ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRẦN THU THẢO
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
THUỘC NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2018
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRẦN THU THẢO
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
THUỘC NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Người hướng dẫn khoa ho ̣c: PGS.TS TRẦN ĐÌNH KHÔI NGUYÊN
Đà Nẵng - Năm 2018
1.2.2. Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource dependency theory) ... 29
1.2.3. Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory)........................................... 29
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN . 31
1.3.1. Các nhân tố liên quan đến đặc điểm doanh nghiệp ...................... 31
1.3.2. Các nhân tố liên quan đến quản trị và kiểm soát .......................... 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................................................ 37
CHƯƠNG 2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ................................................... 38
2.1. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ............ 38
2.1.1. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................... 38
2.1.2. Mô hình nghiên cứu ...................................................................... 43
2.2. ĐO LƯỜNG BIẾN TRONG MÔ HÌNH ................................................. 44
2.2.1. Đo lường biến phụ thuộc – chất lượng lợi nhuận ......................... 44
2.2.2. Đo lường biến độc lập ................................................................... 46
2.3. THIẾT KẾ THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU ....................................... 49
2.3.1. Chọn mẫu nghiên cứu ................................................................... 49
2.3.2. Quy trình phân tích dữ liệu ........................................................... 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2................................................................................ 51
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................... 52
3.1. THỐNG KÊ MÔ TẢ CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH........................... 52
3.1.1. Thống kê mô tả các biến độc lập .................................................. 52
3.1.2. Thống kê mô tả biến phụ thuộc..................................................... 54
3.2. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN VÀ HỒI QUY ..................... 55
3.2.1. Phân tích tương quan .................................................................... 55
3.2.2. Kiểm định đa cộng tuyến .............................................................. 56
3.2.3. Kết quả phân tích hồi quy ............................................................. 57
3.2.4. Phân tích kết quả nghiên cứu ........................................................ 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3................................................................................ 68
CHƯƠNG 4. HÀM Ý CHÍNH SÁCH TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ... 69
BGĐ
: Ban Giám đốc
CBTT
: Công bố thông tin
CLLN
: Chất lượng lợi nhuận
CTCP
: Công ty cổ phần
DN
: Doanh nghiệp
HĐKD
: Hoạt động kinh doanh
HĐQT
: Hội đồng quản trị
HNX
bảng
1.1.
2.1.
2.2.
2.3.
Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng
lợi nhuận từ các nghiên cứu trước
Các giả thuyết nghiên cứu và mối quan hệ với các
lý thuyết nền tảng có liên quan
Danh sách biến độc lập và phương pháp đo lường
Mã chứng khoán của 58 doanh nghiệp ngành xây
dựng niêm yết
Trang
36
42
48
49
3.1.
Thống kê mô tả các biến trong mô hình
52
3.2.
Bảng kết quả so sánh giữa FEM với REM
61
3.8.
Bảng tổng hợp các kiểm định
62
3.9.
Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết
64
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số hiệu
hình
Tên hình
Trang
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi
2.1.
nhuận của các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng
không chỉ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên trong công ty như nhà quản lý, hội
đồng quản trị, ban kiểm soát, ban điều hành và kiểm toán nội bộ mà còn chịu
ảnh hưởng bởi sự kiểm soát từ các yếu tố bên ngoài công ty như Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước, Hội Nghề nghiệp, Bộ Tài chính, cơ quan thuế, kiểm
toán độc lập và kiểm toán Nhà nước. Chính vì vậy, trong thời gian vừa qua
Việt Nam đã ban hành và chỉnh sửa bổ sung nhiều quy định nhằm tăng cường
2
kiểm soát chất lượng thông tin lợi nhuận của các công ty.
