1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Là một công cụ điều chỉnh hành vi con người trên cơ sở tự nguyện, tự giác,
với nguyên tắc ưu tiên lợi ích xã hội, đạo đức xuất hiện, tồn tại trong tất cả các lĩnh vực
hoạt động của con người, trong đó có lĩnh vực sản xuất kinh doanh (SXKD).
Ở Việt Nam, đạo đức kinh doanh (ĐĐKD) được hình thành từ rất sớm, dẫu
rằng ngành nghề kinh doanh trong xã hội Việt Nam thời xưa chưa được coi trọng.
Có thể nhận thấy điều đó qua các câu châm ngôn, như làm ăn phải có chữ tín, một
lần bất tín, vạn lần bất tin, trung thực... như là các quy tắc đạo đức mà mỗi người
kinh doanh cần phải tuân thủ. Tuy nhiên, trong một xã hội chưa phát triển và ngành
nghề kinh doanh chưa được coi trọng, đề cao thì vấn đề ĐĐKD chưa được các tầng
lớp/ giai tầng chú ý.
Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa (XHCN), ở Việt Nam vấn đề ĐĐKD đã được chú trọng nghiên cứu
ngày càng nhiều hơn. Bởi điều đó không chỉ giúp các nhà kinh doanh tăng lợi
nhuận, mà còn giúp Việt Nam giải quyết được một số vấn đề, như ô nhiễm môi
trường, phát triển con người, chất lượng cuộc sống,v.v.... Việt Nam mới chập
chững bước vào kinh tế thị trường và vẫn còn chưa dứt bỏ hoàn toàn tàn dư của
thời kinh tế tập trung, bao cấp, đặc biệt là cơ chế xin - cho, quan hệ thân quen
vẫn tiếp tục gây nhức nhối trong một số lĩnh vực. Điều đáng lo ngại nhất khi
Việt Nam bước vào nền kinh tế này nằm ở những lỗ hổng lớn là pháp luật, đạo
đức và văn hoá kinh doanh. Bên cạnh đó, việc kết hợp giữa lợi ích trước mắt và
lợi ích lâu dài cũng có không ít vấn đề cần được tính toán cẩn thận. Mọi nền
kinh tế chuyển đổi đều chứa đựng trong bản thân nó rất nhiều cơ hội cho sự
phát triển của từng người cũng như của cả đất nước nhờ việc tạo ra các động
lực. Song cũng chính trong nền kinh tế đó lại chứa đựng đầy rẫy những hiểm
họa và cạm bẫy do đạo đức suy thoái, do lợi ích trước mắt, lợi ích cá nhân, lợi
ích nhóm được đặt lên hàng đầu trong điều kiện pháp luật chưa thật định hình
và chưa đủ mạnh.
nước…” [16; tr156]. Nghị quyết cũng đã đặt ra nhiệm vụ: “Chăm lo xây dựng giai cấp
nông dân Việt Nam, củng cố liên minh công nhân – nông dân - trí thức trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [16; tr178].
3
Hà Nội là trung tâm chính trị - văn hóa - xã hội của cả nước, là thành phố
hướng tới công nghiệp hiện đại. Trong giai đoạn hội nhập hiện nay cùng với giai
cấp công nhân và trí thức, ND thành phố Hà Nội đã và đang là lực lượng xã hội
quan trọng góp phần phát huy vị thế của thủ đô trên nhiều mặt, đặc biệt trong đó có
lĩnh vực phát triển kinh tế. Họ cũng đã nhận thức được vai trò của mình trong công
cuộc xây dựng CNXH hiện nay và không ngừng tham gia vào quá trình SXKD, đẩy
mạnh quá trình tái cơ cấu ngành gắn với xây dựng nông thôn mới, làm thay đổi bộ
mặt nông thôn trên địa bàn thành phố.
