Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng hồ chí minh trong giai đoạn hiện nay - Pdf 47

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, tư tưởng của
Người luôn soi sáng trong mỗi chặng đường lịch sử. Nhờ có tư tưởng của
Người, Đảng và nhân dân ta đã tập hợp được khối đoàn kết đông đảo tạo ra
sức mạnh để làm nên những thắng lợi vẻ vang, giành lại độc lập, tự do cho đất
nước. Xuất phát từ truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và từ bản
chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng với sự nhậy cảm
chính trị, tư duy khoa học, phẩm chất đạo đức trong sáng của mình. Hồ Chí
Minh đã xây nên tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và nâng nó lên tầm cao mới.
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Người không ngừng chăm lo, vun
trồng cho rừng cây đại đoàn kết ngày một nở hoa kết trái.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được Đảng, nhân dân
ta quán triệt và thực hiện thành công trong suốt quá trình đấu tranh cách
mạng. Tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh trở thành một nội dung mang tính
chiến lược quan trọng của Đảng cộng sản và cũng là một trong những yếu tố
quyết định sự thành bại của cách mạng.
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân đang nỗ lực,
tích cực thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo tình thần Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần X với khẩu hiệu: "Nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân, đẩy mạnh toàn
diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển".
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, mà
nguyên nhân chủ yếu của sự thành công đó chính là Đảng và nhân dân ta đã
biết quán triệt và vận dụng tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh.
Bước sang thế kỷ 21, trong xu thế quốc tế hóa, hội nhập hóa ngày
càng mạnh mẽ, đất nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ mới rất thuận lợi,
đồng thời cũng phải đối mặt với không ít thách thức đó là: sự chống phá của
1


2


trong giai đoạn hiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm củng cố và phát
triển hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Phạm vi nghiên cứu: Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh bao
gồm một hệ thống những quan điểm về đại đoàn kết dân tộc, về đoàn kết quốc
tế, về xây dựng Mặt trận thống nhất, về đoàn kết toàn dân... Nhưng trong tiểu
luận này, tôi chỉ xin đi vào nghiên cứu, tìm hiểu vai trò của đại đoàn kết dân
tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình vận dụng tư tưởng đó trong giai
đoạn hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về đại đoàn kết dân tộc
Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện tiểu luận, tác giả đã sử dụng
phương pháp duy vật biện chứng kết hợp chặt chẽ phương pháp lôgic- lịch sử,
phương pháp phân tích- tổng hợp - so sánh nhằm làm rõ tư tưởng đại đoàn kết
dân tộc Hồ Chí Minh.
5. Bố cục của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu
luận gồm 2 chương, 5 tiết.

3


Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

1.1. Những quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn
kết dân tộc

Chí Minh: "Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi" [21, tr. 22], "Đoàn kết
là sức mạnh, là then chốt của thành công" [21, tr. 154]. Người khẳng định: "Đoàn
kết là một chính sách dân tộc, không phải là thủ đoạn chính trị" [21, tr. 438].
Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phải
điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp cho phù hợp với những đối
tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được nhận thức là vấn
đề sống còn của cách mạng.
Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Người
khẳng định:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công.
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, đoàn kết càng rộng rãi, đoàn kết chặt chẽ
thì thắng lợi càng to, thành tích càng lớn. Tư tưởng trên của Người đã được
lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung, lịch sử cách mạng Việt Nam do Đảng ta
lãnh đạo chứng minh hoàn toàn đúng đắn.
1.1.2 . Đại đoàn kết dân tộc là một mục tiêu, nhiệm hàng đầu của
cách mạng
Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng này phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng, lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam. Nói cách
khác, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng phải hướng vào việc xây dựng
và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Trong "Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng
lao động Việt Nam tháng 3-1951", Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng tuyên bố
trước toàn thể dân tộc: "Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam đại thể gồm
5


8 chữ là: Đoàn kết, toàn dân, phụng sự Tổ quốc" [16, tr.183]. Đoàn kết toàn
dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của mọi giai đoạn cách mạng. Bởi vì, muốn
chiến thắng kẻ thù thì phải có đường lối, lực lượng đó phải đủ mạnh. Muốn có

chính là đi tìm sức mạnh để giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao
8


