1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Khí hậu ở vùng Nam Trung Bộ phân chia thành hai mùa khô và mưa rõ rệt,
mùa khô thường kéo dài 8 tháng, từ tháng 1 đến tháng 8, trong đó lượng mưa chỉ
chiếm khoảng 20-25 % tổng lượng mưa năm. Mùa mưa kéo dài 4 tháng từ tháng 9
đến tháng 12, trong đó lượng mưa chiếm khoảng 75-80% tổng lượng mưa năm.
Lượng mưa trung bình năm ở vùng Nam Trung Bộ từ 1000 - 2200 mm. Lượng mưa
ở tỉnh Ninh Thuận < 1.000 mm/năm. Hàng năm có hai loại gió chính là gió Đông
Bắc và gió Tây Nam với tốc độ trung bình từ 2 - 3 m/s. Nhiệt độ bình quân năm là
26,50 C (Dương Anh Tuấn và Nguyễn Duy Trang, 2002) [46]. Vì vậy, việc nghiên
cứu các loài cây trồng có thể thích nghi với điều kiện khí hậu và đất không thuận lợi
(đất khô hạn về mùa khô, nhiệt độ quá cao trên bề mặt cát vào mùa hè, đất cát
nghèo dinh dưỡng, gió mạnh) là một vấn đề cần được đặt ra. Bằng nhiều nguồn đầu
tư khác nhau, diện tích rừng trồng của các tỉnh vùng Nam Trung Bộ đã tăng lên
đáng kể trong thời gian qua. Sự gia tăng diện tích rừng trồng đã góp phần nâng cao
chức năng phòng hộ của rừng, mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp, giải quyết
một phần về nhu cầu gỗ, củi và cải thiện đời sống cộng đồng. Tuy nhiên, việc trồng
rừng trên vùng đất khô hạn đang gặp rất nhiều khó khăn về chọn lựa loài cây trồng
thích hợp, những loài được chọn lựa để trồng rừng chủ yếu là Neem (Xoan chịu
hạn), Phi lao, Keo chịu hạn, Keo lá tràm, Keo lai,… trong đó hai loài Neem và Phi
lao có khả năng thích nghi tốt với vùng đất khô hạn (Phạm Thế Dũng và cộng sự,
2010) [6].
Cóc hành (Azadirachta excelsa (Jack) Jacobs) là một trong thành phần cấu
thành hệ thực vật kiểu rừng thưa cây lá rộng, hơi khô nhiệt đới (rtr) (Thái Văn
Trừng, 1978) [41] thuộc các tỉnh Nam Trung Bộ. Khác với nhiều loài cây gỗ khác,
Cóc hành là loài cây ưa sáng, tán kín, lá xanh gần như quanh năm, ra hoa và nảy
chồi vào những tháng khô hạn nhất trong năm. Đây là loài đa mục đích, có giá trị
3
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung
Bổ sung một số đặc điểm sinh học của Cóc hành góp phần làm cơ sở cho
việc xây dựng các biện pháp kỹ thuật trồng rừng cung cấp gỗ ở vùng khô hạn Nam
Trung Bộ.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định được một số đặc điểm sinh học của Cóc hành.
- Xác định được các biện pháp kỹ thuật trồng rừng Cóc hành ở vùng khô hạn
Nam Trung Bộ.
4. Những đóng góp mới của luận án
- Đã bổ sung được một số cơ sở khoa học về đặc điểm sinh học, nhất là đặc
điểm lâm học, lượng hóa được một số đặc điểm sinh lý, sinh thái của loài Cóc hành
tại vùng khô hạn Nam Trung Bộ làm cơ sở nghiên cứu và phát triển bền vững rừng
trồng Cóc hành.
- Bước đầu đề xuất được một số kỹ thuật tạo cây giống và trồng rừng Cóc
hành làm cơ sở xây dựng các dự án phát triển rừng vùng khô hạn Nam Trung Bộ.
5. Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây Cóc hành phân bố tự nhiên tại một số
tỉnh Nam Trung Bộ, cây con trong vườn ươm và cây rừng trồng Cóc hành tại hai
tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận.
5.2. Giới hạn nghiên cứu
* Giới hạn về nội dung nghiên cứu:
i) Luận án chỉ nghiên cứu một số đặc điểm sinh học cơ bản, gồm: 1) Đặc
điểm phân bố và điều kiện sinh thái loài; 2) Quan hệ Cóc hành với các loài trong
quần xã thực vật; 3) Đặc điểm vật hậu; 4) Đặc điểm sinh lý; 5) Đặc điểm cấu trúc
Thí nghiệm điều kiện gây trồng, phương thức trồng, làm đất, bón phân, mật
độ trồng được theo dõi từ khi trồng đến lúc cây 4 năm.
