC-THỰC HÀNH VỆ SINH
AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA NGƢỜI DÂN
TẠI THÀNH PHỐ HÀ GIANG,
TỈNH HÀ GIANG NĂM 2017

LUẬN VĂN DƢỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: Tổ chức quản lý dược
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Hƣơng
Thời gian thực hiện: Từ 5-9/2017

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ

1

Chƣơng 1: TỔNG QUAN

3

1.1. Khái niệm về thực phẩm, an toàn thực phẩm, bệnh truyền qua thực

3

phẩm, người nội trợ
1.2. Mười nguyên tắc vàng chế biến, bảo quản thực phẩm: (Theo WHO)
và chìa khóa vàng để có thực phẩm an toàn

..
5
..

1.3. Tình hình vệ sinh ATTP

8

1.4. Thực trạng kiến thức, thực hành của NNT trong ATTP tại một số


2.2.2. Biến số nghiên cứu

19

2.2.3. Phương pháp chọn mẫu

21

2.2.4. Phương pháp thu thập số liệu

22

2.2.5. Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức và thực hành của người nội trợ

23

2.2.6. Xử lý và phân tích số liệu
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

27

3.1. Mô tả kiến thức về an toàn thực phẩm của người dân (người nội trợ)

28
.


trong lựa chọn, chế biến thực phẩm tại thành phố Hà Giang, tỉnh Hà


43

thành phố Hà Giang
Chƣơng 4: BÀN LUẬN
4.1. Thông tin chung, điều kiện kinh tế, thời điểm mua và thời gian mua

45
45

thực phẩm của người nội trợ
4.2. Kiến thức của người nội trợ trong lựa chọn, chế biến thực phẩm

46

4.2.1. Kiến thức của người nội trợ trong lựa chọn, chế biến thực phẩm

46

4.2.2. Kiến thức chung về ATTP của người nội trợ

51

4.3. Thực hành của người nội trợ trong lựa chọn, chế biến thực phẩm

54

4.3.1. Thực hành của người nội trợ trong lựa chọn, chế biến thực phẩm

54



Đối tượng nghiên cứu

NNT

Người nội trợ

NĐTP

Ngộ độc thực phẩm

THPT (TC, CĐ, ĐH, SĐH) Trung học phổ thông ( trung cấp, cao đẳng, đại
học, sau đại học)
CDC

Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ

FAO

Tổ chức Nông lương Thế giới

WHO

Tổ chức Y tế Thế giới


DANH MỤC CÁC BẢNG
TT

Tên bảng


Đặc điểm về tuổi, giới tính và dân tộc

28

3.6

Trình độ học vấn, nghề nghiệp và thời gian làm nội trợ

29

3.7

Đặc điểm về thời điểm và thời gian mua thực phẩm

30

3.8

Kiến thức lựa chọn thịt (thịt lợn) tươi bằng mắt thường

30

3.9

Kiến thức lựa chọn cá tươi bằng mắt thường

31

3.10 Kiến thức lựa chọn rau tươi bằng mắt thường

3.17 Nhóm thông tin cần tăng cường tuyên truyền

37

3.18 Kênh nhận thông tin về ATTP được yêu thích

38

3.19

Thực hành về quan sát những thông tin ghi trên nhãn thực
phẩm bao gói sẵn

38

3.20 Thực hành về cách rửa tay trước khi chế biến thực phẩm

41

3.21 Đánh giá thực hành chung về ATTP của người nội trợ

42

3.22

Bảng kiểm về điều kiện vệ sinh nơi chế biến thức ăn tại hộ
gia đình

43



40

3.5

Thực hành về cách dùng thớt trong chế biến thực phẩm

41


ĐẶT VẤN ĐỀ
Thực phẩm là nhu cầu cần thiết cho sự sống con người, để giúp cho cơ
thể con người khỏe mạnh và phát triển. An toàn thực phẩm không chỉ ảnh
hưởng trực tiếp, thường xuyên đến sức khỏe mà còn liên quan chặt chẽ đến
năng xuất, hiệu quả phát triển kinh tế thương mại, du lịch và an sinh xã hội.
Ngộ độc thực phẩm và các bệnh lây truyền qua thực phẩm gây ra không chỉ
ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và cuộc sống của con người, mà còn gây
thiệt hại lớn về kinh tế, là gánh nặng lớn cho chi phí chăm sóc sức khỏe và
giảm đáng kể sức lao động [15]. Thực trạng an toàn thực phẩm đang ở mức
báo động. Theo báo cáo của Bộ Y tế tại buổi làm việc, hậu quả của việc
không bảo đảm an toàn thực phẩm có thể dẫn đến ngộ độc thực phẩm, ảnh
hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng, ảnh hưởng tới phát triển kinh tế và an
sinh xã hội. Kết quả giám sát liên tục từ năm 2011 đến tháng 10/2016 cho
thấy, ngộ độc thực phẩm vẫn đang là thách thức lớn trong công tác phòng
chống ngộ độc thực phẩm, đảm bảo an sinh và an toàn xã hội. Toàn quốc đã
ghi nhận 1.007 vụ với 30.395 người mắc, 25.617 người đi viện và 164 người
chết. Trung bình mỗi năm có 167,8 vụ với 5.065,8 người mắc và 27,3 người
chết do ngộ độc thực phẩm. Trong giai đoạn 2011 - 2016 nguyên nhân gây
ngộ độc thực phẩm chủ yếu do vi sinh vật (chiếm 40,2%), nguyên nhân do
độc tố tự nhiên chiếm 27,9%, do hoá chất chiếm 4,3% và còn 268 vụ không


Chƣơng 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái niệm về thực phẩm, an toàn thực phẩm, bệnh truyền qua thực
phẩm, ngƣời nội trợ
1.1.1. Thực phẩm:
Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dưới dạng tươi sống
hoặc đã qua sơ chế, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá
và các chất sở dụng như dược phẩm. Những thành phần chính của thực phẩm
mà con người mong muốn thu nhận được chủ yếu bao gồm 6 nhóm chất cơ
bản: Đạm, đường, mỡ, các vitamin, muối khoáng và nước [24].
1.1.2. An toàn thực phẩm:
An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến
sức khỏe, tình trạng con người [24]. Thực phẩm không an toàn là mối đe
dọa cho sức khỏe toàn cầu, gây nguy hiểm cho tất cả mọi người. Trẻ sơ
sinh, trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai, người già là những đối tượng bị ảnh hưởng
nhiều nhất.
1.1.3. Ngộ độc thực phẩm:
Ngộ độc thực phẩm là tình trạng bệnh lý do hấp thụ thực phẩm bị ô
nhiễm hoặc có chứa chất độc [24].
Có 2 loại ngộ độc thực phẩm: Ngộ độc thực phẩm cấp tính và ngộ độc
thực phẩm mãn tính
Ngộ độc thực phẩm cấp tính: Là hội chứng bệnh lý cấp tinh do ăn uống
phải thực phẩm có chất độc, biểu hiện bằng những triệu chứng dạ dày, ruột
(buồn nôn, nôn, đau bụng, ỉa chảy…) và những triệu chứng khác tùy theo
mức độ tác nhân gây ra ngộ độc với những biểu hiện đặc trưng của từng loại
ngộ độc (tê liệt thần kinh, co giật, rối loạn hô hấp, rối loạn tuần hoàn, rối loạn
vận động…). Tác nhân gây ngộ độc thực phẩm có thể là chất độc hóa học

3


4


1.1.6. Chế biến thực phẩm:
Chế biến thực phẩm là quá trình xử lý thực phẩm đã qua sơ chế hoặc
thực phẩm tươi sống theo phương pháp công nghiệp hoặc thủ công để tạo
thành nguyên liệu thực phẩm hoặc sản phẩm thực phẩm [24].
1.1.7. Người nội trợ:
Người nội trợ là người lo liệu mọi việc ăn uống hàng ngày trong gia
đình như đi chợ mua thực phẩm và về chế biến thức ăn cho gia đình.
1.2.