động. Và sức mạnh mà Người đã tìm được là đại đoàn kết dân tộc, kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Từ khi tìm thấy con đường và sức mạnh để cứu nước, Hồ Chí Minh
đã rất chú ý đến việc đưa quần chúng nhân dân vào những tổ chức yêu nước
phù hợp với từng giai cấp, tầng lớp, từng giới, từng ngành nghề, từng lứa
tuổi, từng tôn giáo. Đó là các già làng, trưởng bản, các hội ái hữu, tương trợ,
công hội, nông hội, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, đội thiếu niên nhi đồng, hội
phụ lão, hội Phật giáo cứu quốc, Công giáo yêu nước, các nghiệp đoàn, v.v.,
bao trùm nhất là Mặt trận dân tộc thống nhất. Mặt trận chính là nơi quy tụ
mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, tập hợp mọi người dân nước Việt, không
chỉ ở trong nước mà còn cả những người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
dù ở bất cứ phương trời nào, nếu tấm lòng vẫn hướng về quê hương đất nước,
về Tổ quốc Việt Nam...
Tùy theo từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, Hồ Chí Minh và
Đảng ta đã xây dựng được Mặt trận dân tộc thống nhất có cương lĩnh, điều lệ
phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng.
Các tổ chức Mặt trận ở nước ta đều là tổ chức chính trị - xã hội rộng rãi, tập
hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, các tổ
chức và cá nhân yêu nước ở trong và ngoài nước, phấn đấu vì mục tiêu
chung là độc lập, thống nhất của Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân.
Để Mặt trận dân tộc thống nhất trở thành một tổ chức cách mạng to lớn,
theo Hồ Chí Minh, nó cần được xây dựng theo những nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất: Đoàn kết phải xuất phát từ mục tiêu vì nước, vì dân, trên
cơ sở yêu nước, thương dân, chống áp bức bóc lột, nghèo nàn lạc hậu.
Thứ hai: Đại đoàn kết dân tộc phải được xây dựng trên nền tảng liên
minh công - nông - lao động trí óc.

tộc trong tư tưởng Hồ Chi Minh
1.2.1 Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc phải được thực
hiện theo các nguyên tắc sau:
10


Thứ nhất, đại đoàn kết dân tộc phải được xây dựng trên cơ sở bảo
đảm lợi ích tối cao của dân tộc và những quyền lợi cơ bản của nhân dân
nhân lao động.
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong tư tưởng đại đoàn kết dân tộc
Hồ Chí Minh. Hạt nhân của nguyên tắc này là phải giải quyết đúng đắn mối
quan hệ dân tộc và giai cấp.
Những bài học, kinh nghiệm lịch sử cho thấy: Khi nào mà không nắm
vững và xử lý tốt mối quan hệ này thì cách mạng rất dễ sai lầm trong việc xác
định đường lối chiến lược và rất dễ gây ra những tổn thất lớn cho cách mạng.
Đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, tìm thấy con đường cứu nước đúng
đắn cho dân tộc, Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng sáng và phát triển quan
điểm của Lênin về vấn đề dân tộc và giai cấp. Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh
đã khẳng định: "Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước" [11, tr.466].
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa dân tộc ở đây chính là chủ nghĩa yêu nước và
tinh thần dân tộc chân chính của nhân dân Việt Nam đã được hun đúc qua
hàng nghìn năm lịch sử, là động lực tinh thần vô giá trong cuộc đấu tranh
chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng đất nước. Người còn
nói rõ: "Người ta sẽ không thể làm gì được người An Nam nếu không dựa trên
các động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của họ" [11, tr.467], tức là
chủ nghĩa dân tộc bản xứ. Từ đó, Người đặt vấn đề phải khai thác triệt để yếu
tố dân tộc, sức mạnh tinh thần dân tộc trong đấu tranh giải phóng của các dân
tộc thuộc địa dưới ngọc cờ của Quốc tế cộng sản.
Khi thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, trong Cương lĩnh của Đảng,

Thái độ tự phê bình phê bình: chân thành, thắng thắn, thân ái, có tình
yêu thương giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Luôn giữ gìn và tăng cường sự
đoàn kết thống nhất trong Đảng.
1.2.2 Phương pháp đại đoàn kết dân tộc
Phương pháp đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh không cứng nhắc,
không nhất thành bất biến mà rất mềm dẻo, linh hoạt và phát triển thích ứng
với tình hình thực tiễn cách mạng đặt ra.
Thứ nhất, phương pháp tuyên truyền giáo dục, vận động quần
chúng một cách thiệt thực và khoa học
Phương pháp tuyên truyền giáo dục có ý nghĩa rất quan trọng trong quá
trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, cho nên cần phải có phương pháp
tuyên truyền, vận động quần chúng thực sự khoa học để mọi người tự mình nhận
thức được sự cần thiết phải tập hợp lại, từ đó tham gia công việc cách mạng
15