6. Cấu trúc luận án
Luận án gồm có 150 trang, 36 hình, 67 bảng và các phụ lục kèm theo
5
Kết cấu thành các phần như sau :
Phần mở đầu: 5 trang
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu về cây Cóc hành: 20
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu: 32 trang
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 79 trang
Kết luận, tồn tại và kiến nghị: 4 trang
Sa-dao-thiam. Tên thương mại của Cóc hành là Sentang (Dorthe Jøker, 2000) [60].
* Nghiên cứu đặc điểm hình thái
Cóc hành là loài cây gỗ lớn, có thể cao tới 50 m và đường kính tới 125 cm.
Khi sinh trưởng vỏ nứt ra và bong từng mảng dài, màu nâu hồng hay nâu xám,
chuyển sang màu nâu nhạt hoặc vàng xám khi cây già, bên trong vỏ cây màu đỏ
cam.
7
Lá Cóc hành mọc so le nhau, lá kép lông chim không có lá chét. Cánh lá dài
60 - 90 cm, có 7 - 11 đôi lá, lá không cân đối, có hình mũi giáo hay hình elip, dài
khoảng 12,5 cm, rộng 3,5 cm, mép lá không có răng cưa, màu xanh bóng. Hoa tự
chùm, nhỏ có hình sao, màu trắng hơi xanh, mùi thơm hơi ngọt và đắng. Hoa có
năm cánh, cánh hoa dài 5 - 6,5 mm, rộng từ 1,2 - 2,5 mm, nhụy hoa dài 4 mm, bầu
nhụy có ba lá noãn, mỗi lá noãn có hai ngăn và một đầu nhụy, thùy dài 70 mm. Quả
mọc đơn, cùi dày, nhiều thịt, nhựa màu trắng. Quả non có màu xanh, khi chín
chuyển sang màu vàng. Quả dài 20 – 25 mm, dày 10 - 12 mm, khi cắt hay nghiền
nát có mùi của tỏi, mỗi kilogram quả có khoảng 500 hạt. Khi cây còn non, vỏ cây có
màu vàng nhạt hay nâu xám. Khi cây già, vỏ chuyển sang màu nâu hay vàng xám.
Cây trồng từ sáu đến bảy năm bắt đầu ra hoa và quả, hoa nở vào cuối tháng hai đến
đầu tháng ba, quả bắt đầu chín từ giữa tháng 5 đến tháng 6 (Dorthe Jøker, 2000) [60];
Affendy H và cs, 2009 [52]).
Như vậy, việc định loại, tên gọi và mô tả hình thái cũng như cấu tạo giải phẫu
loài Cóc hành là tương đối rõ ràng, không chỉ có tác dụng nhận biết và phân biệt
loài mà còn làm cơ sở cho việc sử dụng một số sản phẩm của Cóc hành thông qua
những mô tả về hình thái cấu tạo giải phẫu các bộ phận của cây.
* Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh thái
Theo Lim và cs (2006) [75], Cóc hành phân bố tự nhiên ở rừng nguyên sinh và
rừng thứ sinh tại những vùng đất ẩm thấp thuộc khu vực ở Đông Nam Á - Thái Bình
thái rừng rụng lá theo mùa và rừng nửa rụng lá (Kijkar. S, 1995) [71].
Nghiên cứu của Florido Helen và Priscilla Mesa (2001) [64] cho thấy, Cóc
hành thích hợp với nơi có lượng mưa hàng năm từ 400 - 2000 mm/năm, nhiệt độ
trung bình từ 22 – 250C, độ cao từ 250 - 300 m so với mặt nước biển, đất màu mỡ,
thoát nước tốt, đất cát mùn hoặc mùn cát với độ pH từ 5,0 - 6,5 (Ahmad Zuhaidi Y, G.
Weinland, 1995) [53]. Tốc độ tăng trưởng của Cóc hành trên đất bằng phẳng tốt hơn
so với trên sườn núi hoặc ở khu vực miền núi (Nor Farika Zani và cs, 2013) [83]. Cóc
hành sinh trưởng rất kém ở những nơi đất bị ngập nước, có khí hậu quá lạnh và kéo
dài.