Mƣời nguyên tắc vàng chế biến, bảo quản thực phẩm: (Theo
WHO) và 5 chìa khóa vàng để có thực phẩm an toàn

Nguyên tắc 1: Chọn thực phẩm tươi an toàn.
Rau, quả ăn sống phải được ngâm và rửa kỹ bằng nước sạch. Quả nên gọt vỏ
trước khi ăn. Thực phẩm đông lạnh để tan đá, rồi làm đông đá lại là kém an
toàn.
Nguyên tắc 2: Nấu chín kĩ trước khi ăn.
Nấu chín kĩ hoàn toàn thức ăn, bảo đảm nhiệt độ trung tâm thực phẩm phải
đạt tới 70oC.
Nguyên tắc 3: Ăn ngay sau khi nấu.
Hãy ăn ngay sau khi vừa nấu xong, vì thức ăn càng để lâu càng nguy hiểm.
Nguyên tắc 4:Bảo quản cẩn thận các thức ăn đã nấu chín.
Muốn giữ thức ăn quá 5 tiếng đồng hồ, cần phải giữ liên tục nóng trên
60oc hoặc lạnh dưới 10oC. Thức ăn cho trẻ nhỏ không nên dùng lại.
Nguyên tắc 5: Nấu lại thức ăn thật kĩ.
Các thức ăn chín dùng lại sau 5 tiếng, nhất thiết phải được đun kĩ lại.

- Lau sạch mặt bàn, rửa sạch nồi niêu bát đĩa và các dụng cụ chế biến
thức ăn bằng nước sạch.
- Không để côn trùng (ruồi, kiến, gián) và chuột vào nơi để và nấu
nướng thực phẩm.
-Bếp, nơi nấu nướng xa khu vệ sinh.
- Không ăn các rau sống và quả mà không gọt vỏ.

6


Chìa khóa 2: Để riêng thực phẩm sống và đã nấu chín (đề phòng sự lây lan
vi sinh vật)
- Để ngăn cách các thực phẩm sống và đã nấu.
- Ngăn cách súc vật sẽ giết thịt với nơi nấu ăn.
- Rửa nồi niêu đựng thực phẩm sống vài lần trước khi sử dụng.
- Bảo đảm nước dùng để nấu thức ăn là nước sạch.
- Gọt hoa quả trước khi ăn.
Chìa khóa 3: Nấu nướng thật kỹ (giết chết các vi sinh vật nguy hiểm)
- Nấu thật kỹ nhất là thịt, cá, trứng và hải sản.
- Nếu thức ăn đã để lâu trước khi ăn phải nấu lại.
Chìa khóa 4: Giữ thực phẩm ở nhiệt độ an toàn (để ngăn ngừa sự phát triển
vi sinh vật)
- Nấu chín nên ăn ngay. Không để thức ăn đã nấu chín quá 2 giờ ở
nhiệt độ thường.
- Hâm nóng thức ăn để lâu lên 60 độ trước khi ăn.
- Những thức ăn đã nấu chín và dễ hỏng nếu để lâu mà không bảo quản
trong tủ lạnh (dưới 5 độ) phải bỏ không tiếc.
Chìa khóa 5: Dùng nước và thực phẩm ban đầu sạch an toàn
- Dùng nước sạch hoặc làm sạch trước khi dùng (đun sôi hoặc xử lý
bằng viên tẩy thường gọi là viên clo).

ăn. Tháng 01 năm 2000 tại Pháp xảy ra vụ ngộ độc thịt hộp do Listeria ở 19
tỉnh làm 14700 người mắc do sữa tươi đóng hộp loại béo của hãng Snow xảy
ra tại nhiều nước ở châu Âu [17]. Một nghiên cứu ở thành phố Calcuta- Ấn
Độ, cho thấy 55% các mẫu thực phẩm được kiểm tra có E.Coli, 47 mẫu nước
sinh hoạt đã phát hiện nhiễm Coliforms và Fecal coliforms [17],[8]. Năm
2013, Europol bắt đầu điều tra vụ việc liên quan những chiếc bánh mỳ kẹp
thịt đông lạnh được cung cấp cho các siêu thị ở Anh bị phát hiện có chứa