Tuy nhiên, hoạt động SXKD của người ND Hà Nội còn nhiều bất cập. Nhìn
chung ND thu nhập còn thấp, mức sống chưa cao; sản xuất nông nghiệp còn manh
mún, sản xuất nhỏ vẫn là chủ yếu; môi trường nông thôn ngày càng bị ô nhiễm; tư
duy kinh tế gắn sản xuất với thị trường của người dân còn sơ khai, chưa được hình
thành rõ nét; động cơ sản xuất còn chạy theo lợi nhuận trước mắt, ít quan tâm đến
thương hiệu hàng hoá nông sản thông qua sự đảm bảo về xuất xứ, vệ sinh an toàn
thực phẩm, ổn định chất lượng và số lượng, chủng loại… Điều này đang tạo nên
những lo lắng của người dân trong thời gian gần đây, đặc biệt là nỗi bất an trước tình
hình chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Người dân hoài nghi và không còn đủ
niềm tin với cái gọi là “thực phẩm sạch”, bởi nếu “bỏ phiếu” cho rau thì không ít loài
rau đã nhiễm chì và “ngậm” hóa chất trầm trọng; “bỏ phiếu” cho quả thì khá nhiều
loại quả đã “ngấm” hóa chất bảo quản độc hại để tươi ngon lạ lùng hàng tháng trời;
“bỏ phiếu” cho thịt, cá thì dư lượng hóa chất gây ung thư vượt ngưỡng…. Trong môi
trường thiếu an toàn đó, đã đến lúc phải gióng lên hồi chuông cấp thiết về ĐĐKD.
Do đó để nâng cao đạo đức trong kinh doanh cho người ND, giúp họ hình thành
năm hợp nhất tỉnh Hà Tây và TP Hà Nội. Những quan điểm, giải pháp được đề xuất
có ý nghĩa đến năm 2025.
- Địa bàn khảo sát: Luận án chọn 6 huyện, trong đó 3 huyện thuộc địa bàn Hà
Nội cũ, 3 huyện thuộc địa bàn tỉnh Hà Tây cũ, đặc trưng cho vùng nông thôn ngoại
thành Hà Nội, gồm: Đông Anh, Thanh Trì, Sóc Sơn, Phú Xuyên, Quốc Oai, Ba Vì.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp luận nghiên cứu đề tài
5.1. Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở những nguyên lý lý luận chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về đạo đức và giáo dục đạo đức
trong SXKD; về vị trí, vai trò của giai cấp ND trong công cuộc xây dựng CNXH.
5
5.2. Cơ sở thực tiễn: Tình hình đạo đức nói chung, ĐĐKD của ND và thực
trạng giáo dục CMĐĐKD cho ND TP Hà Nội hiện nay.
5.3. Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học, trong đó
tập trung vào một số phương pháp cơ bản sau đây:
- Trên cơ sở khoa học của phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Đây là phương pháp cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin. Phương pháp này đòi
hỏi: khi xem xét các hiện tượng và quá trình giáo dục phải đặt trong mối liên hệ tác
động qua lại lẫn nhau, thường xuyên vận động, phát triển không ngừng, chứ không
phải là bất biến. Quá trình phát triển là quá trình tích lũy những biến đổi về lượng
dẫn đến những biến đổi về chất. Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử trong nghiên cứu giáo dục CMĐĐKD cho ND thành phố Hà Nội để xem
xét quá trình giáo dục gắn với những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, cũng
như đặc điểm riêng của người ND.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
Với phương pháp này, tác giả luận án đi từ cái chung, đó là khái niệm, phạm
trù cũng như những vấn đề lý luận cơ bản, cần thiết về giáo dục CMĐĐKD, để từ
thảo luận nhóm và lấy ý kiến chuyên gia, phương pháp này đã thu được phản hồi từ
phía người ND, cán bộ quản lý các cấp ở địa phương và chuyên gia. Đây là cơ sở để
tác giả thuyết minh các luận cứ đã được trình bày trong luận án. Cụ thể là tác giả đã
tiến hành chọn mẫu gồm 199 phiếu điều tra bằng bảng hỏi đối với ND ở các huyện:
Đông Anh, Thanh Trì, Phú Xuyên, Quốc Oai, Ba Vì, Sóc Sơn; 100 phiếu để điều tra
cán bộ quản lý cấp xã, huyện của các địa phương nêu trên, cán bộ tuyên giáo, cán
bộ Hội ND, cán bộ ngành nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Việc chọn
mẫu và sử dụng phương pháp điều tra xã hội học đảm bảo yêu cầu khách quan, diện
rộng để thu được kết quả chính xác và sát thực với thực trạng giáo dục CMĐĐKD
cho ND ở các địa phương nêu trên và trên địa bàn TP Hà Nội nói chung.
Ngoài ra, luận án còn sử dụng các phương pháp logic, so sánh, thống kê số
liệu, phân tích tài liệu trong nghiên cứu đề tài.