9
1.1.2. Nghiên cứu về đặc điểm vật hậu và nhân giống Cóc hành
* Nghiên cứu đặc điểm vật hậu
Theo Dorthe Jᴓker (2000) [60], thời gian ra hoa và kết quả của Cóc hành
thay đổi giữa các địa phương. Ở phía bắc Thái Lan, Cóc hành rụng lá vào tháng
giêng tới tháng hai. Lá non mọc ngay khi lá già rụng xuống, khi lá mới chuyển sang
màu xanh cây bắt đầu ra hoa. Cóc hành ra hoa từ tuổi 6 đến tuổi 7. Hoa ra từ tháng
2 đến tháng 3, Hoa có mùi thơm, dài từ 5,0 - 6,5 mm, rộng từ 1,5 - 2,5 mm và bông
dài khoảng 4 mm. Nhụy chia thành ba lá noãn (Kijkar, 1995) [71]. Tại các vĩ độ
thấp hơn của Thái Lan, quả Cóc hành chín từ giữa tháng 4 và đến tháng 6, đôi khi
chín muộn vào tháng 10 đến tháng 12. Ở các vĩ độ cao hơn quả chín sớm hơn. Quả
thường có kích thước từ 2,5 - 3,5cm, dài và thuôn dài, khi non có màu xanh, khi
chín màu vàng bên trong có một hạt lớn (dẫn theo Đặng Quốc Thông, 2004) [38],
Nordahlia AS và cs, 2013) [83]. Hạt Cóc hành dài từ 20 - 25 mm, rộng 10 - 12 mm
(Lim và cộng sự, 2006 [75]; Kiijkar, 1995) [71].
Amnuayporn Choldumrongkul và cộng sự (1993) [55] đã xác định các loài
côn trùng tham gia thụ phấn cho hoa Cóc hành ở Thái Lan. Theo đó, côn trùng thụ
phấn cho các cụm hoa của Cóc hành thuộc về bộ cánh màng, bộ cánh cứng và bộ 2
vài tuần. Bảo quản hạt bằng cách lưu trữ trong bao tải với mùn cưa hoặc để ở nơi
thoáng mát. Độ ẩm của hạt khoảng 50% trong bảo quản sẽ đảm bảo tỷ lệ nẩy mầm
cao. Hạt Cóc hành có thể được gieo trực tiếp trong túi bầu (Ong Kian Huat và cs,
2002) [84] hoặc trồng trong khay hay một luống theo hàng. Sau khi gieo, các hạt
được phủ một lớp đất hoặc cát với độ dày từ 0,5 - 1,0 cm; sau đó phủ rơm và tưới
nước đủ ẩm. Sau khi gieo khoảng 1 tuần, hạt giống sẽ nảy mầm. Tỷ lệ nảy mầm của
hạt là 75 - 80%. Sau khi nảy mầm, cây con cần được che sáng ít nhất 50% và giảm
dần tỷ lệ che sáng khi cây cao khoảng 30 cm trở lên. Cây giống có thể được chuyển
sang túi bầu lớn (5*8 cm) khi hai cặp lá đã phát triển. Cây 3 - 4 tháng tuổi có chiều
cao khoảng 30 - 40 cm có thể đem trồng rừng [60].
Tại Thái Lan, người ta khuyến khích dùng ruột bầu gồm xơ dừa và đất có
phân với tỷ lệ 3:1, kết hợp với phân bón nén dạng Osmocote khoảng 0,5 g cho mỗi
túi bầu, đây là dạng phân hỗn hợp rất tốt cho sinh trưởng của cây con Cóc hành
(Jintana Bupabanpot và cs, 2006 [67]; Nordahlia Binti Abdullah Siam, 2009 [83]).
Cây giống nên được phun hàng tuần bằng thuốc trừ sâu khi cây con cao từ 30 - 40
11
cm. Cây con 6 tháng là độ tuổi tốt nhất cho trồng rừng. Ít nhất một tháng trước khi
trồng, tất cả các cây giống cần hạn chế tưới nước và dỡ giàn che hoàn toàn. Cắt rễ
thường được sử dụng cho sản xuất quy mô lớn (Chungpongse và cs, 1991) [59].
Theo Ong Kian Huat và cộng sự (2002) [85], thời gian ươm cây trong vườn
là 06 - 12 tháng, trước khi trồng rừng một tháng nên tiến hành đảo bầu 1 lần, khi đó
mới tiến hành đưa cây đi trồng, bình quân 1 kg hạt giống có thể trồng 2 - 3 ha.