8


ADN ngựa [37]. Ngày 10/8/2017, vụ bê bối trứng "bẩn" bắt nguồn từ Hà Lan
tiếp tục lan rộng tại châu Âu khi các nước Đan Mạch, Romania và Slovakia
đều thông báo phát hiện số lượng lớn trứng nghi ngờ nhiễm thuốc trừ sâu độc
hại fiprolin [33].
1.3.2. Tình hình ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm tại Việt
Nam.
Tình hình ngộ độc thực phẩm ở Việt Nam hiện nay: Ngộ độc thực
phẩm (NĐTP) là một loại bệnh thường gặp ở cộng đồng, có thể mắc hàng loạt
hoặc chỉ gặp lẻ tẻ. NĐTP do 2 nguyên nhân chính: ngộ độc do thực phẩm bị
nhiễm hóa chất và NĐTP do nhiễm vi sinh vật hoặc do độc tố vi sinh vật.
Bệnh thường xảy ra do thiếu sót trong vệ sinh thực phẩm, các nguyên liệu
dùng trong chế biến thực phẩm, do sơ suất trong vệ sinh và kỹ thuật nấu
nướng, vệ sinh dịch vụ ăn uống và kiểm tra chất lượng thành phẩm... Như
chúng ta đã biết xu hướng sử dụng các loại thực phẩm chế biến sẵn của thị
trường đang gia tăng. Có lẽ chính vì thế mà vấn đề ngộ độc thực phẩm đang
trở thành một trong những vấn đề bức xúc nhất của toàn xã hội. Chúng ta
không khỏi giật mình khi mà tổ chức y tế thế giới WHO đã đưa ra số liệu
thống kê mỗi năm Việt Nam có khoảng 8 triệu người - chiếm khoảng 1/10
tổng dân số bị ngộ độc thực phẩm hoặc ngộ độc do liên quan đến thực phẩm.

có 01 người tử vong [35] .
Ngày 27/9/2015 đã xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tại gia đình bà Trần
Thị Cường, địa chỉ tại Đội 5, thôn Nhân Lý, xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh
Ninh Bình, làm 10 người mắc trong đó có 7 người phải nhập viện điều trị do
ăn thịt vịt quay [11].
Ngày 15/11/2016, Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Nông đã tiếp nhận và
cấp cứu 02 cháu bé nghi bị ngộ độc thực phẩm địa chỉ tại thôn 2, xã Đức An,
huyện Đắk Song, Đắk Nông (khi đến nơi 01 cháu đã tử vong) [36].
Bộ Y tế ghi nhận trong 3 tháng đầu năm 2017 có 10 người tử vong do
ngộ độc rượu methanol, tăng vọt so vài năm qua và chưa tính các ca ngộ độc

10


lẻ tẻ.Thống kê của Cục An toàn Thực phẩm, 3 tháng đầu năm cả nước ghi
nhận 3 vụ ngộ độc do rượu methanol, với 78 người gặp nạn và 10 người tử
vong. Riêng vụ ngộ độc rượu tập thể tại Lai Châu vào tháng 2 đã có đến 10
người thiệt mạng, 68 người bị ngộ độc. Trong khi đó năm 2016 không ghi
nhận ca ngộ độc methanol nào. Năm 2015 có 2 vụ ngộ độc rượu methanol, 5
người gặp nạn và một tử vong. Hầu hết các loại rượu nạn nhân uống đều
không rõ nguồn gốc, kinh doanh nhỏ lẻ, bán rong…Trung tâm Chống độc
Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) từ đầu năm đến nay đã tiếp nhận 33 bệnh nhân
cấp cứu vì ngộ độc rượu Methanol, trong đó 9 người tử vong. Ngày nào
Trung tâm cũng có ít nhất 2-3 bệnh nhân ngộ độc rượu nhập viện; có đợt cùng
lúc 7 sinh viên. Nhiều trường hợp may mắn thoát chết thì cũng để lại di chứng
nặng nề [39].
Bệnh truyền qua thực phẩm là nguy cơ lớn đối với sức khỏe con người
và giống nòi do sử dụng lâu dài thực phẩm không đảm bảo vệ sinh ATTP.
Hiện nay, Bộ y tế đã xác định được tỷ lệ ca bệnh truyền qua thực phẩm trên
100 nghìn dân là 7-22ca/100 nghìn dân. Cơ cấu bệnh truyền qua thực phẩm

