Header Page 1 of 237.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi
cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi
phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
NGUYỄN DIỆU HẰNG
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG:
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC TẠI HỒ THÁC BÀ,
TỈNH YÊN BÁI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
(Phân bố lực lượng sản xuất và phân vùng kinh tế)
MÃ SỐ: 62340410
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Lê Hà Thanh
2. PGS. TS. Nguyễn Mậu Dũng
Hà Nội - 2017
Footer Page 1 of 237.
Hà Nội, ngày
4.3.1. Hiện trạng quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà ........................................ 65
2. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................ 7
4.3.2. Nhận thức của cộng đồng về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài
nguyên nước ....................................................................................................... 70
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.................................................................... 8
4.3.3. Hành vi tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà72
4. Những đóng góp mới của luận án ................................................................... 8
4.3.4. Thuận lợi và khó khăn của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên nước
hồ Thác Bà ......................................................................................................... 79
5. Kết cấu của luận án ......................................................................................... 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ................................... 11
1.1. Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ............................................... 11
1.1.1. Tổng quan về các cách tiếp cận quản lý tài nguyên .................................... 11
1.1.2. Tổng quan về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng ................................ 12
1.1.3. Tổng quan các nghiên cứu quốc tế và trong nước về quản lý tài nguyên
nước có sự tham gia của cộng đồng .................................................................... 16
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước ... 24
1.2.1. Các lý thuyết nghiên cứu hành vi .............................................................. 24
1.2.2. Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia
quản lý tài nguyên nước...................................................................................... 27
1.3. Khái quát những vấn đề chưa được nghiên cứu ....................................... 29
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU ................... 31
2.1.Lý thuyết quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ................................ 31
5.2.4. Nâng cao năng lực cán bộ địa phương ..................................................... 111
5.2.5. Tổ chức, thành lập các hiệp hội ngành nghề ............................................ 112
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 117
PHỤ LỤC 1: CÁC BIẾN NGHIÊN CỨU............................................................. 124
PHỤ LỤC 2: BẢNG HỎI ...................................................................................... 128
PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ ĐỊNH LƯỢNG ............................................................. 136
Header Page 3 of 237.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH
CBM
Quản lý dựa vào cộng đồng
Hình 1: Tổng giá trị kinh tế của nước........................................................................... 2
Hình 1.1: Thang đo 8 cấp độ tham gia của cộng đồng ................................................ 15
IWRM
Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Hình 2.1: Thang đo 5 cấp độ tham gia của cộng đồng ................................................ 33
Hình 2.2: Lý thuyết hành vi dự kiến........................................................................... 35
GWP
Mô hình các giai đoạn thay đổi (Transtheoretical Model)
UBND
Ủy ban nhân dân
Hình 4.7: Hành vi giữ gìn, bảo vệ nguồn nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà........ 74
Hình 4.8: Tỷ lệ các hộ gia đình ngăn chặn hành vi gây hậu quả xấu lên vùng hồ Thác
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc
Bà .............................................................................................................................. 75
Hình 4.9: Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước dưới hình thức
WWAP
Chương trình Đánh giá nước Thế giới của Liên Hợp Quốc
phát biểu ý kiến trong các cuộc họp ........................................................................... 76
hồ Thác Bà ................................................................................................................ 71
Hình 4.6: Tỷ lệ % các hộ tuân thủ chính sách về tài nguyên nước tại hồ Thác Bà ...... 73
Hình 4.10: Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước dưới hình thức
chủ động đề xuất ý kiến với cơ quan quản lý ............................................................. 76
Hình 4.11: Mức độ hài lòng về sự tham gia quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà ...... 78
Hình 4.12: Thống kê mô tả các biến nhận thức về giá trị............................................ 82
Bảng 4.5: Số hộ và tỷ lệ % tham gia hình thức đóng phí sử dụng nước hồ Thác Bà ... 73
nước. Người sử dụng nước có nhiều nhu cầu khác nhau đối với tài nguyên nước, và
các nhu cầu ấy tạo ra các giá trị cho tài nguyên nước. Nước cũng như các yếu tố môi
Bảng 4.6: Hành vi tiết kiệm nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái ...... 73
Bảng 4.7: Số hộ và tỷ lệ % đã từng tham gia đóng góp nguồn lực bảo vệ tài nguyên
nước hồ Thác Bà........................................................................................................ 77
trường khác, có giá trị kinh tế được tạo nên bởi hai nhóm giá trị chính: giá trị sử dụng
Bảng 4.8: Thống kê mô tả biến hành vi dự kiến ......................................................... 81
Bảng 4.9: Thống kê mô tả biến thái độ....................................................................... 83
cấp cho con người. Giá trị này được chia thành ba nhóm: giá trị sử dụng trực tiếp
(direct use value), giá trị sử dụng gián tiếp (indirect use value) và giá trị tùy chọn
Bảng 4.10: Thống kê mô tả biến nhận thức kiểm soát hành vi.................................... 85
Bảng 4.11: Ma trận xoay nhân tố với các phát biểu về giá trị ..................................... 87
(option value). Giá trị sử dụng trực tiếp bao gồm những hàng hóa, dịch vụ do môi
trường cung cấp và con người có thể tiêu dùng một cách trực tiếp. Giá trị sử dụng gián
Bảng 4.12: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là dự kiến hành vi tuân thủ
quy định, chính sách của nhà nước............................................................................. 88
(use value) và giá trị phi sử dụng (non-use value).