Jintana Bupabanpot và cs (2006) [67] đã nghiên cứu về ảnh hưởng che sáng
đến tốc độ sinh trưởng và chất lượng cây con Cóc hành tại Songlkha, miền Nam
Thái Lan. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với bốn công thức che sáng
khác nhau: Che 90%, che 70%, che 50% và không che với ba lần lặp lại cho mỗi
nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cây con ở các chế độ che sáng có tốc độ
Một số nghiên cứu về tính chất cơ lý gỗ Cóc hành ở Malaysia cho thấy, gỗ
Cóc hành có khối lượng trung bình, gỗ cứng, tâm gỗ có màu nâu đỏ và phân định rõ
ràng từ màu vàng - trắng. Dác gỗ màu trắng hoặc đôi khi màu hồng xám. Khối
lượng gỗ là 550-780 kg/m3 ở độ ẩm 15%. Gỗ cứng và nặng vừa phải, khối lượng
trung bình khô kiệt 427-770 kg/m3 và thay đổi theo tuổi cây, co rút trung bình 0,5%
với cả hai chiều xuyên tâm và tiếp tuyến [65], [75], [93]. Không có sự khác biệt về
tính chất cơ học gỗ của cây ở rừng trồng và rừng tự nhiên. Bằng quan sát, người ta
chỉ ra rằng có sự khác biệt về màu sắc của gỗ lõi và gỗ dác giữa cây trồng bằng hạt
và cây trồng bằng hom. Cây già có tỷ lệ gỗ dác ít hơn so với cây non [82], [75],
[93]. Chất lượng gỗ Cóc hành được trồng từ hom tốt hơn so với chất lượng gỗ được
trồng từ cây hạt. Gỗ Cóc hành 10 tuổi ở rừng trồng được xem như phù hợp cho mục
đích đóng đồ gia dụng, nội thất, gỗ lạng (veneer) và gỗ dán. Vì vậy, trong công
nghiệp không nhất thiết phải chờ đến khi cây 15 tuổi .
Theo Florido Helen, Priscilla Mesa (2001) [64] thì gỗ Cóc hành còn có nhiều
công dụng khác như gỗ có chất lượng tốt dùng trong các công trình xây dựng, bản
khắc trang trí, làm cửa, đồ trang trí nội thất và đóng tàu.
Thành phần hóa học và công dụng của vỏ, lá, hạt
Ermel và cộng sự đã chiết xuất từ hạt Cóc hành chất marrangin, một dạng
limonoid, có tác dụng điều tiết sinh trưởng côn trùng tương tự như azadirachtin.
Đồng thời, tác giả cũng đã tách ra chất azadirachtin B và ba chất tương tự chất
azadirachtin khác từ gỗ Cóc hành. Hai trong số các chất tìm được là chất mới, tuy
13
nhiên chưa xác định được hàm lượng các chất này. Tác giả cho rằng chất chiết xuất
từ thân Cóc hành có thể so sánh với hiệu quả của chất chiết xuất từ hạt Neem. Tại
Malaysia, chính phủ đã ban hành bằng sáng chế về việc sử dụng chất chiết xuất từ
gỗ Cóc hành để kiểm soát côn trùng và thuốc trừ sâu thực vật cơ bản (dẫn theo
Murray B.Isman, 2005) [77].
trị bệnh có nhiều đờm trong cuống họng. Vỏ rễ chữa nôn mửa, điều trị bệnh ngoài
da. Rễ tơ làm thuốc trị giun có trong ruột. Vỏ cây có chứa tannin dùng làm phẩm
nhuộm. Ngoài ra, Cóc hành còn có khả năng cải tạo đất, chống xói mòn, lá sử dụng
làm phân bón trong nông nghiệp, trồng làm hàng rào chắn gió hoặc đai bảo vệ,
trồng ven đường, cây bóng mát và cho củi đốt [94], [64], [77], [93].
Thí nghiệm cũng nghiên cứu ảnh hưởng của dịch trích từ lá cây Cóc hành
bằng ba loại dung môi khác nhau eter dầu hỏa, chloroform, methanol đối với mối
Coptotermes gestroi Wasmann. Kết quả cho thấy dịch trích bằng các loại dung môi
và nồng độ khác nhau có ảnh hưởng quan trọng đối với khả năng hấp thụ thức ăn và
sự sống sót của mối trong đó dịch eter dầu hỏa có hoạt tính mạnh nhất tiếp theo là
dịch chloroform và metanol [94].
1.1.4. Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng Cóc hành
Gây trồng và đánh giá sinh trưởng của Cóc hành tuy còn là vấn đề mới
nhưng cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, đặc biệt tại Thái Lan và
Malaysia.