Tuy nhiên, hiện nay chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam chưa hoàn toàn tin cậy. Xuất phát
từ việc có sự chênh lệch lợi nhuận lên hàng trăm tỷ đồng giữa báo cáo tài
chính trước và sau kiểm toán. Có thể lấy ví dụ rất điển hình về sự sai lệch này
ở 1 số doanh nghiệp niêm yết như: CTCP Than Núi Béo (Mã chứng khoán
NBC) có lợi nhuận sau thuế lệch tăng 26%, CTCP Than Hà Lầm (HLC) lệch
giảm 80%, CTCP Than Cọc Sáu (TC6) lệch tăng 242%... Nhiều doanh nghiệp
tăng lãi gấp 2, gấp 4 lần trong khi có doanh nghiệp lại giảm lợi nhuận còn một
nửa, một phần năm. Sự sai lệch có hệ thống đến mức vô lý này khiến nhiều
người quan ngại về những điều bất bình thường sẽ trở thành bình thường nếu
không sớm được chấn chỉnh. Tình trạng này qua các năm không những không
giảm mà chỉ thấy tăng lên. Lợi nhuận chuyển từ lãi thành lỗ, lỗ nhiều thành lỗ
ít. Ngay cả những công ty vốn hóa lớn trên sàn, số liệu BCTC sau kiểm toán
cũng có sự chênh lệch. Cũng có không ít trường hợp, lợi nhuận sau kiểm toán
tăng lên gấp đôi, gấp ba. Hoặc như trường hợp Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước đã đình chỉ đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng là của Công ty Cổ phần
Dược phẩm Viễn Đông. Công ty này đã đưa vào bản cáo bạch chào bán cổ
phiếu một số thông tin sai lệch và bỏ sót các thông tin quan trọng, gây hiểu
nhầm và ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư. Chính điều này đã ảnh
hưởng không nhỏ đến những người tham gia thị trường dẫn đến thị trường
niêm yết là các doanh nghiệp ngành xây dựng.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng niêm
yết trên TTCK Việt Nam niêm yết trên cả 2 sàn giao dịch HOSE và HNX.
+ Phạm vi về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn 3 năm 20142016.
4
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy dữ liệu bảng để xem xét sự ảnh
hưởng của các nhân tố đến chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp thuộc
ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Dữ liệu thu
thập thông qua báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các công ty niêm
yết ngành xây dựng, công bố trên sở giao dịch chứng khoán ở Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận:
+ Hệ thống hóa và trình bày các kết quả nghiên cứu trước đây về vấn đề
này tại Việt Nam cũng như trên thế giới.
+ Xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận của
các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam từ đó
đề xuất một số biện pháp có thể sử dụng để nâng cao chất lượng lợi nhuận của
doanh nghiệp.
- Về mặt thực tiễn:
Thông qua kết quả nghiên cứu, nhằm đưa ra những bằng chứng ảnh
hưởng của các nhân tố đến chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp thuộc
ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam để làm cơ sở
kiến nghị cho những đối tượng liên quan.
6. Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ
công ty và kiểm soát nội bộ bao gồm hội đồng quản trị, tỷ lệ sở hữu vốn, chế
độ đãi ngộ, cơ chế kiểm soát nội bộ..., (4) Kiểm toán bao gồm rủi ro kinh
doanh, loại công ty kiểm toán, tính độc lập của kiểm toán..., (5) động lực của
thị trường vốn bao gồm động lực khi công ty tăng vốn, mục tiêu lợi nhuận đạt
được và (6) các nhân tố bên ngoài khác như yêu cầu của thị trường vốn, quá
6
trình chính trị, các quy định liên quan đến thuế... và mỗi nghiên cứu thường
tập trung vào một trong các nhóm nhân tố trên.