6. Đóng góp mới và ý nghĩa của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề giáo dục CMĐĐKD
XHCN cho ND. Những vấn đề lý luận về ĐĐKD, CMĐĐKD, các yếu tố cấu thành
và sự cần thiết của giáo dục CMĐĐKD cho ND được luận bàn một cách tường
7
minh và được phân tích thấu đáo. Đặc biệt luận án đã nhìn nhận, tiếp cận ĐĐKD
như là yếu tố nội sinh của sự phát triển kinh tế; là điều kiện để nền kinh tế thị
trường nước ta phát triển theo đúng định hướng XHCN và là một nội dung của quá
trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bằng những nghiên cứu
thực tiễn, luận án đã phân tích thành tựu và hạn chế của giáo dục CMĐĐKD cho
ND TP Hà Nội trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
và hội nhập, qua đó phát hiện và khái quát, phân tích các mâu thuẫn của quá trình
giáo dục CMĐĐKD cho ND; phân tích những luận cứ khoa học của các quan điểm,
giải pháp tăng cường giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội hiện nay.
Với những kết quả nghiên cứu, luận án góp phần giúp các cơ quan, tổ chức
yêu cầu đạo đức: không được trộm cắp, phải sòng phẳng trong giao thiệp, phải
có chữ tín, biết tôn trọng các cam kết, thỏa thuận…
Như vậy, ĐĐKD không phải xuất phát từ sự “tiên nghiệm” , hay “chân lý tuyệt
đối” vĩnh cửu. ĐĐKD ra đời cùng hoạt động kinh doanh, phát triển theo từng hình thái
kinh tế - xã hội, thay đổi theo từng vùng dân cư, lãnh thổ, nhất là theo đặc điểm phương
Tây và phương Đông.
Với tư cách là ngành khoa học, ĐĐKD mới chỉ xuất hiện từ nửa đầu
những năm 70 của thế kỷ trước. Người đầu tiên đưa ra khái niệm này là nhà
nghiên cứu ĐĐKD nổi tiếng Norman Bowie. Ông định “ngày sinh” của ngành
ĐĐKD học vào tháng 11 năm 1974, qua hội nghị đầu tiên về chủ đề ĐĐKD
được tổ chức ở trường Đại học Kansas- Mỹ. Kết quả đạt được là một tuyển tập
luận đề đầu tiên đã được dùng trong những khóa học mới về ngành này liên tục
được mở ra. Năm 1979, ba tuyển tập trong ngành đã xuất hiện: Lý thuyết Đạo đức
9
và Kinh doanh của Tom Beauchamp và Norman Bowie, Các Vấn đề Đạo đức trong
Kinh doanh: Qua Lăng kính Triết học của Thomas Donaldson và Patricia Werhane,
và Các Vấn đề Đạo đức trong Doanh nghiệp của Vincent Barry. Năm 1982, những
quyển sách đầu tiên trong ngành học này được giới thiệu, đó là Đạo đức Kinh
doanh của Richard De George và Đạo đức Kinh doanh: Khái niệm và Các Trường
hợp Khảo sát của Manuel G. Velasquez.
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ĐĐKD, trong đó
bao hàm các quan niệm về ĐĐKD khác nhau. Phillip V. Lewis, Đại học
Abilene Christian, Hoa Kỳ đã tiến hành nghiên cứu và thu thập 185 định nghĩa được
tìm thấy trong các sách giáo khoa và các bài nghiên cứu từ năm 1961 đến 1981. Qua
các công trình đó có thể hiểu ĐĐKD là gì, được định nghĩa ra sao. Sau khi tìm ra
những điểm chung của các khái niệm trên, tác giả tổng hợp lại và đưa ra khái niệm
về ĐĐKD như sau:
giải nhiều vấn đề liên quan đến ĐĐKD như vấn đề trung thực trong kinh doanh; vấn
đề sở hữu, lợi nhuận và sự công bằng; vấn đề doanh nghiệp, con người và đạo đức….
Các nhà nghiên cứu như Ferrels và John Fraedrich lại chú ý đến phương
diện điều chỉnh hành vi ĐĐKD đối với hành vi của chủ thế kinh doanh. Các ông
cho rằng: “Đạo đức kinh doanh bao gồm những nguyên tắc cơ bản và tiêu chuẩn
điều chỉnh hành vi trong thế giới kinh doanh. Tuy nhiên, việc đánh giá một hành vi
cụ thể là đúng hay sai, phù hợp với đạo đức hay không sẽ được quyết định bởi nhà
đầu tư, nhân viên, khách hàng, các nhóm có quyền lợi liên quan, hệ thống pháp lý
cũng như cộng đồng”. [42; tr108]
Laura P.Hartman và Joe Desjardins trong cuốn “Business ethics” lại trình
bày rất cụ thể tầm quan trọng của đạo đức trong môi trường kinh doanh. Đồng thời
các ông cũng đã phân biệt giữa đạo đức cá nhân với đạo đức xã hội; giữa trách
nhiệm xã hội và trách nhiệm đạo đức; những điểm khác biệt giữa các quy chuẩn và
các giá trị đạo đức với các quy chuẩn và giá trị kinh doanh khác...