Tại Malaysia, Cóc hành chưa trồng trên quy mô lớn, nhưng có một số thử
nghiệm trên quy mô nhỏ. Tại bán đảo này, Cóc hành có thể được trồng bằng cây rễ
trần, tái sinh bằng gốc hoặc cây con có bầu. Cóc hành có thể sống và phát triển
trong điều kiện bị che sáng. Khoảng cách giữa các cây trồng là yếu tố quan trọng để
đạt được hình dáng thân mong muốn (Ahmad Zuhaidi Y, G. Weinland, 1995 [53],
Mohd Farid, và cộng sự, 2001) [79].
Vị trí trồng và các chất dinh dưỡng trong đất trồng Cóc hành liên quan đến
sinh trưởng của cây. Cóc hành 2 tuổi có sinh trưởng tương đối tốt trên các loại đất
chua nghèo dinh dưỡng. Giai đoạn rừng non, sự phát triển của Cóc hành chịu ảnh
hưởng mạnh bởi độ dốc (hoặc độ dày tầng đất) và chất dinh dưỡng trong đất (đặc
biệt là K). Sinh trưởng của Cóc hành bị hạn chế khi trồng trên sườn dốc và có tầng
đất nông. Mức độ và loại phân bón được áp dụng với các phương pháp áp dụng trên
15
16
các loài này có thể làm tăng độ màu mỡ đất do lượng vật rơi rụng hoàn trả lại cho
đất do tăng khả năng trao đổi cation, tăng tổng carbon, nitơ tổng số, pH và trao đổi
Al. Kết quả đánh giá tăng trưởng về đường kính và chiều cao cũng cho thấy, sau 6
năm trồng loài Cóc hành (Azadirachta excelsa) có tăng trưởng cao nhất (1,4
cm/năm về đường kính và 1,41 m/năm về chiều cao). Trong khi đó loài
Cinnamomum iners tăng trưởng đứng thứ 2 cũng chỉ đạt 1,35 cm/năm về đường
kính và 1,12 m/năm về chiều cao. Tỷ lệ sống của Cóc hành đạt cao (73,3%) đứng
thứ 2 sau Cinnamomum iners (đạt 77,5%). Tác giả đi đến nhận xét loài Cóc hành có
khả năng thích nghi tốt với môi trường khắc nghiệt, đặc biệt là độ chặt đất cao, hàm
lượng các chất dinh dưỡng trong đất thấp, đất bị suy thoái và là một trong những
loài có tiềm năng rất lớn trong các dự án phục hồi rừng tương lai.
Cóc hành là loài mới được đưa vào trồng rừng tại các nước trên thế giới nên
những đánh giá về hiệu quả kinh tế còn rất khiêm tốn. Tại Hội thảo quốc gia về
trồng cây lấy gỗ thương mại (1997) do FAO [68] tổ chức tại Malaysia đã cho thấy,
Cóc hành (Sentang) trồng hỗn hợp với Cao su (Hevea) sẽ cho hiệu quả kinh tế cao
hơn khi trồng riêng rẽ Cao su hoặc Cóc hành. Mô hình trồng Cóc hành đơn lẻ với
chu kỳ 15 năm (diện tích 40 ha, mật độ trồng 833 cây/ha, mật độ cuối cùng 300
cây/ha, tỉa thưa vào năm thứ 5 và 10) cho giá trị hiện tại thuần NPV 0,32 triệu RM
(hoặc 8,000 RM/ha), tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ IRR đạt 15%. Trong khi đó, mô hình
hỗn giao Cóc hành - Cao su chu kỳ 20 năm (diện tích 40 ha, Cao su trồng 400
cây/ha ban đầu, dự kiến tỉa thưa tự nhiên còn lại 340 cây/ha khi thu hoạch mủ và
gỗ; Cóc hành trồng 533 cây/ha xen giữa hàng cao su, mật độ để lại 195 cây/ha, tỉa
thưa năm 3 và năm thứ 5) cho giá trị NPV 0,45 triệu RM (11,250 RM/ha), IRR đạt
16,1%. Báo cáo đã đánh giá việc trồng rừng Cao su xen Cóc hành được coi là thích
hợp cho diện tích đất đai nhỏ, và được tiến hành để tối đa hóa doanh thu từ gỗ Cóc
hành trong khi đảm bảo một tính liên tục từ thu nhập hàng năm thời kỳ khai thác mủ
Chi Azadirachta có 2 loài là Azadirachta excelsa (Jack) Jacobs và Azadirachta
indica Juss; chi Melia có 3 loài là Melia azadarach L. (Xoan nhà), Melia azadarach
cultivar toosendan (Xoan đào) và Melia toosendan S et Z. (Khổ luyện tử) (Phạm
Hoàng Hộ, 1999) [15].