Giá trị sử dụng là những hàng hóa, dịch vụ sinh thái mà yếu tố môi trường cung
tiếp là những giá trị, lợi ích từ các dịch vụ sinh thái, chức năng sinh thái. Giá trị tùy
nước khi biết rằng có tài nguyên nước để sử dụng trong tương lai. Giá trị phi sử dụng
của tài nguyên nước phát sinh khi con người biết rằng tài nguyên nước đang tồn tại và
có thể được thế hệ sau sử dụng. Trong giá trị phi sử dụng, giá trị tồn tại là mức độ hài
lòng của người sử dụng nước khi biết có sự tồn tại của tài nguyên nước; giá trị lưu
Footer Page 4 of 237.
Header Page 5 of 237.
3
2
truyền là mức độ hài lòng của người sử dụng khi biết có sẵn tài nguyên nước cho thế
hệ tương lai (Rolfe, 2008).
nhóm chính: (i) quản lý nguồn nước, (ii) quản lý dịch vụ cấp nước và (iii) quản lý sự
đánh đổi cần thiết để cân đối giữa cung và cầu về nước. Mỗi nhóm có những hoạt
động, yêu cầu riêng, kết hợp với nhau tạo thành quản lý tài nguyên nước. Quản lý tài
nguyên nước đòi hỏi phải áp dụng tổng hợp nhiều công cụ khác nhau như công cụ
pháp lý, công cụ kinh tế, công cụ kỹ thuật… (WWAP, 2012).
Tổng giá trị
kinh tế
Giá trị sử
dụng
Giá trị phi
sử dụng
Giá trị tồn
tại
Giá trị
lưu
truyền
-
tiêu xã hội, môi trường, đồng thời đảm bảo tính công bằng và nhu cầu phát triển
của xã hội
-
-
Quy hoạch lưu vực sông: Xây dựng và thường xuyên cập nhật Quy hoạch lưu
vực sông, trong đó phải thể hiện được quan điểm của các nhóm liên quan khác
nhau về ưu tiên phát triển và quản lý lưu vực.
Sự tham gia của các nhóm có liên quan: Sự tham gia của các nhóm liên quan vào
quá trình quản lý là cơ sở để ra quyết định sao cho lợi ích của toàn xã hội và vấn
Hình 1: Tổng giá trị kinh tế của nước
-
Một nguồn nước có thểđược chia sẻ cho cộng đồng với các mục đích sử dụng
khác nhau.Các mục đích sử dụng này có thể mâu thuẫn với nhau, gây ra tranh chấp
giữa những người sử dụng nước. Theo Hardin (1968), xét từ góc độ kinh tế, tài nguyên
nước là một trong số các “tài sản chung”, thường gặp phải “bi kịch tài sản chung”
Quản lý dưới góc độ kinh tế và tài chính: Áp dụng các công cụ kinh tế và tài
chính để khuyến khích đầu tư, thu hồi chi phí và thay đổi hành vi nhằm phục
vụ mục tiêu công bằng và lợi ích bền vững cho toàn xã hội khi sử dụng tài
nguyên nước.
-
Quản lý thông tin: Cung cấp dữ liệu cơ bản, cần thiết để quá trình ra quyết định
quản lý tài nguyên nước được đầy đủ thông tin và minh bạch (GWP, 2010).
Hội nghị quốc tế về Nước và Môi trường tại Dublin năm 1992 đã tuyên bố 4
nguyên tắc quan trọng áp dụng cho những người quản lý và sử dụng nguồn nước trên
thế giới, trong đó nhấn mạnh vấn đề phát triển và quản lý nước phải dựa trên cơ sở tiếp
cận với sự tham gia của các bên có liên quan. 4 nguyên tắc đó là:
Header Page 6 of 237.
4
5
-
Nước ngọt là một nguồn tài nguyên có hạn, dễ bị tổn thương. Nó rất cần thiết
• Người sử dụng nước, nhóm người sử dụng nước;
• Các tổ chức nghề nghiệp.
-
rộng lớn, gồm nhiều thành phần khác nhau. Cộng đồng sử dụng một nguồn nước có
thể gồm các hộ gia đình, doanh nghiệp, tổ chức... có tác động, liên quan đến tài nguyên
nước. Luận án này chỉ nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên
nướcở cấp độ hộ gia đình, không xét đến hành vi của các tổ chức, doanh nghiệp.
Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình quản lý là rất đa dạng, tùy vào những
điều kiện cụ thể của từng nơi. Tuy nhiên, dù ở cấp độ nào, lôi kéo cộng đồng tham gia
vào quá trình quản lý cũng đòi hỏi phải hiểu được động cơ hành vi tham gia của cộng
đồng. Tiếp cận kinh tế học hành vi sẽ giúp bổ sung góc nhìn mới hơn đối với hành vi
của các cá nhân bắt nguồn từ lý do xã hội. Miranda (2012) cho rằng nếu hiểu được
hành vi xã hội của các cá nhân thì có thể xây dựng được các chính sách tạo động lực
xã hội cho các cá nhân điều chỉnh hành vi sử dụng nước. Các lý thuyết nghiên cứu về
hành vi cho rằng có thể dự đoán hành vi của cá nhân thông qua tìm hiểu thái độ, giá
trị, nhận thức của người đó. Ngoài ra, hành vi lại chịu sự chi phối bởi các yếu tố kinh
tế - xã hội như giới tính, lứa tuổi, trình độ học vấn, thu nhập, sinh kế…Vì vậy, muốn
thúc đẩy cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên nước, cần xác định, phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia của họ.
Header Page 7 of 237.