Công trình “Taking sides: Clashing views on controversial issues in
business ethics and society” của tác giả L.H.Newton, M.M. Ford lại nghiên cứu về
mối quan hệ giữa giới chủ và lao động làm thuê; sự dao động của sản xuất do thị
trường và người tiêu dùng. Hai lĩnh vực các ông đề cập tới trong xây dựng ĐĐKD
là tài chính và ngân hàng, qua đó khái quát những quan điểm về ĐĐKD ở một số
ngành và khu vực.
Bàn về vai trò của ĐĐKD, tác giả R. Edward Freeman trong cuốn “Business
ethics: The State of the art” đã khẳng định ĐĐKD được xem là một ngành, một vấn
đề được giảng dạy trong trường kinh doanh. Ông đã nghiên cứu ĐĐKD với vấn đề
11
quản lí kinh doanh, kinh doanh toàn cầu (đa quốc gia, đa văn hoá), đời sống tinh thần
của người hoạt động trong ngành kinh doanh. Những nghiên cứu của tác giả đã nhấn
mạnh rõ vai trò cũng như tầm quan trọng của ĐĐKD trong nền kinh tế.
quốc dân Hà Nội khẳng định: “Đạo đức kinh doanh hiểu một cách đơn giản, là
những quy tắc đạo đức được vận dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh, là
những chuẩn mực chi phối hành vi của các doanh nghiệp, là những giá trị mà người
kinh doanh thừa nhận và noi theo” [40; tr28] và “Mục đích của nhà kinh doanh
nhằm đem lại hạnh phúc cho con người, không phải chỉ cho từng cá nhân mà cho cả
xã hội. Mà hạnh phúc ở đây chính là bao gồm những giá trị đạo đức, những giá trị
văn hóa của xã hội được thừa nhận và được tôn trọng” [40; tr29].
Bàn về triết lý kinh doanh, tiêu biểu là cuốn “Triết lý kinh doanh và quản lý
doanh nghiệp” của GS,TS. Nguyễn Thị Doan và TS. Đỗ Minh Cương, Nxb Chính
trị quốc gia, năm 1999. Trong cuốn sách này, các tác giả đã tập trung phân tích và
nhấn mạnh vai trò không thể thiếu của triết lý kinh doanh trong hoạt động của các
doanh nghiệp. Theo các tác giả, dựa trên những triết lý kinh doanh cụ thể, các chủ
thể kinh doanh sẽ lựa chọn những cách thức kinh doanh phù hợp. Triết lý kinh
doanh không tách rời ĐĐKD mà trái lại nó bao hàm, gắn bó chặt chẽ với ĐĐKD.
Vì thế, kinh doanh có đạo đức như là một bí quyết để nhà kinh doanh có thể tồn tại
và doanh nghiệp của họ phát triển một cách bền vững.
Nhiều tác giả đề cập tới ĐĐKD qua phương diện văn hóa kinh doanh. Có thể
kể tới cuốn “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh” của TS. Đỗ Minh Cương
do Nxb Chính trị quốc gia ấn hành năm 2001; “Tinh thần doanh nghiệp- giá trị định
hướng của văn hóa kinh doanh Việt Nam”, tác giả Trần Quốc Dân, Nxb Chính trị
quốc gia, năm 2003; Luận án tiến sỹ kinh tế (năm 2004) “Vai trò của văn hóa kinh
doanh quốc tế và vấn đề được xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam” của
Nguyễn Hoàng Ánh; “Văn hóa kinh doanh trong các doanh nghiệp ở Hà Nội” - đề
tài nghiên cứu khoa học - Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2004, do PGS,TS. Dương
Thị Liễu làm chủ biên…Những công trình này cho thấy, ĐĐKD là một trong những
yếu tố cấu thành của văn hóa kinh doanh. Các tác giả đã góp phần làm rõ những
kiến thức chung về ĐĐKD, mối quan hệ của ĐĐKD với kinh tế thị trường; vai trò
của ĐĐKD trong sự phát triển của hoạt động kinh doanh và sự phát triển xã hội.