Nội dung tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng là cả một vấn
đề khoa học, là nghệ thuật cách mạng. Cho nên phải tìm tòi, lựa chọn các nội
dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục phù hợp với nguyện vọng của quần
chúng, phù hợp với quyền lợi thiết thực của quần chúng. Phương pháp này
làm cho mọi người nhận thức được sự cần thiết phải tập hợp nhau lại, từ đó
mà tự giác tham gia vào việc tổ chức đoàn kết cách mạng trong Mặt trận dân
tộc thống nhất.
Trong khối đại đoàn kết dân tộc, có nhiều giai tầng xã hội khác nhau
do đó cũng có những quyền lợi chung nhưng cũng có những quyền lợi riêng.
Vì vậy nội dung tuyên truyền, giáo dục phải đáp ứng được cả hai yêu cầu đó.
Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc vấn đề này và Người luôn có phương pháp
tuyên truyền, giáo dục thành công trong công tác vận động quần chúng.
Tùy theo yêu cầu trực tiếp để tập hợp lực lượng cách mạng, Hồ Chí
Minh đưa ra các nội dung tuyên truyền, vận động thích hợp. Trong đấu tranh

ruộng giảm tô cho đúng, tá điền nộp tô cho đủ. Hoặc là với bộ đội: "Giết
nhiều giặc, cướp nhiều đồn, dụ nhiều hàng binh, đoạt nhiều vũ khí, hăng hái
tham gia cuộc vận động rèn luyện cán bộ, chỉnh đốn quân đội" [15, tr.590591]. Hồ Chí Minh thấu hiểu tất cả, cảm thông tất cả, phấn đấu, hy sinh, vì tất
cả những ước mơ, khát vọng sâu lắng của dân tộc và của mỗi con người Việt
Nam. Chính vì vậy mà tư tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh có sức
mạnh vô địch, sức sống bất diệt đối với sự phát triển của cách mạng nước ta.
Để làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết thục quần chúng
đòi hỏi không những chỉ phương pháp thích hợp, mà còn phải có cách thức
thể hiện khoa học, cách sử dụng ngôn từ, cách trình bày, tác phong, đạo
đức...Không ai khác, chính Hồ Chí Minh là một mẫu mực, là tấm gương sáng
ngời trong việc sử dụng những cách thức đó. Người thường dùng những ngôn
từ dễ hiểu, cách viết ngắn gọn, súc tích, vừa rất bình dị nhưng cũng rất sâu
sắc. Nó gần gũi, thân thuộc với cuộc sống hàng ngày của con người nên ai
cũng hiểu và làm theo một cách tự giác.
Hồ Chí Minh là bậc thầy trong công tác vận động quần chúng. Bản
thân Người tỏa sáng một mãnh lực tập hợp, nâng đỡ và dìu dắt nhân dân.
Đồng thời, Người cũng luôn hết lòng chăm lo bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ
17


cán bộ cách mạng kiểu mới có đủ năng lực và phẩm chất làm hạt nhân của
khối đại đoàn kết dân tộc.
Thứ hai, phương pháp tổ chức có hiệu quả.
Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống
chính trị, để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc. Trước hết Người
quan tâm kiện toàn không ngừng phát triển hệ thống chính trị "Đảng, Nhà
nước và các đoàn thể quần chúng". Sự thống nhất và bền vững của hệ thống
chính trị là yếu tố quyết định sự tồn tại và sức mạnh của khối đại đoàn kết dân
tộc. Quá trình xây dựng hệ thống chính trị gồm những nội dung cơ bản:
Về xây dựng Đảng cộng sản

hết cho việc thu hút, tập hợp lực lượng vào trận tuyến cách mạng và cô lập
lực lượng thù địch. Hồ Chí Minh xác định lực lượng trung gian bao gồm:
những trí thức yêu nước, nhân sĩ yêu nước, tầng lớp quan lại, địa chủ phong
kiến. Người chỉ ra phương pháp là phải hết sức tranh thủ, lôi kéo, xóa bỏ
thành kiến, trọng tài năng của họ để khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức dân
tộc và trọng dụng họ. Chính nhờ vậy mà lực lượng cách mạng càng thêm
đông đảo và từng bước cô lập các lực lượng thù địch.
Đối với các thế lực thù địch, các lực lượng phản cách mạng: Phương
pháp Hồ Chí Minh rất rõ ràng. Với bọn đế quốc xâm lược thì Người chỉ ra cần
phải "kiên quyết, không ngừng thế tấn công", "hễ còn một tên nào trên đất
nước ta thì phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi". Với bọn quan lại, binh
lính và những kẻ lầm đường lạc lối, nếu biết ăn năn hối cải thì Người đưa ra
chính sách khoan hồng, đại độ và Người cho rằng dù sao họ cũng là dòng dõi
tổ tiên ta, là con dân nước Việt.
Như vậy phương pháp Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa chiến lược và
sách lược, là "dĩ bất biến, ứng vạn biến", vừa thể hiện sự cứng rắn, vừa mềm
dẻo, linh hoạt tùy tình hình của mỗi giai đoạn cụ thể của cách mạng. Đại đoàn
kết dân tộc theo Hồ Chí Minh là thêm bạn, bớt thù, phân hóa, cô lập làm suy
yếu kẻ thù. Phương pháp đó đã giúp Đảng ta thu nhiều thành công trong xây
dựng, củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, cũng như
giành được nhiều thắng lợi to lớn cho cách mạng Việt Nam.