6
7
Lý do lựa chọn địa bàn nghiên cứu
Thác Bà tại địa phương bắt đầu nảy sinh. Việc Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà
Việt Nam là quốc gia có tài nguyên nước tương đối phong phú.Tính về nước
ninh lương thực và trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế
cập đến sự tham gia của cộng đồng ở mức độ nhất định nhằm giải quyết hài hoà các
mâu thuẫn của các đối tượng sử dụng nước khác nhau.
giới. Nước cũng là đầu vào quan trọng giúp ngành thủy sản tăng trưởng mạnh mẽ,
Các nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước đã
được thực hiện trong thời gian qua tại một số địa bàn ở Việt Nam. Mặc dù phong phú
đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu hàng năm. Với tiềm năng thủy điện phong
phú, nước góp phần bảo đảm an ninh năng lượng khi thủy điện chiếm 40% tổng sản
về số lượng, đa phần các nghiên cứu tập chủ yếu vào khía cạnh pháp lý cũng như các
lượng điện cả nước. Nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt, vệ sinh của người dân hàng
ngày. Tuy nhiên, tài nguyên nước ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều sức ép.
hình thức tham gia của cộng đồng vào quản lý. Các vấn đề liên quan tới động cơ, hành
vi của cộng đồng cũng như các nhân tố tác động đến sự tham gia của cộng đồng vào
Nước càng trở nên khan hiếm trong bối cảnh nhu cầu của con người tăng cao cũng như
biến đổi khí hậu đang diễn ra gay gắt. Tăng trưởng kinh tế dẫn đến nhu cầu về nước
quản lý tài nguyên dường như còn bỏ ngỏ. Trong bối cảnh đó, luận án này được thực
hiện nhằm tìm hiểu hành vi, mức độ tham gia của cộng đồng hiện tại vào hoạt động
của các ngành sản xuất tăng. Dân số tăng cùng với mong muốn có chất lượng cuộc
sống tốt hơn đòi hỏi nước phải gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Vì vậy, ở Việt
Header Page 8 of 237.
8
• Nghiên cứu và tổng quan cơ sở lý thuyết về quản lý tài nguyên nướccó sự tham
gia của cộng đồng.
• Phân tích hiện trạng sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước tại
hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái.
• Xác định các nhân tố tác động đến hành vi tham gia vào quản lý tài nguyên
nước của cộng đồng tại hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái.
• Đề xuất các giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài
nguyên nước.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu:
• Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại vùng hồ Thác Bà (bao gồm các
diện tích đất, mặt nước hồ và các đảo trên địa dư của 31 xã ven hồ Thác Bà) và
thành phố Yên Bái là địa bàn có người sử dụng tài nguyên nước hồ Thác Bà
phục vụ sinh hoạt, giải trí…
• Về thời gian: Luận án thực hiện điều tra khảo sát tại địa bàn nghiên cứu dựa
trên bảng hỏi trong năm 2015. Các số liệu thống kê về kinh tế - xã hội được thu
9
nguyên nước của cộng đồng. Trong các giá trị mà tài nguyên nước mang lại, luận án
chỉ ra rằng nhận thức của cộng đồng về giá trị xã hội, cụ thể là tính gắn kết xã hội, tính
chia sẻ trách nhiệm, vấn đề nâng cao mức sống là một nhân tố tác động tích cực lên dự
viên cộng đồng sử dụng nước từ nguồn nước hồ Thác Bà cho các mục đích khác nhau.
quy hoạch tài nguyên nước, kiểm soát ô nhiễm và giám sát. Những hành vi tham gia
của cộng đồng cũng thể hiện vai trò của họ trong khía cạnh quản lý thông tin của quản
lý tài nguyên nước.
4. Những đóng góp mới của luận án
5. Kết cấu của luận án
Dữ liệu được thu thập từ điều tra, phỏng vấn ở cấp độ hộ gia đình với các thành
Về mặt lý thuyết, luận án là công trình đầu tiên ứng dụng lý thuyết hành vi dự
kiến (Theory of Planned Behaviour - TPB) để nghiên cứu các nhân tố tác động đến
hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng trong bối cảnh Việt Nam.
Luận án mở rộng mô hình nghiên cứu khi bổ sung thêm các biến nhận thức về giá trị
của tài nguyên nước, mục đích sử dụng nước và các đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ
gia đình. Luận án đã lồng ghép TPB trong khung phân tích các cấp độ sự tham gia của
cộng đồng với 5 mô hình TPB tương ứng với 5 hành vi tham gia.
Luận án kiểm định lý thuyết TPB trong bối cảnh Việt Nam và nhận thấy các
biến TPB gồm thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi có tác
động thuận chiều ở các mức độ khác nhau lên dự kiến mỗi hành vi tham gia quản lý tài
Footer Page 8 of 237.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các từ viết tắt, Danh mục hình, Danh
mục bảng, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án được cấu trúc thành 5
chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chương 1trình bày tổng quan
về các vấn đề liên quan đến quản lý dựa vào cộng đồng và các lý thuyết nghiên cứu
chung đó.
nguyên nước của cộng đồngvà xác định các nhân tố tác động lên hành vi tham gia
quản lý tại địa bàn nghiên cứu dựa trên dữ liệu điều tra.