Qua việc phân tích, các tác giả đã góp phần làm rõ từng bước những vấn đề lý luận
tiễn”, PGS,TS Nguyễn Hữu Đễ- Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
quan niệm rằng: “Nói tới đạo đức kinh doanh là nói về mối quan hệ giữa doanh
nghiệp với cộng đồng xã hội…Đạo đức kinh doanh giữ vai trò điều chỉnh hành vi
kinh doanh của doanh nghiệp như là phương thức bổ sung cho việc thực thi luật
pháp cho doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh”.[42; tr56]
14
Trong tham luận : “Đạo đức kinh doanh: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
của Việt Nam”, PGS,TS Phạm Văn Đức- Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt
Nam quan niệm: “đạo đức kinh doanh có nội hàm là những quy định, quy tắc và các
tiêu chuẩn chỉ đạo hành vi của chủ thể trong hoạt động kinh doanh. Đạo đức kinh
doanh không chỉ bao gồm việc tuân thủ luật pháp, mà cao hơn nữa còn là việc thực
hiện trách nhiệm mang tính đạo đức của doanh nghiệp, là việc bảo vệ quyền lợi cho
những người có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp và quyền lợi của cộng
đồng”.[42; tr67]
Thực tế chỉ ra rằng, nhận thức về ĐĐKD ở Việt Nam hiện nay chưa có sự
thống nhất và đầy đủ. Chính điều đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc
vi phạm CMĐĐKD ở những mức độ khác nhau trong thực tiễn SXKD. Và theo ông
có ba nguyên nhân chính dẫn đến sự yếu kém trong ĐĐKD và trách nhiệm của
doanh nghiệp, đó là nguyên nhân về nhận thức, nguyên nhân kinh tế và nguyên
nhân pháp lý.
Hiện nay, bằng công cụ tìm kiếm trên mạng internet, có thể dễ dàng tìm đọc
các tài liệu đề cập đến ĐĐKD với nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau. Có ý kiến cho
rằng, ĐĐKD bao gồm những quy định và các tiêu chuẩn chỉ đạo hành vi trong thế
giới kinh doanh. (xem:www.kynangquanly.com.vn) hoặc “Đạo đức kinh doanh là
hành vi đầu tư vào tương lai. Khi doanh nghiệp tạo tiếng tốt sẽ lôi kéo khách hàng.
Và đạo đức xây dựng trên cơ sở khơi dậy nét đẹp tiềm ẩn trong mỗi con người luôn
được thị trường ủng hộ”. (xem: Website: www.vnbrand.net). Stoner và các đồng tác
dùng- người mà lẽ ra phải rất được tôn trọng vì họ chính là “ân nhân”- bằng mọi thủ
đoạn lừa lọc; đối với Nhà nước, họ tìm cách lẩn tránh nghĩa vụ; đối với cộng đồng, họ
luôn xem nhẹ trách nhiệm xã hội…
Để góp phần ngăn chặn những tiêu cực đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu
đề cập tới khía cạnh giáo dục ĐĐKD trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay.
Trong những công trình đó, định nghĩa kinh doanh được đưa ra nghiêm túc; những
CMĐĐKD được đề xuất; những nội dung giáo dục được bắt đầu đề cập; những giải
pháp cấp bách được kiến nghị…Đặc biệt, những công trình đó đều nhấn mạnh sự cần
thiết phải giáo dục ĐĐKD cho mọi chủ thể kinh tế khi tham gia thị trường.
Công trình “Phát huy những nhân tố truyền thống của dân tộc trong kinh doanh
dịch vụ ở nước ta hiện nay”, Nguyễn Thị Xuân Thảo, Nguyễn Văn Tuyền, Nxb Chính
trị quốc gia, năm 1999. Công trình nghiên cứu những giá trị và vai trò của nhân tố
truyền thống dân tộc trong kinh doanh dịch vụ; qua đó đặt ra yêu cầu các chủ thể kinh
doanh phải được giáo dục để nâng cao hiểu biết về bản sắc văn hóa, truyền thống của
dân tộc; ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong hoạt động SXKD.