Ở Việt Nam, Cóc hành còn có tên gọi khác là Sầu đâu cao (Phạm Hoàng Hộ,
18
1999) [15], Xoan Ninh Thuận, Neem Ninh Thuận, Xoan rừng (Đặng Thị Như
Quỳnh, 2001) [26], Nguyễn Việt Cường, 2010) [4]. Theo Phạm Hoàng Hộ (1999)
[15], Cóc hành ở Việt Nam có tên khoa học là Azadirachta excelsa (Jack) Jacobs,
thuộc họ Xoan (Meliaceae). Phần lớn cây gỗ của họ Xoan có lá kép lông chim 1 lần,
ít khi lá đơn mọc cách. Cây gỗ của họ Xoan cũng rất gần với họ Cam (Rutaceae) và
có nhiều điểm chung với họ Thanh thất (Simaroubaceae ). Tuy vậy, hoa của chúng
thường lưỡng tính, nhị thường hợp thành ống (Trần Hợp, 2002) [16] .
* Nghiên cứu về đặc điểm hình thái
Hình thái là những điểm khác biệt bề ngoài giúp cho việc nhận diện các loài
khác nhau thậm chí là cùng một loài ở các giai đoạn tuổi khác nhau. Thông thường
hình thái của các loài khác nhau có sự khác nhau, ngay cả trong cùng một loài đặc
điểm hình thái cũng có sự biến đổi theo giai đoạn tuổi. Tuy nhiên, chỉ đặc điểm ổn
định, phản ảnh bản chất của loài mới giúp ích cho việc nhận biết chúng một cách dễ
dàng, các đặc điểm khác có thể gây nên sự nhầm lẫn. Do vậy, trong phân loại thực
vật, nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài là rất cần thiết làm cơ sở cho việc nhận
biết và phân loại giữa các loài với nhau (Võ Đại Hải và cộng sự, 2010) [11].
Cóc hành ở Việt Nam là cây gỗ lớn, lá có sóng dài 20-30 cm, mang lá phụ
xoan, bầu dục dài 4-7 cm, đầu nhọn, đáy tà tròn, bất xứng, bìa nguyên, mặt trên nâu,
mặt dưới nâu nhợt, gân phụ 8 cặp, cuống phụ 4-6 mm. Phát hoa ở nách lá, chùm tụ
tán dài 10 – 13 cm, nhánh dài 1,5 - 2 cm, lá đài không lông; cánh hoa dài 5 - 6 mm,
không lông; tiểu nhụy dính thành ống, bao phấn 10, gắn trước một phiến có hai
di truyền của các dòng cây trội đã được tuyển chọn, tác giả chỉ ra rằng các cây trội
có mức độ đa dạng di truyền thấp mặc dù đều được chọn lọc ở rừng tự nhiên và có
khoảng cách khá xa về không gian (Nguyễn Việt Cường, Phạm Đức Tuấn, 2007)
[5]. Qua hệ số tương đồng, tác giả đã loại bỏ 6 cặp gia đình có quan hệ di truyền
gần gũi. Bên cạnh đó, tác giả đã lai thành công tổ hợp lai khác chi là loài A. excelsa
thuộc chi Azadirachta và M. azadarach thuộc chi Melia, tuy nhiên chưa thấy sự
khác biệt về sinh trưởng giữa cây lai 1 năm tuổi và bố mẹ ở rừng trồng. Với kết quả
nghiên cứu ban đầu về nhân giống sinh dưỡng, tác giả cũng khuyến cáo có thể áp
dụng phương pháp ghép áp và ghép nêm để nhân giống vô tính Cóc hành. Tác giả
cũng đã xây dựng được 1,5ha vườn giống tại lâm trường Ninh Sơn - Ninh Thuận từ
20
vật liệu là 49 gia đình được chọn. Sau 3 năm, sinh trưởng trung bình của các gia
đình là: H = 2,7m; D = 2,7cm, tỷ lệ sống đạt từ 70,8 - 100%. Từ đó đã xác định
được 5 gia đình có sinh trưởng và chất lượng thân cây vượt trội trong khảo nghiệm,
tuy nhiên, với thời gian theo dõi ngắn chưa thể khẳng định chắc chắn gia đình có
năng suất cao nhất.