Cách tiếp cận kinh tế đối với tài nguyên thiên nhiên đã đưa ra một loạt các lý
thuyết và công cụ nhằm giám sát, phân tích, đánh giá và quản lý tài nguyên. Cụ thể,
Chương 5: Đề xuất giải pháp. Từ kết quả nghiên cứu trong chương 4, chương
5 đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò của cộng đồng trong quản lý tài
kinh tế học tài nguyên thiên nhiên xây dựng mô hình khai thác bền vững tài nguyên
nguyên nước vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái.
thiên nhiên – cơ sở để đưa ra các công cụ quản lý tài nguyên. Các công cụ quản lý
được chia thành hai nhóm gồm: (i) công cụ của nhà nước (thuế, hạn mức khai thác, trợ
cấp, tiêu chuẩn, giấy phép) và (ii) công cụ của thị trường (quyền tài sản), hàm ý nhấn
mạnh đến lựa chọn hoặc nhà nước quản lý, hoặc để thị trường điều tiết.
Cách tiếp cận kinh tế dựa trên mối quan hệ tác động qua lại, hai chiều giữa kinh
tế và môi trường. Môi trường cung cấp các dịch vụ khác nhau cho hoạt động kinh tế của
con người. Ngược lại, con người thông qua các hoạt động kinh tế lại tác động lên môi
trường, và điều này có thể tạo ra ngoại ứng làm ảnh hưởng đến hoạt động của những
người khác. Kinh tế học giúp chúng ta đánh giá được các ngoại ứng với giá trị bằng tiền
và đưa ra công cụ giúp “nội hóa” các ngoại ứng. Tuy nhiên, các mô hình kinh tế thường
dựa trên những giả định chặt chẽ mà thực tế khó có thể đáp ứng, do đó kết quả của các
chính sách dựa trên kinh tế học thường khó cân đối được lợi ích của tất cả các bên liên
quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên và đảm bảo tính bền vững lâu dài (Dietz và
Neumayer, 2009). Đồng thời, khi giả định rằng các cá nhân chỉ tối đa hóa lợi ích cá
nhân, cách tiếp cận kinh tế đã bỏ qua hành vi “xã hội” của các đối tượng sử dụng.
của Conner (2007): “Cộng đồng là các nhóm dân cư có cùng sở thích, có chung lợi ích
và mối quan tâm”. Theo quan điểm chung ở Việt Nam, cộng đồng là một tập hợp các
công dân cư trú trong một khu vực địa lý nhất định, hợp tác với nhau vì những lợi ích
các vùng cao, biên giới – nơi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Phương thức quản lý
này được dựa trên mô hình quản lý truyền thống đã được áp dụng ở vùng núi của
nhiều nước trên thế giới, khi mọi người dân địa phương hợp tác với nhau và cùng quản
lý nguồn lực và chia sẻ lợi ích. Cách tiếp cận này cho phép sử dụng nguồn lực một
cách bền vững.Sau đó, mô hình quản lý dựa vào cộng đồng được mở rộng cho tài
nguyên ven biển, ví dụ Khánh Hòa, Thừa Thiên – Huế.
Quản lý dựa vào cộng đồng (CBM) là tập hợp các mô hình quản lý có sự tham
chung và chia sẻ những giá trị văn hóa chung. Chi Cục Bảo vệ Môi trường Hà Nội
(2007) định nghĩa: một tập hợp người được coi là cộng đồng khi thỏa mãn các tính
gia của cộng đồng; trong đó, cộng đồng tham gia vào quá trình ra quyết định về các
vấn đề liên quan đến quá trình lập kế hoạch và triển khai thực hiện. CBM là một trong
chất về địa lý, văn hóa và lợi ích:
ba phương thức quản lý: (i) Nhà nước quản lý; (ii) Quản lý dựa vào cộng đồng; và (iii)
Cộng đồng quản lý. Xét về góc độ hiệu quả quản lý, phát triển hình thức CBM sẽ làm
- Tương đồng về địa lý: Để gọi là một cộng đồng thì phải đảm bảo yêu cầu cộng
đồng đó phải cùng sống trong một vùng địa lý sinh thái nhất định và cũng có thể trong
cùng một đơn vị hành chính.
- Tương đồng về lợi ích: Trong trường hợp quản lý môi trường, trước hết cộng
đồng đó cần hợp lực quản lý các yếu tố môi trường để cùng hưởng lợi ích chung là
môi trường trong lành và cùng chia sẻ lợi ích mà môi trường đó mang lại.
- Tương đồng về văn hóa: Tùy trường hợp, cộng đồng tìm kiếm những giá trị
cộng đồng” được sử dụng. Đến năm 1969, khái niệm quản lý dựa vào cộng đồng được
đưa ra trong nghiên cứu về Cải thiện y tế thôn bản tại Đài Loan của Chang (1969). Kể
Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là một ứng dụng thực tiễn của CBM, đề
cập đến sự tham gia của các cộng đồng có lợi ích liên quan trong quản lý tài nguyên
từ đó, các nhà nghiên cứu và khoa học trên thế giới bắt đầu quan tâm đến việc phân
tích và ứng dụng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng trong các lĩnh vực mà quản lý
nhà nước không phát huy được vai trò một cách hiệu quả. Ở Việt Nam, từ giữa những
Footer Page 10 of 237.
đất và nước, rừng, động vật hoang dã, du lịch, nguồn lợi thủy sản và các tài nguyên
khác. Có thể xem xét quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng từ hai góc độ:Từ góc độ
trao quyền hợp pháp để quản lý tài nguyên, quản lý dựa vào cộng đồng là một quy
trình trao quyền cho cộng đồng sử dụng tài nguyên. Tức là cộng đồng có quyền sử
dụng và quản lý tài nguyên.Từ góc độ năng lực quản lý của cộng đồng, quản lý dựa
Header Page 11 of 237.