16
Tác giả Nguyễn Thị Lan lại xem xét vấn đề dưới góc độ “Nhìn nhận của
người dân về đạo đức kinh doanh của các chủ doanh nghiệp tư nhân”, Tạp chí Tâm
lý học, số 5 (2006). Tác giả đã xây dựng thang đo giá trị của người dân Hà Nội về
ĐĐKD của các chủ doanh nghiệp tư nhân trong giai đoạn phát triển kinh tế thị
trường ở nước ta hiện nay. Theo tác giả, các chủ doanh nghiệp tư nhân, tuy có nhiều
đóng góp trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, nhưng không vì thế
mà người dân xóa nhòa, san bằng tất cả cái tốt và cái xấu trong hoạt động kinh
doanh của các chủ doanh nghiệp tư nhân. Trái lại, càng kỳ vọng bao nhiêu ở sự
đóng góp của các chủ thể doanh nghiệp tư nhân đối với cộng đồng, với xã hội người
dân càng có xu hướng nhìn nhận khắt khe hơn, yêu cầu cao hơn đối với họ. Vì vậy,
việc tìm kiếm những giải pháp giáo dục và xây dựng chế tài nhằm nâng cao ĐĐKD
sang nền kinh tế thị trường”, Tạp chí Triết học số 1- 1995 của tác giả Nguyễn Trọng
Chuẩn; “Một số chuẩn mực giá trị ưu trội khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị
trường”, Tạp chí Triết học số 1- 1995 của tác giả Nguyễn Văn Huyên; “Bàn về sự
định hướng giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”. Tạp chí Triết
học số 1-1995 của Lê Đức Phúc…Ở những bài viết này, các tác giả đã chỉ ra sự
biến động phức tạp trong đời sống xã hội Việt Nam khi bước vào nền kinh tế thị
trường. Cụ thể là: các giá trị truyền thống đang có biến đổi đa dạng, những giá trị
mới xuất hiện và càng có ảnh hưởng rõ rệt trong đời sống xã hội cùng với những
phản giá trị đang có chiều hướng gia tăng; những suy nghĩ về các chuẩn mực, các
giá trị và cả “những điều cần báo động” đang đặt ra, đòi hỏi phải có sự nhìn nhận
thấu đáo, sự đánh giá nghiêm túc…
Trong cuốn: “Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị
trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay” do tác
giả Nguyễn Chí Mỳ (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1999, lại bàn
về vấn đề đạo đức mới trong cơ chế thị trường; sự biến đổi của thang giá trị đạo đức
trong cơ chế đó; xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Từ đó, tập thể tác giả đề ra các phương hướng và giải
pháp hình thành thang giá trị đạo đức mới.
GS,TS Nguyễn Trọng Chuẩn với bài viết “Kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta hiện nay và những biến động trong lĩnh vực đạo đức”, đăng trên
Tạp chí Triết học số 9- 2001, cho rằng, tất cả những biến động trong lĩnh vực đạo
đức ở các mức độ khác nhau đều liên quan tới sự biến động trong nền kinh tế - xã
hội thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,
18
công bằng, văn minh. Những biến động đó tuy là khó tránh khỏi nhưng sẽ hạn chế
được những mặt tiêu cực của nó nếu Đảng và Nhà nước kịp thời có những biện
19
những vụ việc các doanh nghiệp vi phạm về pháp luật, như làm hàng giả, hàng kém
chất lượng, trốn thuế, buôn lậu, lừa dối khách hàng, lừa dối người lao động, xả thải
độc hại không xử lý ra môi trường…Đây cũng chính là thực trạng văn hóa đạo đức
ở nước ta hiện nay.
Trong các công trình trên, những biến động về giá trị và chuẩn mực đạo đức
được khảo sát trong quan hệ với kinh tế thị trường. Theo đó, những giá trị, những
chuẩn mực đạo đức truyền thống như: chủ nghĩa yêu nước, tính cộng đồng, đức tính
trung thực, cần cù, tiết kiệm…đã và đang có sự đổi mới, mở rộng nội dung để đáp
ứng yêu cầu của kinh tế thị trường. Một số giá trị và chuẩn mực mới xuất hiện và
phát huy tác dụng; có thể kể đến như: tính thực tế, tính hiệu quả trong lao động,
khát vọng làm giàu, tinh thần cạnh tranh,…Đồng thời, chủ nghĩa cá nhân, lối sống
chạy theo đồng tiền, sự sính ngoại và xem thường các giá trị truyền thống,…đang
có xu hướng “trỗi dậy”. Những biến động đó cho thấy tính hai mặt trong tác động
của kinh tế thị trường. Vì thế, trong công tác giáo dục đạo đức hiện nay, cùng với
việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, việc giải quyết một cách biện chứng mối
quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và quốc tế, giữa xây và chống là
rất quan trọng.