Một nghiên cứu của Qinghua và các cộng sự (2007) về mối quan hệ giữa
ủy ban kiểm toán, đặc điểm của HĐQT với chất lượng BCTC, nghiên cứu
thực nghiệm tại thị trường chứng khoán Trung Quốc, các tác giả này đã đo
lường chất lượng BCTC của các công ty niêm yết thông qua mức quản trị lợi
nhuận bằng mô hình Jones đã điều chỉnh và theo dữ liệu chéo với mẫu được
chọn là 1192 công ty trong năm 2002. Các nhân tố ảnh hưởng chất lượng
BCTC được Qinghua và các cộng sự (2007) chia thành 3 nhóm: Thứ nhất, đặc
điểm thành phần HĐQT bao gồm (1) tỷ lệ % giám đốc độc lập trong HĐQT,
(2) kiêm nhiệm TGĐ và chủ tịch HĐQT, (3) tỷ lệ % giám đốc độc lập trong
HĐQT bằng và cao hơn 1/3 và (4) tỷ lệ % giám đốc độc lập trong HĐQT cao
hơn 1/3. Thứ hai, đặc điểm chuyên gia của HĐQT bao gồm (1) thành viên
HĐQT có chuyên môn tài chính và (2) có tồn tại UBKT. Thứ ba, đặc điểm
hành vi của HĐQT bao gồm (1) tính thường xuyên cuộc họp của HĐQT, (2)
tỷ lệ sở hữu của HĐQT, (3) tỷ lệ % giám đốc đồng thời giữ vị trí kiểm soát
công ty của cổ đông. Ngoài ra, nghiên cứu còn phân tích ảnh hưởng của các
nhân tố khác (biến kiểm soát) đến chất lượng BCTC như quy mô công ty, đòn
bẩy tài chính, chủ sở hữu của nhà quản lý, lỗ trong năm trước, biến động bất
thường của hiệu quả công ty, động cơ cho quyền chào bán ngay, sự tập trung
quyền sở hữu.
Một nghiên cứu gần đây tại Bồ Đào Nha do Alves (2014) thực hiện về
7.2. Đề tài nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, chủ đề liên quan đến chất lượng lợi nhuận cũng được một
số nhà nghiên cứu quan tâm, các công trình nghiên cứu này cụ thể như sau:
Một số nghiên cứu lý thuyết về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Nguyễn
Công Phương (2009) đã cung cấp các cơ sở lý thuyết hữu ích cho các nghiên
8
cứu về việc vận dụng các chính sách kế toán nhằm điều chỉnh lợi nhuận theo
ý muốn chủ quan của nhà quản trị. Các nghiên cứu này cũng chỉ ra các ưu
điểm và nhược điểm của từng mô hình.
Nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2012) sử dụng phương pháp định tính
với số liệu trên BCTC năm 2008-2010 của các DN năm đầu niêm yết trên 2
sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, dựa trên 2 mô hình được
lựa chọn là mô hình DeAngelo và mô hình Friedlan. Tác giả đã đưa ra 3 nhân
tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận đối với những doanh nghiệp
niêm yết gồm năm đầu niêm yết trên sàn chứng khoán, ưu đãi thuế, quy mô
doanh nghiệp. Qua khảo sát kết quả cho thấy rằng phần lớn các tổ chức niêm
yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng
khoán, điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết quan hệ thuận chiều
với điều kiện ưu đãi thuế TNDN mà doanh nghiệp được hưởng. Qua đó tác
giả cũng đưa ra các kiến nghị về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên
BCTC trong đó nhấn mạnh vấn đề CBTT.
Bài báo của Trần Hùng Sơn (2012) đề cập các yếu tố đặc thù của doanh
nghiệp như: Lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng, qui mô và cách đo lường đại diện
cho các nhân tố trên.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Trang (2012) đã sử dụng mô hình
điều chỉnh lợi nhuận của DeAngelo và Friedlan nghiên cứu với mẫu là 20
doanh nghiệp thuộc 4 loại hình doanh nghiệp là doanh nghiệp nhà nước,
công ty cổ phần, tư nhân, trách nhiệm hữu hạn. Kết quả nghiên cứu cho thấy
nhưng nó cũng là cơ sở, định hướng cho các nghiên cứu ảnh hưởng đến chất
lượng lợi nhuận trong tương lai.
- Các nhà nghiên cứu cũng đã bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng
của việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận. Tuy
nhiên, các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào hành vi điều chỉnh lợi nhuận chứ
10
chưa đưa ra được kết luận sau cùng là chất lượng lợi nhuận của 1 DN cũng
như nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận của các DN hiện nay.