14
15
vào cộng đồng được xem như là một hệ thống các kỹ năng để thực hiện các hoạt động
và mức độ hợp tác cũng như quyền làm chủ của cộng đồng tăng lên. Dower (2004)
quản lý được tiến hành bởi cộng đồng địa phương thay vì bởi chính quyền (Pomeroy và
Chính phủ tham vấn các nhóm dân cư
8 cấp độ tiếp cận từ thấp đến cao thể hiện
sự tham gia của cộng đồng
quản lý, từ khâu bàn bạc ban đầu tới việc lên kế hoạch thực hiện, triển khai các hoạt
động và nhận xét, đánh giá sau khi thực hiện”. Với quản lý tài nguyên nước dựa vào
Tham gia là quyền cơ bản của người dân.Ngày nay, tham gia được hiểu là cách
thức mọi người (cộng đồng) có ảnh hưởng và có vai trò kiểm soát trong quá trình phát
triển, đặc biệt là vai trò ra quyết định và sử dụng nguồn lực. Có nhiều lý do khác nhau
để thúc đẩy cộng đồng tham gia, như để giảm chi phí (cộng đồng được yêu cầu đóng
góp hàng hoá, tiền, công sức lao động), để thực hiện dự án hiệu quả và đầy đủ hơn, để
tăng cường năng lực của các cộng đồng hoặc để trao quyền cho cộng đồng, điều này
nghĩa là để giúp họ gia tăng kiểm soát đối với các nguồn lực và đưa ra những quyết định
quan trọng có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ.
Chính phủ vận động người dân làm theo
Chính phủ ra quyết định và báo trước cho người dân
Chính phủ ra quyết định, người dân tuân thủ
Hình 1.1: Thang đo 8 cấp độ tham gia của cộng đồng
Nguồn: Arnstein (1969).
• Các cấp độ tham gia
Áp dụng mô hình tham gia của cộng đồng trong quản lý chính là một cách tiếp
cận từ dưới lên thay vì phương thức áp đặt từ trên xuống. Theo Arnstein (1969), thang
đo 8 cấp độ tiếp cận từ thấp đến cao thể hiện sự gia tăng quyền lực của cộng đồng khi
tham gia quản lý.
cung cấp nhân lực, vật chất, các nguồn tài chính và công tác tổ chức hoạt động quản lý
sử dụng nguồn nước. Chính quyền địa phương đã thất bại trong việc thuyết phục người
dân Sikaladi cho phép người dân Simabur chia sẻ việc sử dụng nguồn nước. Hai cộng
tại địa phương.
(4) Quản lý và bảo dưỡng: cộng đồng có thể tham gia bằng cách chịu hoàn toàn
trách nhiệm quản lý, bảo dưỡng tài sản họ tham gia quản lý.
(5) Kiểm tra và đánh giá: trong suốt quá trình ra quyết định và triển khai thực
hiện quản lý, cộng đồng có thể xem xét và đánh giá những gì đang tiến hành, nhờ đó
có thể phát hiện những vấn đề nảy sinh và khắc phục kịp thời.
1.1.3. Tổng quan các nghiên cứu quốc tế và trong nước về quản lý tài nguyên
nướccó sự tham gia của cộng đồng
1.1.3.1. Nghiên cứu quốc tế
đồng Sikaladi và Simabur có những tập quán khác nhau, và chính quyền địa phương
không hiểu rõ tập quán của Sikaladi để có ứng xử phù hợp. Họ không thực hiện tham
vấn cộng đồng, không thu được sự đồng thuận cần thiết, do đó đã thất bại trong dự án
này. Tác giả nghiên cứu rút ra kết luận: để quản lý tài nguyên nước thành công, không
thể thiếu sự tham gia của cộng đồng. Sự tham gia của cộng đồng sẽ đem lại lợi ích cho
xã hội, đồng thời tránh được xung đột. Ngược lại, khi không có sự tham gia của cộng
đồng, xã hội vừa tốn chi phí, vừa gặp phải xung đột.
Nghiên cứu của Garande và Dagg (2005) đã xem xét vai trò của cộng đồng
trong xử lý nguồn nước ô nhiễm ở làng Molinos nằm ở thung lũng Lluta, sa mạc
Đã có rất nhiều các nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài
Atacama, Chile. Ở đây nước ngầm bị ô nhiễm asen do asen tích lũy trong các lớp trầm
tích. Một dự án đã được một tổ chức phi chính phủ (NGO) thiết kế nhằm đưa ra một
chính có thể phát sinh khi thực hiện dự án. Tóm lại, theo các tác giả nghiên cứu, trước
khi hình thành dự án, bắt buộc phải thực hiện phân tích văn hóa – xã hội thông qua
nghiên cứu lịch sử địa phương, tiến hành phỏng vấn người dân và quan sát hành vi của
họ. Sau đó, ở giai đoạn thiết kế dự án, nhà quản lý mới biết được bối cảnh văn hóa, xã
hội của dự án, những nhân tố nào có thể tác động đến dự án và làm thế nào để giải
quyết chúng.
một phần nhờ trình độ học vấn ở mức khá, hầu hết người dân đều tốt nghiệp phổ
Có thể xem xét một nghiên cứu khác ở một quốc gia có lịch sử nền kinh tế kế
thông. Họ hiểu sự cần thiết của việc duy trì việc cấp nước sạch, và thông qua quá trình
tham vấn cộng đồng để đạt được đồng thuận, họ tự thiết lập được một hệ thống quản lý
hoạch hóa tập trung tương tự như Việt Nam. Teodosiu và cộng sự (2013) đánh giá sự
tham gia của cộng đồng vào quy hoạch tài nguyên nướcở Romania. Sau những cơn lũ
của cộng đồng để duy trì cấp nước. Nhưng ở Tannah Datar, tình huống lại diễn ra
ngược lại. Chính quyền Tannah Datar quyết định cấp nước máy cho Simabur là một
nghiêm trọng năm 2005 và 2006, chính phủ Romania quyết định xây dựng chiến lược
quản lý rủi ro lũ lụt. Theo quy định của Romania, cần thiết phải có sự tham gia của
thị trấn nằm trên cao, lấy nguồn nước từ Sikaladi gần đó. Tuy nhiên, khi xây dựng
cộng đồng trong quá trình xây dựng chiến lược. Công cụ tham vấn cộng đồng chính
Footer Page 12 of 237.