21


Chương 2
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1. Khái quát tình hình và đặc điểm của khối đại đoàn kết dân tộc

về hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới ngày càng khẩn trương và sâu
rộng hơn.
Tình hình trên đây đặt ra cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của
nước ta trong các năm tiếp theo nhiệm vụ nặng nề, đòi hỏi toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân phải có quyết tâm cao với các giải pháp thật quyết liệt mới có
thể thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010 đã đề ra.
2.1.2. Đặc điểm của khối đại đoàn kết
Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chúng ta đang đứng trước thời cơ và vận
hội mới, cùng đan xen khó khăn và thách thức mới. Vấn đề dân tộc và quan
hệ dân tộc đã và đang có những diễn biến phức tạp và gay gắt ở nhiều quốc
gia trên thế giới, xung đột dân tộc trở nên phổ biến và nhạy cảm ở nhiều quốc
gia, khu vực
Đối với Việt Nam, trong vấn đề đại đoàn kết toàn dân, các vấn đề dân
tộc và tôn giáo có tính đặc thù quan trọng. Nước ta có 54 dân tộc anh em,
trong đó có nhiều dân tộc thiểu số sống xen kẽ nhau trên nhiều vùng rộng lớn
và là địa bàn trọng yếu. Nước ta cũng có nhiều tôn giáo lớn, với khoảng hơn
1/4 số dân theo đạo. Giải quyết tốt và có chính sách đứng đắn về các vấn đề
dân tộc và tôn giáo sẽ là một đóng góp lớn vào việc mở rộng và tăng cường
hơn nữa khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ mới. Để phát huy được sức
mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thì chúng ta cần phải
thấy rõ những nguy cơ thách thức đối với khối đại đoàn kết dân tộc ở nước
ta hiện nay.
23


Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân chưa thật bền chặt và
đang đứng trước nhiều thách thức. Các vụ kiện đông người vẫn còn nhiều,

hình là Nghị quyết 8B BCH Trung ương khóa VI ban hành ngày 27/3/1990,
Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị ban hành ngày 17/11/1993 "Về đại đoàn kết
dân tộc và tăng cường mặt trận dân tộc thống nhất", Nghị quyết Hội nghị làn
thứ bảy Trung ương khóa IX ngày 12/3/2003 "Về phát huy sức mạnh đoàn kết
toàn dân vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
Dưới ánh sáng của tư tưởng đó, cùng với sự lãnh đạo tài tình của Đảng cộng
sản Việt Nam, nhân dân ta đa thực hiện và phát huy tốt vấn đề đại đoàn kết
dân tộc trong công cuộc đổi mới với nhiều thành tựu to lớn. Qua nghiên cứu
có thể khái quát như sau:
Trong lĩnh vực kinh tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, toàn
dân ta đã phát huy tốt sức mạnh đại đoàn kết dân tộc để tiến hành sự nghiệp
CNH - HĐH đất nước. Đánh giá chung từ thực hiện đổi mới, về cơ bản nước
ta đã thoát khỏi tình trạng đói nghèo, khủng hoảng kinh tế được khắc phục,
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có bước
phát triển mạnh mẽ, kinh tế đối ngoại được mở rộng...đời sống của nhân dân
được nâng lên rõ rệt. Cụ thể, theo đánh giá của Đại hội X, mức tăng trưởng
kinh tế hàng năm trung bình đạt 7,5% thu nhập bình quân đầu người tính đến
nay đã đạt hơn 10 triệu đồng mỗi người mỗi năm (khoảng 640 USD), tỉ lệ hộ
nghèo giảm xuống còn 7%. Sự chênh lệch giữa thành thị, nông thôn và miền
núi được rút ngắn. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh, phong phú, đa dạng tạo
ra nhiều chủng loại hàng hóa đáp ứng tiêu dùng của nhân dân. Tỉ trọng xuất
nhập khẩu tăng nhanh. Chúng ta đã có nhiều ngành, nhiều mặt hàng xuất khẩu
có giá trị cao góp phần nâng cao tổng thu nhập quốc dân. Tất cả những thành
công đó đều là kết quả trực tiếp hoặc gián tiếp của việc phát huy khối đại
đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Về chính trị - xã hội thì những năm đổi mới vừa qua, Đảng, Nhà nước
và nhân dân ta luôn nêu cao ngọn cờ độc lập và đại đoàn kết dân tộc, cho nên
chúng ta đã giữ vững ổn định chính trị xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đất
nước phát triển. Nền dân chủ được phát huy rộng rãi, nhân dân thực sự đã
tham gia vào công việc quản lý điều hành Nhà nước thông qua quyền bầu cử,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status