Bên cạnh nghiên cứu của Nguyễn Việt Cường (2010) [4], Phạm Thế Dũng và
cộng sự (2010) [6] đã nghiên cứu kỹ thuật nhân giống một số loài cây bản địa trong
đó có Cóc hành. Kết quả cho thấy sau 50 ngày giâm hom, Cóc hành có tỷ lệ hom ra
rễ, số lượng rễ, chiều dài trung bình rễ, tỷ lệ hom có mô sẹo ở giá thể cát cao hơn so
với giá thể tro cát (tỷ lệ hom ra rễ ở giá thể cát là 29% trong khi ở giá thể tro cát
22%). Nếu sử dụng thêm chất kích thích IBA thì cải thiện sinh trưởng chiều dài rễ
tốt hơn (Khi sử dụng IBA thì bình quân chiều dài rễ của hom là 26,4 cm dài hơn so
với không sử dụng IBA là 16,4%). Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho tỷ lệ ra rễ
chưa cao.
Kết quả nghiên cứu chọn giống Cóc hành tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình
Thuận, Hà Thị Mừng và cộng sự (2015) [22] đã chọn được 73 cây mẹ từ 7 xuất xứ
và nimbin cũng đã được tìm thấy trong cây Cóc hành và có hàm lượng tương đương
nhau. Hoạt chất azadirachtin được kiểm chứng có tác dụng tốt trong việc ngăn chặn
sự gây hại của côn trùng. Chất này có hiệu lực đối với hầu hết các loài sâu hại và
côn trùng. Bã hạt Xoan chịu hạn Ninh Thuận cũng là một nguồn phân bón phong
phú, trong bã Xoan chịu hạn Ninh Thuận có nhiều N, P, K và Mg hơn phân gia súc.
Nó có thể dùng làm phân bón cho cây trồng đặc biệt là mía và rau. Bã xoan chịu
hạn Ninh Thuận có khả năng bảo vệ rễ cây, phòng ngừa tuyến trùng và kiến trắng
gây hại.
Viện phòng trừ mối và Bảo vệ công trình (2009) [49] đã khảo sát những chế
phẩm được sản xuất từ cây Cóc hành trên các đối tượng như sâu tơ, sâu khoang, sâu
xanh, bướm trắng. Kết quả cho thấy, các chế phẩm này đều có tác dụng tốt trong
việc hạn chế, ngăn chặn và xua đuổi các loại côn trùng có hại này. Ví dụ hoạt chất
Azadirachtin gây ngán ăn cho sâu tơ 57% và cho sâu khoang 62%; hoặc sâu tơ
không hóa nhộng hoặc vũ hóa nếu gặp dịch chiết bằng nước với nồng độ 4% từ hạt
cây Cóc hành; hiệu quả tương tự đối với sâu xanh, bướm trắng khi dùng 0,5 đến 1%
chế phẩm hạt Cóc hành. Các chế phẩm từ cây Cóc hành hầu như vô hại đối với các
22
loài sâu có ích. Các chế phẩm thường gặp hiện nay được sản xuất từ các bộ phận
của Cóc hành là bột khô (dùng lá, hạt cóc hành phơi khô, nghiền thành bột mịn); bột
khô hoặc bột còn tươi được ngâm với nước và lọc sạch để phun; dịch chiết được sản
xuất bằng cách dùng các dung môi như acetol, ethanol,…hoặc nước để chiết tách
hoạt chất từ hạt và lá cây Cóc hành để tạo chế phẩm trừ sâu [9].
Nguyễn Thị Bích Ngọc và cộng sự (2009) [24] đã nghiên cứu hiệu lực phòng
mối gây hại lâm sản của dịch chiết nhân hạt Cóc hành. Kết quả cho thấy nơi có mối
Coptotermes formosanus Shiraki hoạt động mạnh thì dịch chiết từ dung môi etanol
cho hiệu lực tốt khi xử lý mẫu gỗ theo cả 2 cách là nhúng và ngâm trong dung dịch
chiết ở tất cả các công thức khảo nghiệm (tỷ lệ khối lượng: Cóc hành/etanol là: 1:2;
thư gan (Hep G2) và ung thư biểu mô vú (MCF 7), dịch chiết của lá và vỏ có biểu
hiện hoạt tính chống oxy hoá trên hệ DPPH.