động tham gia. Đây cũng là một đặc điểm của một quốc gia đang trong giai đoạn
chuyển đổi cả về kinh tế, xã hội và thể chế như Romania. Các tác giả khuyến nghị khi
có sự tham gia của cộng đồng từ giai đoạn đầu của quá trình ra quyết định thì sự tham
gia của cộng đồng sẽ đạt được thành công và thiếu kinh nghiệm không còn là thách
thức đáng ngại.
1.1.3.2.Nghiên cứu ở Việt Nam
Các nghiên cứu ở Việt Nam về quản lý tài nguyên nướccó sự tham gia của cộng
đồng cũng rất đa dạng, chủ yếu tập trung vào hoạt động cấp nước.Ngoài ra có các
nghiên cứu về tài nguyên nước ở các lưu vực sông, hồ chứa, tập trung vào tìm hiểu
mức độ tham gia của cộng đồng trong quản lý và những khó khăn, thách thức mà họ
gặp phải trong quá trình tham gia.
Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh (2006) đã tổng quan quản lý tài
nguyên nước có sự tham gia của cộng đồng với hai kiểu mô hình: mô hình truyền
thống bản địa của các dân tộc thiểu số và mô hình cấp nước sinh hoạt/thủy lợi ở một số
vùng nông thôn. Các tác giả kết luận rằng sự tham gia của cộng đồng trong các mô
hình quản lý tài nguyên nước mới ở mức độ trung bình. Các cách thức tham gia phổ
biến gồm:
Footer Page 13 of 237.
• Cử người đại diện cho cộng đồng trong các vấn đề liên quan đến quản lý tài
nguyên nước
• Đóng góp công lao động, tiền, nguyên vật liệu… phục vụ xây dựng, hoạt
động, duy trì và bảo dưỡng, bảo vệ công trình nước ở địa phương.
• Đóng phí sử dụng nước.
Các tác giả nhận thấy mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng phổ biến
là hợp tác xã hoặc các hiệp hội của người dân. Với các mô hình phi truyền thống, nước
được coi là hàng hóa, có giá trị và người sử dụng phải trả phí sử dụng nước. Còn mô
21
hoạt động khai thác cát, sỏi của người dân. Khi tích nước và xả nước, các hồ chứa
trình thủy điện được đánh giá là cao nhất Việt Nam. Sự tồn tại của các hồ đập này
cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng nước vùng hạ lưu, gây tác động tiêu cực đến chất
lượng nước sinh hoạt của người dân đang sử dụng nước từ nhà máy cấp nước Huế.Đặc
cũng gây nhiều tranh cãi vì ngoài mục tiêu chính là phát điện, chúng ít có vai trò khác,
biệt, khi lượng nước vùng hạ lưu thay đổi, độ mặn cũng thay đổi theo làm các loài sinh
vật nước ngọt bị đe dọa, gây suy thoái tài nguyên sinh học và ảnh hưởng tiêu cực đến
sinh kế người dân vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Từ những mâu thuẫn trên
trong quá trình quản lý tài nguyên nước hồ chứa, các tác giả đã khảo sát nhiều đối
tượng khác nhau gồm người dân hạ lưu các sông Bồ, sông Hương, người dân vùng
đầm phá Tam Giang – Cầu Hai và các nhà khoa học, nhà quản lý để tìm hiểu cụ thể
kế hoạch vận hành ít được chú trọng và do đó gây tác động tiêu cực cho người dân địa
phương: thu hẹp sinh kế của họ và khiến cuộc sống của họ gặp nhiều rủi ro. Thông qua
phỏng vấn, trao đổi với cộng đồng và nhà quản lý địa phương ở lưu vực có thủy điện,
tác giả nghiên cứu nhận thấy sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước
ở các hồ đập thủy điện còn gặp trở ngại. Cụ thể như sau:
-
Chính quyền, cộng đồng và các tổ chức xã hội chưa biết cách tổ chức hoạt động
-
quan đến đời sống của mình. Người dân không được tham gia vào khâu quy hoạch và
Từ đó, tác giả nghiên cứu đưa ra các giải pháp sau:
Từ đó, các tác giả kết luận sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên
(i) Chưa có cơ chế phù hợp nhằm huy động khả năng của cộng đồng để họ hỗ
trợ giám sát bảo vệ nguồn nước, ngăn chặn các hành vi tiêu cực làm ô nhiễm, suy thoái
tài nguyên nước;
-
-
Chính quyền, các tổ chức xã hội xây dựng và ấn hành tài liệu dưới dạng cẩm
-
Chính quyền, Ủy ban lưu vực sông tổ chức cho các bên liên quan gặp gỡ, thảo
nang hướng dẫn tham vấn, giám sát cộng đồng.
luận và thống nhất hoạt động giám sát thực hiện quy trình xây dựng, vận hành
hồ đập thủy điện
-
được chú trọng trong công tác quản lý tài nguyên nước.