không xem nhãn mác của thực phẩm đóng hộp, đóng gói sẵn trước khi mua
và 69,4% số người nội trợ dùng chung 1 thớt sau khi rửa thớt trong chế biến
thực phẩm [31]. Theo nghiên cứu KAP vệ sinh an toàn trong lựa chọn, chế
biến thực phẩm quận Cầu Giấy, Hà Nội năm 2006 của Khuất Văn Sơn cho
thấy: trong tổng số 306 hộ gia đình thì có 37,5% người nội trợ không đạt yêu
cầu về kiến thức chung,; 43,6% không đạt yêu cầu về thực hành chung trong
việc lựa chọn chế biến thực phẩm. Về kiến thức có 83,4% người nội trợ khi
mua thịt thì nhìn thịt màu đỏ tươi, sáng; có 42,0% người nội trợ không biết
điều kiện nơi chế biến thức ăn chín hợp vệ sinh. Về thực hành có 4,6% người
nội trợ không xem nhãn mác trước khi mua thực phẩm đóng hộp, đóng gói; có
tới 39,7% người nội trợ không thực hiện rửa tay trước khi chế biến thực phẩm
[27]. Theo nghiên cứu của Tô Văn Lành về kiến thức thực hành của người nội
trợ về vệ sinh an toàn thực phẩm huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau năm 2010 cho
thấy: trong tổng só 270 người nộ trợ có 18,52% không đạt yêu cầu về kiến
thức chung; 37,78%không đạt về thực hành chung trong lựa chọn, chế biến
thực phẩm. Về kiến thức có 74,8^% người nội trợ có nhận thức đúng về cách
lựa chọn thực phẩm tươi sống hợp vệ sinh, có 74.4% người nội trợ có nhận

12


thức đúng về nơi bán thức ăn chính hợp vệ sinh. Về thực hành có 37,0%
người nội trợ quan sát kĩ các thông tin trên nhãn mác thực phẩm bao gói sẵn
trước khi mua, có 72,6% người nội trợ sửa dụng riêng dao, thớt dùng cho chế
biến thực phẩm sống và chín [22] . Theo kết quả nghiên cứu Hồ Văn Sơn,
Phạm Văn Lực về kiến thức và một số yếu tố liên quan đến kiến thức về vệ
sinh an toàn thực phẩm của người nội trợ chính ở xã Tân Thạnh, huyện Tân
Phú Đông, tỉnh Tiền Giang năm 2011 cho thấy: Trong tổng số 382 người nội
trợ thì chỉ có 67,02% không đạt yêu cầu về kiến thức chung trong lựa chọn,
chế biến thực phẩm; có 30,07% người nội trợ không biết cách lựa chọn trứng

đây là vấn đề hết sức quan trọng trong việc đảm bảo an toàn thực phẩm, nâng
cao kiến thức, thực hành của người nội trợ. Đảm bảo an toàn thực phẩm sẽ
hạn chế đến mức thấp nhất các vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra hay các bệnh lây
truyền qua đường thực phẩm tại hộ gia đình nhằm góp phần nâng cao công
tác chăm sóc sức khỏe của người dân.
1.5. Giới thiệu về thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang
1.5.1. Vị trí địa lý:
Thành phố Hà Giang là thành phố trực thuộc tỉnh Hà Giang được thành
lập ngày 27/9/2010 gồm 5 phường (Phường Minh Khai, phường Nguyễn Trãi,
phường Ngọc Hà, phường Quang Trung, Phường Trần Phú), 03 xã (xã
Phương Thiện, Xã Phương Độ, Xã Ngọc Đường). Về vị trí địa lý thành phố
Hà Giang nằm giữa 2 dãy núi Cấm và núi Mỏ Neo, cách Hà Nội 318km về
phía Bắc theo quốc lộ 2. Phía Đông thành phố Hà Giang giáp huyện Bắc Mê;
ba mặt Tây, Nam, Bắc đều giáp huyện Vị Xuyên. Là vùng đồi núi thấp, thung
lũng sông Lô càng xuống phía Nam càng được mở rộng. Độ cao trung bình từ
50 – 100m. Địa hình chủ yếu là các dạng đồi thấp, rừng già xen kẽ các cánh
đồng lúa, soi bãi chạy dọc đôi bờ sông, suối. Đây là vùng đất đai phì nhiêu
thích ứng với nhiều loại cây trồng, trên địa bàn thành phố Hà Giang có sông
Lô, sông Miện chảy qua [38].