Đề cập sâu sắc tới những tiêu chuẩn của đạo đức trong kinh doanh phải nhắc
tới một số những công trình tiêu biểu sau:
Cuốn sách “What’ s ethical in business” của tác giả Verne E.Henderson, Nxb
Văn hóa, năm 1996. Bằng những dẫn chứng cụ thể và đầy sức thuyết phục tác giả đã
phân tích và chỉ ra những công cụ hữu hiệu và dễ sử dụng để đề ra một quyết định có
giá trị về mặt đạo đức trong bối cảnh kinh doanh ngày nay, đó là 4 khía cạnh: mục
tiêu, biện pháp, động cơ và hậu quả. Đặc biệt tác giả nhấn mạnh tới việc xây dựng
một bầu không khí đạo đức hoặc một tác phong lao động, giống như một loại thuốc
ngừa bệnh, có thể thỏa mãn mọi nhóm đối tượng quan tâm và giữ cho hoạt động kinh
hội; bí mật và trung thành với các trách nhiệm đặc biệt.
Tại Hội thảo “Đạo đức trong kinh doanh”, tháng 12 năm 2012, do Viện Triết
học Việt Nam và Viện Triết học Trung Quốc phối hợp tổ chức, GS,TS, Nguyễn
Trọng Chuẩn với tham luận “Lợi ích và đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở
Việt Nam hiện nay”, đã phân tích và cảnh báo một cách nghiêm túc về thực trạng kinh
doanh thời gian qua. Tác giả nhận định, một số người chỉ vì lợi ích trước mắt, lợi ích
cá nhân, lợi ích nhóm tạo thành các đường dây móc ngoặc chằng chịt với nhau đang
tác động rất tiêu cực đến sự phát triển, nhất là phát triển bền vững của đất nước; môi
trường tự nhiên bị tàn phá hết sức nặng nề; một số cá nhân, một số nhóm lợi ích giàu
lên nhanh chóng một cách bất minh, phi pháp và vô đạo đức. Tác giả cho rằng: “Sự
giàu có đó của họ được đánh đổi bằng sự thiệt thòi, sự mất nguồn sống và cả kế sinh
21
nhai của không ít nông dân bị mất ruộng đất; bằng việc ép buộc người dân phải di dời
khỏi quê cha đất tổ đi nơi khác (nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng sâu
vùng xa) để cho các công ty, tập đoàn công nghiệp xây dựng thủy điện, xây dựng nhà
máy, trồng cây công nghiệp,v.v. mà người dân không được bồi thường tương xứng
như luật pháp đã quy định và như người dân đáng được hưởng, trong khi môi trường
tự nhiên bị phá hoại hết sức nghiêm trọng” [42; tr89]. Trong tham luận “Đạo đức
kinh doanh: Một số vân đề lý luận và thực tiễn của Việt Nam”, PGS,TS. Phạm Văn
Đức khẳng định: “…vấn đề nổi cộm nhất của đạo đức kinh doanh trong xã hội Việt
Nam là vấn đề thiếu chữ tín”.[42; tr114]. Tác giả khẳng định rằng, chữ tín là tiêu
chuẩn hàng đầu trong đánh giá ĐĐKD của một doanh nghiệp. Còn tham luận “Một
số ý kiến về đạo đức kinh doanh” của GS. Phạm Xuân Nam, Phó Giám đốc Trung
tâm KHXH và NV Quốc gia (nay là Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam), lại chỉ ra tiêu
chuẩn hàng đầu về đạo đức của nhà doanh nghiệp là tính trung thực, theo tác giả:
“triết lý kinh doanh của những người có lý tưởng, có đạo đức đều mang nội dung
nhân bản sâu sắc, vì nó dựa trên một quan niệm đúng đắn về hạnh phúc cá nhân
Như vậy, các tác giả khi luận bàn tới ĐĐKD đều nhấn mạnh tới các yếu tố
mang tính chuẩn mực để góp phần điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp, các
chủ kinh doanh trong hoạt động sản xuất kinh tế. Những chuẩn mực được xem là
thước đo để đánh giá ĐĐKD được các nhà khoa học đề cập sâu sắc nhất đó là tuân
thủ pháp luật, giữ chữ tín, cạnh tranh lành mạnh và thực hiện trách nhiệm xã hội.
Ngoài ra, với đặc thù SXKD ở Việt Nam, các nhà khoa học trong nước còn nhấn
mạnh thêm các yếu tố về bản sắc văn hóa và những giá trị kinh doanh truyền thống
làm chuẩn mực cho ĐĐKD .