(iv) Đơn vị quản lý hồ chứa, hồ thủy điện được coi là chủ sở hữu nước và chỉ
họ có quyền ra quyết định trong các giai đoạn xây dựng và vận hành hồ.
Header Page 15 of 237.
22
23
1.1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài
nguyên nước
quan, đặc biệt hệ thống các cơ quan cấp cơ sở trực tiếp tiếp xúc với người dân cần thực
Từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể thấy để cộng đồng tham gia hiệu
quả vào quản lý tài nguyên nước, cần có những điều kiện sau:
• Hoàn thiện khung pháp lý về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài
nguyên nước
Việc xây dựng khung pháp lý về quản lý tài nguyên nói chung dựa vào cộng
đồng là bước tiến để tạo cơ sở pháp lý cho người dân tham gia hoạt động quản lý. Ở
các nước đang phát triển, vai trò quản lý tài nguyên thiên nhiên chủ yếu thuộc về nhà
nước. Trong nhiều trường hợp, các chính sách của nhà nước đã loại trừ các tổ chức địa
phương, tách các cộng đồng khỏi những nguồn tài nguyên thiên nhiên rất quan trọng
đối với sinh kế của họ. Các khung chính sách trong đó có việc quản lý tài nguyên thiên
sự được đổi mới theo hướng tích cực, cởi mở.
• Hiểu rõ đặc tính của cộng đồng
Đặc tính của cộng đồng có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý và phát triển
dựa vào cộng đồng nói chung. Cách tiếp cận quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng
một cách bền vững.
• Thay đổi phong cách làm việc của chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương có ảnh hưởng rất lớn trong việc huy động sự tham gia,
đóng góp của các cộng đồng dân cư vào hoạt động quản lý tài nguyên, trong đó có tài
nguyên nước. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, cơ quan nhà nước vẫn giữ vai trò trung tâm
trong quá trình ra quyết định “truyền thống”. Các cơ quan nhà nước cần thay đổi theo
hướng đi theo chu trình mở với sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội như các
tổ chức phi chính phủ, các cơ quan nghiên cứu, cộng đồng dân cư… thông qua các
kênh thông tin, diễn đàn thường xuyên hoạt động. Trong quá trình khuyến khích phát
triển tổ chức cộng đồng, vai trò và chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan hữu
Footer Page 15 of 237.
thiết thực khi vấn đề quản lý tài nguyên nước được cải thiện. Từ việc cung cấp kiến
thức, hiểu biết cho cộng đồng đến chỗ họ hiểu được trách nhiệm quản lý tài nguyên
nước nơi mình sinh sống là một quá trình dài, đòi hỏi phải tăng cường công tác nâng
cao nhận thức của cộng đồng, và phải được tiến hành càng sớm càng tốt, trước khi đưa
họ tham gia vào quá trình quản lý. Ngoài ra, cần công khai, minh bạch các thông tin
như cộng đồng tham gia dưới hình thức nào, vào hoạt động gì; họ có thể được hưởng
lợi và chịu những chi phí gì v.v. Cộng đồng chỉ có thể tham gia quá trình quản lý tài
nguyên nước khi đó là một cộng đồng am hiểu các vấn đề pháp luật và nhận thức được
đầy đủ rằng quản lý tài nguyên nước cũng là bảo vệ nguồn lợi ích của chính họ.
• Tận dụng, thích ứng với tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục địa phương
Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới
và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Phong tục tập quán là những thói
quen đã được mọi người tuân thủ tại địa phương như một phần luật pháp của địa
phương. Phong tục tập quán gồm những quy tắc hành xử chung của cộng đồng, phản
ánh quan điểm, kỳ vọng của toàn thể thành viên trong một cộng đồng qua nhiều thế
cư. Do vậy, tác động của tín ngưỡng, phong tục tập quán đến hiệu quả của mô hình
quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là vô cùng to lớn.
(Transtheoretical Model – TTM hay Stages of Change Model – SOC).
• Có người đại diện cộng đồng
Cộng đồng cần có người đại diện cho mình tham gia quản lý, và người đại diện
phải xác định rõ nhiệm vụ cầu nối giữa cơ quan quản lý với cộng đồng. Thông qua
người đại diện, cộng đồng có thể liên hệ với các cơ quan địa phương liên quan đến các
vấn đề quản lý. Khi cộng đồng gặp các khó khăn, người đại diện có thể đối thoại với
chính quyền địa phương để được cải thiện tình hình.
Người đại diện cộng đồng và chính quyền địa phương có thể thiết kế và thực hiện
Sutton (2001) chia các lý thuyết hành vi xã hội thành hai nhóm: nhóm mô hình
hành vi theo giai đoạn (stages model) và nhóm mô hình nhận thức xã hội (social
cognition models). Các lý thuyết thuộc nhóm mô hình hành vi theo giai đoạn giả định
rằng hành vi thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau theo trình tự. TTM thuộc nhóm
này. Còn các lý thuyết hành vi nhận thức xã hội thì tiếp cận theo hướng xác định các
biến số về nhận thức và thái độ ảnh hưởng đến hành vi thông qua mô hình toán học để
dự đoán hành vi. Giá trị của hàm số dự định hành vi phụ thuộc các biến số ảnh hưởng
tính toán cho mỗi cá nhân cho thấy khả năng thực hiện hành vi của cá nhân đó là cao
các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức cho cộng đồng ngay cả khi người dân
hay thấp. Lý thuyết TRA và TPB nói trên thuộc nhóm mô hình nhận thức xã hội.
không trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý môi trường, thực hiện chức năng giám sát,
điều khiển hành vi của người dân, huy động cộng đồng v.v. Chính quyền, nhà quản lý,
người đại diện và cả các nhà khoa học có thể hợp tác với nhau để tuyên truyền, phổ biến
đoạn duy trì – là thời gian ngoài 6 tháng mà cá nhân thực hiện hành vi mới. Mặc dù
quá trình này diễn ra theo trình tự, nhưng cũng có trường hợp cá nhân quay lại giai
đoạn trước và lặp đi lặp lại chu trình.