Như vậy, có thể thấy, bên cạnh những mặt đã đạt được, tại Việt Nam các
công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề này còn rất ít, các công trình
nghiên cứu đã thực hiện chỉ dừng lại ở việc phân tích các nội dung cơ bản liên
quan như nghiên cứu về phát hiện hành vi QTLN tại các công ty niêm yết tại
HOSE/ HNX, về xu hướng QTLN của các công ty niêm yết trên TTCK Việt
Nam, về các nhân tố ảnh hưởng đến QTLN. Các nghiên cứu chưa đi sâu vào
chất lượng lợi nhuận, bên cạnh đó, phần lớn các nghiên cứu này kết quả đánh
giá và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đều thực hiện theo phương pháp khảo
sát quan điểm nên chưa phản ảnh đúng thực trạng tại Việt Nam hiện nay, chỉ
có một vài nghiên cứu trực tiếp trên BCTC và BCTN của các công ty nhưng
các nhân tố này chưa được phân tích, kiểm định nhiều.
Từ tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, tác
giả nhận thấy cần có một công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay.
Qua các nghiên cứu trước, luận văn kế thừa mô hình Dechow và các cộng sự.
Trong đó, chất lượng lợi nhuận được đo lường dựa trên dữ liệu công bố trên
BCTC (dữ liệu thứ cấp) do chính mỗi công ty lập và trình bày, và số nhân tố
xem xét phân tích với số lượng nhiều hơn, là cơ sở để đưa ra kiến nghị nhằm
nâng cao chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết trong tương lai.
12
hoạt động tài chính của công ty, hoặc là những khía cạnh khác của công ty đó
có minh bạch không.
+ Thứ ba, chất lượng lợi nhuận được xác định bởi sự liên quan của hoạt
động tài chính minh bạch đến các quyết định và khả năng của hệ thống kế
toán để đo lường hiệu quả hoạt động.
Tóm lại, khái niệm về chất lượng lợi nhuận là một khái niệm trừu tượng,
được đánh giá theo nhiều khía cạnh và quyết định tùy thuộc vào sự thể hiện
tài chính thông tin.
1.1.2. Đo lường chất lượng lợi nhuận
Mặc dù có sự thống nhất nhất định trong việc đưa ra định nghĩa về chất
lượng lợi nhuận nhưng việc đo lường không hề đơn giản, bởi khía cạnh đánh
giá chất lượng lợi nhuận rất trừu tượng và không thể đo lường trực tiếp. Thật
vậy, để xác định mức độ hữu ích hay phù hợp cho việc ra quyết định của
thông tin kế toán, ta cần căn cứ cơ sở vào loại quyết định được đưa ra là gì và
cá nhân ra quyết định là ai. Chất lượng lợi nhuận cũng phụ thuộc vào mức độ
mà nó phản ánh về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của công ty. Tuy
nhiên, ngoài các con số kế toán chúng ta không có thước đo thay thế nào đáng
tin cậy về kết quả hoạt động của một công ty. Do đó, các nhà nghiên cứu chỉ
có thể đo lường chất lượng lợi nhuận một cách gián tiếp ở một số khía cạnh
nhất định.
Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã phát triển rất nhiều tiêu chí khác
nhau cũng như các biến và thang đo cụ thể gắn liền với từng tiêu chí để đo
lường chất lượng lợi nhuận. Việc đo lường cũng phụ thuộc vào bối cảnh,
mục đích nghiên cứu để từ đó có sự lựa chọn tiêu chí sao cho phù hợp nhất.
Với mỗi tiêu chí, biến và thang đo cụ thể và mô hình áp dụng cũng có sự
khác nhau. Vì vậy, để có cách nhìn bao quát hơn, luận văn giới thiệu về các
+ Sự biến thiên của lợi nhuận: Các nhà nghiên cứu thừa nhận một quan
điểm chung là nhà quản trị mong muốn một lợi nhuận ổn định và tăng dần.
Do đó, trong một số trường hợp nhà quản trị sẽ điều chỉnh số liệu để đạt được
mục tiêu. Nếu sự biến thiên của lợi nhuận là rất ít và ít hơn sự biến thiên của
luồng tiền thì đó có thể là bằng chứng của sự điều chỉnh lợi nhuận.