14


1.5.2. Dân số-kinh tế-văn hóa-xã hội:
- Dân số thành phố Hà Giang 55.360 người, có 19 dân tộc anh em (dân
tộc H. Mông; Tày; Dao; Kinh; Nùng; Giấy; La chí; Hoa hán; Pà thẻn; Cờ lao;
Lô lô; Bố Y; Phù lá; Pu péo; Mường; Sán chay, Thái; Sán dìu và các dân tộc
còn lại) [12].
- Thành phố Hà Giang là trung tâm Chính trị - Kinh tế - Văn hoá xã hội
của Tỉnh, diện tích tự nhiên là 13.345.9 ha, trong đó diện tích đất sản xuất

bếp ăn tập thể trường học số người mắc 47; 01 vụ ngộ độc nấm, số người mắc
03); Tại huyện Đồng Văn xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm do ăn nấm rừng tại
xã Lũng Cú, xã Sính Lủng, số người mắc 06, số người tử vong 01(01 vụ mắc
04 người, tử vong 01 người; 01 vụ mắc 02 người, không có tử vong). Tại
huyện Yên Minh xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm do ăn quả rừng tại xã Lũng
Hồ, số người mắc 02, tử vong 01 người. Tại huyện Xín Mần xảy ra 02 vụ ngộ
độc thực phẩm chưa rõ nguyên nhân tại xã Khuôn Lùng và xã Thèn Phàng với
26 người mắc, không có tử vong. Tại huyện Hoàng Su Phì xảy ra 01 vụ ngộ
độc thực phẩm do ăn nấm rừng tại xã Nam Sơn, số người mắc 03, không có tử
vong. Tại huyện Quang Bình xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm chưa rõ nguyên
nhân ở xã Tân Nam, số người mắc 30, không có tử vong. Tại huyện Bắc
Quang xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn tập thể Trường mầm non
Tân Thành, xã Tân Thành do Tụ cầu (Staphylococus aureus ) có trong cơm tẻ,
bánh dày, bí đỏ, số người mắc 19, không có tử vong. Tại huyện Vị Xuyên xảy
ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm do ăn quả rừng ở xã Bạch Ngọc, số người mắc
02, không có tử vong [3]. Trong 6 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh Hà
Giang đã xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm 01 vụ tại thôn Khuổi Mạ, huyện
Bắc Mê số người mắc 03, số người tử vong 02 do ăn phải nấm độc; 01 vụ tại
xã Đản Ván, huyện Hoàng Su Phì tại 01 gia đình tổ chức đám cưới số người
mắc 100 ca, không có người tử vong do ăn thức ăn bị nhiễm Salmonella. Tại
thành phố Hà Giang trong những năm gần đây không có vụ ngộ độc thực
phẩm nào xảy ra [4]. Tuy nhiên tỷ lệ mắc các bệnh lây truyền qua đường thực

16


phẩm do ăn uống trên địa bàn toàn tỉnh vẫn cao: Năm 2015 bệnh tiêu chảy
8977 ca; hội chứng lỵ 300 ca (Lỵ trực trùng 237 ca; lỵ amip 63 ca); viêm gan
vi rút 53 ca [28]. Năm 2016 bệnh tiêu chảy 8256 ca, giảm 721 ca (8,03%);
hội chứng lỵ 200 ca (lỵ trực trùng 111 ca; lỵ amip 89 ca), giảm 100 ca


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status