2.2. Về giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh
Tiếp cận dưới góc độ khoa học chuyên ngành, giáo trình Nguyên lý công tác tư
tưởng, do PGS,TS. Lương Khắc Hiếu (chủ biên) đã nghiên cứu những nội dung giáo
dục kinh tế, trong đó nhấn mạnh tới nội dung giáo dục các CMĐĐKD, coi đó là cơ sở
hình thành văn hóa kinh tế của người lao động. Theo tác giả những nội dung giáo dục
CMĐĐKD bao gồm: kinh doanh đúng pháp luật, tôn trọng người tiêu dùng trong
SXKD; thực hiện cạnh tranh lành mạnh; giữ đúng chữ tín; biết tìm kiếm lợi nhuận trên
cơ sở quan tâm đến lợi ích cộng đồng; lên án những hành vi tiêu cực trong SXKD…
Tham luận “Đạo đức kinh doanh ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn”, sau khi làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn, PGS,TS. Nguyễn Hữu Đễ
cho rằng, đối với Việt Nam hiện nay “Để thực hiện đạo đức kinh doanh ở Việt Nam
hiện nay thì việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và các văn bản dưới
luật rõ ràng là cần thiết nhưng chưa đủ, mà phải đưa ra được những quy tắc, những
23
chuẩn mực đạo đức kinh doanh đủ sức để hướng dẫn những hành vi kinh doanh của
các doanh nghiệp. Việc giáo dục phải làm thế nào để các doanh nghiệp tự ý thức
được rằng, thực hiện đạo đức kinh doanh chính là đầu tư cho tương lai và cho sự
phát triển bền vững của doanh nghiệp ” [42; tr95].
PGS,TS. Phạm Văn Đức với tham luận “Đạo đức kinh doanh: Một số vấn đề
hiện CMĐĐKD hoàn toàn phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững và cần thiết
phải bắt đầu từ giáo dục học sinh ở bậc trung học phổ thông- chủ nhân tương lai của
đất nước”.
Rõ ràng vấn đề giáo dục CMĐĐKD đang được nhiều học giả quan tâm
nghiên cứu, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và
hội nhập.
3. Những nghiên cứu về nông dân, nông dân Hà Nội và giáo dục chuẩn
mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội
Thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, bằng tinh thần lao
động cần cù, sáng tạo, giai cấp ND cùng nhân dân cả nước tạo nên những thành tựu
to lớn trên mặt trận SXKD nông nghiệp, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, thực trạng sản xuất
của ND hiện nay đa số vẫn là những hộ sản xuất quy mô nhỏ, đời sống vật chất, tinh
thần của ND tuy có bước cải thiện nhưng nhìn chung còn nhiều khó khăn. Những khó
khăn đó phần nào tác động đến hoạt động SXKD của người ND, trong đó có vấn đề
ĐĐKD. Để góp phần nâng cao ĐĐKD cho người ND, vai trò của công tác giáo dục
là rất quan trọng, do vậy có không ít những nghiên cứu đề cập tới công tác này dưới
nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau.
Mặc dù chưa có công trình nào trực tiếp bàn về giáo dục CMĐĐKD cho ND,
nhưng trong một số nghiên cứu các tác giả cũng đã ít nhiều đề cập tới vai trò của
giáo dục trong hoạt động SXKD, đặc biệt đối với ND.
Trong cuốn “Nông dân và Hội Nông dân Việt Nam trên đường hội nhập kinh
tế quốc tế” của Vũ Ngọc Kỳ, ngoài việc luận bàn về những định hướng, nội dung và
những nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế với nền kinh tế nói chung và nông
thôn Việt Nam nói riêng, tác giả còn nhấn mạnh tới yêu cầu cần giáo dục người ND
những chuẩn mực đạo đức trong SXKD để có thể đứng vững trong điều kiện hội
nhập. Cụ thể, tác giả cho rằng chuẩn mực quan trọng nhất cần được giáo dục là chữ
tín và cạnh tranh lành mạnh. Tác giả nhấn mạnh: “Uy tín đại diện cho sức mạnh
cạnh tranh, hầu như không thể bắt chước, rất dễ đánh mất và rất khó khăn khi gây
dựng lại. Điều này đặc biệt quan trọng, nhất là với người nông dân trong giai đoạn
nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020, do Nxb Chính
trị Quốc gia phát hành năm 2010. Ngoài việc đi sâu phân tích một số vấn đề lý luận
và các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của ND vùng đồng bằng sông Hồng, tác giả
còn đề cập tới tình trạng vi phạm và xuống cấp về mặt đạo đức như là một hệ quả của
thực trạng thiếu việc làm. Từ đó, tác giả nhấn mạnh với vai trò của giáo dục chuẩn
mực đạo đức cho người ND trong quá trình CNH, HĐH. Coi đó là một giải pháp góp
phần xây dựng giai cấp ND Việt Nam vững mạnh toàn diện.