- Các tiêu chí thông qua mối quan hệ giữa lợi nhuận, các khoản dồn
tích và luồng tiền.
Các tiêu chí này dựa trên quan điểm các khoản dồn tích sẽ làm giảm chất
lượng lợi nhuận. Chất lượng lợi nhuận được đo bằng tỷ lệ giữa luồng tiền từ
hoạt động kinh doanh và lợi nhuận. Đây là một tiêu chí khá đơn giản, nó phủ
nhận vai trò của kế toán dồn tích. Các nhà nghiên cứu phát triển thêm các tiêu
chí khác bằng cách phân tích tổng giá trị các khoản dồn tích và xác định phần
bị điều chỉnh hay thao túng. Cụ thể khoản dồn tích bị điều chỉnh được xác
định bằng:
+ Tăng/ giảm trong tổng các khoản dồn tích. Nếu các khoản dồn tích
không bị điều chỉnh bởi các nhà quản lý thì sẽ ổn định theo thời gian. Sự biến
động của các khoản này là kết quả của việc điều chỉnh số liệu kế toán.
+ Khoản dồn tích bất thường ước tính từ các thông số kế toán cơ bản:
Tổng dồn tích được hồi quy với các biến số cơ bản (ví dụ như doanh thu, các
khoản phải thu, tài sản cố định…). Phần dư của hồi quy sẽ được coi là thước
đo cho giá trị dồn tích.
+ Mối quan hệ giữa tổng dồn tích và luồng tiền. Tiêu biểu cho hướng
nghiên cứu này là công trình của P. M. Dechow and Dichev (2002) về chất
lượng của các khoản dồn tích và lợi nhuận. Các nhà nghiên cứu đã phân tích
và chỉ ra rằng các khoản dồn tích ngắn hạn (được xác định thông qua vốn lưu
động) sẽ có mối quan hệ chặt chẽ với luồng tiền của kỳ hiện tại, kỳ liền kề
15
trước và liền kề sau.
đủ về tiêu chí đánh giá đo lường chất lượng lợi nhuận. Tuy nhiên, việc đưa
tiêu chí đánh giá dựa trên đặc điểm của thông tin kế toán theo khuôn mẫu
FASB ảnh hưởng đến tính phổ biến trong nghiên cứu do quy định của FASB
chỉ áp dụng cho các công ty Mỹ. Mặt khác, thực chất tiêu chí đánh giá này là
việc đánh giá khả năng của lợi nhuận kế toán trong việc giải thích cho sự biến
động của giá cổ phiếu và lợi tức từ đầu tư chứng khoán, hay nghiên cứu về
giá trị thích hợp. Cách thức phân loại của Schipper và Vincent (2003) cũng
khá phức tạp và khó theo dõi só với cách phân loại của Francis và Dechow
dưới đây.
b. Quan điểm của J. Francis và các cộng sự (2004)
Francis và các cộng sự (2004) đã phân loại chỉ tiêu sử dụng dùng để đo
lường chất lượng lợi nhuận thành 2 loại: Dựa trên cơ sở thị trường và dựa trên
cơ sở các nguyên tắc kế toán.
- Các tiêu chí dựa trên cơ sở thị trường (Market – based attributes):
Các tiêu chí này được xác định trên cơ sở mối quan hệ giữa lợi nhuận kế toán
và sự phản ứng lại của thị trường hoặc giá thị trường. Loại này bao gồm 2 tiêu
chí là: (1) Giá trị thích hợp giải thích cho sự biến động của giá thị trường và
lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được từ cổ phiếu của công ty và (2) Tính thận
trọng và kịp thời tập trung vào việc đánh giá xem các khoản lỗ có được ghi
nhận một cách kịp thời và đúng kỳ phát sinh không.
- Các tiêu chí dựa trên cơ sở các nguyên tắc kế toán (accounting –
based measures): Các tiêu chí này được xây dựng trên cơ sở giả định cho
rằng lợi nhuận là kết quả của việc phân bổ một cách có hiệu quả luồng tiền
vào các kỳ báo cáo thông qua kế toán dồn tích. Do đó, khi lợi nhuận phản ánh