1.2.4. Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng Cóc hành
Trong 5 năm (2005 - 2010) [33], tác giả Huỳnh Thị Thanh Thủy cùng các
cộng sự thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu phát triển cây xoan (Neem) chịu
hạn (Azadirachta indica Juss) và cây Cóc hành (Azadirachta sp.) ở Đắk Lắk và sản
xuất thử một số chế phẩm sinh học phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng”. Kết quả
nghiên cứu về thí nghiệm trồng rừng cho thấy, Cóc hành có khả năng sinh trưởng
phát triển tốt tại một số điều kiện lập địa tỉnh Đắk Lắk. Sau 4 năm trồng tại huyện
Ea Súp, sinh trưởng trung bình đường kính gốc cây Cóc hành đạt D00 = 7,23 cm;
chiều cao cây đạt Hvn = 2,80 m và đường kính tán đạt Dt = 1,63 m. Vườn cây sinh
trưởng và phát triển bình thường; Sau 3 năm trồng tại Ea Kar và Buôn Mê Thuột,
sinh trưởng trung bình đường kính gốc cây Cóc hành đạt D00 = 6,65 cm; chiều cao
cây đạt Hvn = 3,42 m và đường kính tán đạt Dt = 1,80 m.
Huỳnh Thúc Hải (2007) [10] đã thử nghiệm trồng 11,5 ha Cóc hành trên loại
đất cát trắng vàng tại xã Hòa Phú, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận với mật độ
ban đầu là 1250 cây/ha, trồng hỗn giao theo hàng với Keo lai. Kết quả sau 2,5 năm
tỷ lệ sống của Cóc hành tương đối cao (89,1%), đường kính gốc bình quân 3,7cm,
chiều cao 130 cm, tốc độ tăng trường bình quân D=2,0 cm và H=60 cm. Đặc biệt
Cóc hành có khả năng tăng trưởng nhanh về đường kính và chiều cao vào mùa khô.
24
Theo Phạm Thế Dũng và công sự (2010) [6] trong nghiên cứu kỹ thuật gây
trồng một số loài cây bản địa cho rằng, Cóc hành có thể trồng trên đất xám, cát pha
trong số 7 loại đất được điều tra tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận để gây
trồng. Thí nghiệm về phân bón rừng trồng Cóc hành trên đất cát đỏ cho thấy bón lót
phân hữu cơ vi sinh liều lượng 0,5- 1kg/cây hoặc bón than với liều lượng 1 kg/cây
khi trồng trên đất cát đỏ cây có sinh trưởng tốt hơn. Sau 3 năm trồng cây có sinh
Điểm qua các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về các vấn
đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, có thể rút ra một số nhận xét như sau:
- Trên thế giới các công trình nghiên cứu về cây Cóc hành tuy không nhiều
nhưng cũng cung cấp một số thông tin về mặt phân loại, tên gọi, mô tả hình thái,
giải phẫu, giá trị sử dụng, các đặc tính sinh thái,… Những nghiên cứu này là cơ sở
khoa học cho việc gây trồng và phát triển loài cây này ở các nước trên thế giới
những năm qua.
- Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về Cóc hành, tuy nhiên
mang tính chất đơn lẻ và chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực phân loại, hình thái,
công dụng. Đặc biệt, còn thiếu những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, đặc điểm
lâm học làm căn cứ cho các kỹ thuật chọn giống, nhân giống, biện pháp kỹ thuật
trồng rừng thâm canh cũng như nghiên cứu tính chất gỗ và hàm lượng các chất có
giá trị cao trong lá, vỏ, rễ của Cóc hành ở vùng khô hạn Nam Trung Bộ. Cụ thể là:
+ Mới khảo sát ban đầu về phân bố của Cóc hành ở các tỉnh Ninh thuận và
Bình Thuận, chưa điều tra phân bố cũng như nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài
ở vùng mở rộng hơn.
+ Mặc dù Cóc hành đã được các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận đưa vào gây
trồng trong những năm gần đây nhưng chưa có tổng hợp, đánh giá các mô hình
trồng rừng.
+ Một số công trình đã nghiên cứu về kỹ thuật trồng thâm canh Cóc hành ở
vùng khô hạn Nam Trung Bộ, tuy nhiên do thời gian theo dõi mô hình thí nghiệm
ngắn, nhất là các mô hình nghiên cứu về mật độ trồng, phương thức trồng,… nên
kết quả nghiên cứu mới chỉ là bước đầu.
Tóm lại, các công trình công bố liên quan đã đưa ra một số thông tin về phân
bố, giá trị sử dụng và gây trồng Cóc hành. Tuy nhiên, từ những phân tích ở trên cho
thấy, các công trình chưa nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về loài cây đa
tác dụng này, hoặc thời gian nghiên cứu, theo dõi chưa đủ dài để kết luận một cách