TTM có ưu điểm là giúp nhà nghiên cứu hiểu rõ từng giai đoạn thay đổi hành vi
của con người, từ đó có thể đưa ra biện pháp can thiệp phù hợp, hiệu quả nhất trong
từng giai đoạn, đặc biệt trong lĩnh vực được ứng dụng rộng rãi là y tế công cộng. Tuy
nhiên TTM cũng có một số nhược điểm. Thứ nhất là thực tế khó có thể phân biệt được
riêng rẽ các giai đoạn trong quá trình thay đổi hành vi của cá nhân. Thứ hai là các
Header Page 17 of 237.
26
thang đo xem xét sự thay đổi chưa được chuẩn hóa, dẫn đến khó thu thập và xử lý dữ
liệu (Sutton, 2001).
Lý thuyết hành vi hợp lý TRA (Ajzen và Fishbein, trích trong Sutton, 2001,
tr.4) được đưa ra nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa thái độ của một cá nhân và hành vi
của người đó. TRA giải thích mối quan hệ giữa niềm tin, thái độ, dự định và hành vi.
Theo TRA, nhân tố quyết định chính xác nhất khả năng thực hiện một hành vi là dự định
sẽ thực hiện hành vi đó. Những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến dự định thực hiện hành
vi của một cá nhân là thái độ về hành vi sẽ thực hiện và chuẩn mực chủ quan liên quan
đến hành vi. Thái độ được chi phối bởi niềm tin của một người về kết quả hoặc tính chất
của hành vi. Chuẩn mực chủ quan là kỳ vọng của những người có ảnh hưởng quan trọng
đến cá nhân dự định thực hiện hành vi. Mức độ ảnh hưởng của hai nhân tố này là khác
nhau theo từng hành vi và từng nhóm người cụ thể (Sutton, 2001).
Tuy nhiên, rất nhiều hành vi không chỉ đơn giản muốn là thực hiện được mà
chúng đòi hỏi cá nhân phải có kỹ năng, cơ hội, nguồn lực, sự phối hợp mới có thể thực
27
động trực tiếp lên hành vi qua hai cơ chế. Thứ nhất, nếu dự định thực hiện hành vi
được coi là biến không đổi thì cá nhân có nhận thức kiểm soát hành vi cao hơn sẽ nỗ
lực hơn và kiên nhẫn thực hiện hành vi lâu hơn những người có nhận thức kiểm soát
hành vi thấp. Thứ hai, con người có thể có nhận thức chính xác về mức độ kiểm soát
hành vi thực tế họ có được (Ajzen, 1991).
Nhược điểm của các lý thuyết nhận thức xã hội là chúng thường bị coi là thiếu
tính thực tế khi giải thích cách thức hình thành dự định và ra quyết định của cá nhân.
TRA và TBP không hàm ý rằng các cá nhân luôn luôn cân nhắc cẩn thận và ra được
quyết định tốt nhất. Con người có thể không biết hết tất cả các lựa chọn hành vi họ có
thể có và hậu quả của hành vi mà họ sẽ thực hiện. Họ có thể có niềm tin không chính
xác về kết quả của hành vi. Họ có thể ra quyết định rất nhanh chỉ dựa vào một số nhân
tố nổi bật nhất. Khi ra quyết định, cá nhân không nhất thiết phải đánh giá cái được, cái
mất cụ thể trừ khi có tác động thay đổi, mà họ chỉ hành động dựa trên ý định đã từng
có từ lâu trong quá khứ. Vì vậy, mô hình nhận thức xã hội cũng có hạn chế nhất định
(Sutton, 2001).
Footer Page 17 of 237.
trọng lên thái độ, hành vi của con người. De Groot và Steg (2008) đã giải thích như
sau: Thứ nhất, giá trị phản ánh niềm tin và mong muốn đạt được một trạng thái nhất
đinh. Thứ hai, giá trị là khái niệm trừu tượng, không đơn thuần chỉ một tình huống,
một trạng thái cụ thể. Thứ ba, giá trị đóng vai trò làm nguyên tắc dẫn đường cho một
người lựa chọn hoặc đánh giá một hành vi, một con người hoặc một sự kiện là tốt hay
xấu, quan trọng hay không quan trọng v.v. Thứ tư, các giá trị được sắp xếp thành một
hệ thống có thứ tự trên dưới. Có nghĩa là khi một người phải đối mặt với một tình
huống nhất định, nơi các giá trị của anh ta phải cạnh tranh, thậm chí mâu thuẫn lẫn
nhau thì anh ta sẽ ra quyết định dựa trên giá trị nào được anh ta đánh giá cao nhất.Giá
trị đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định, đồng thời giải thích được sự tương
đồng và khác biệt giữa các nhóm đối tượng khác nhau về các đặc điểm kinh tế - xã hội.
Cụ thể với tài nguyên nước, kết quả nghiên cứu của Russenberger và cộng sự (2012)
với môi trường, bảo vệ tài nguyên và môi trường xung quanh. Cá nhân có niềm tin càng
Tóm lại, quan điểm, nhận thức về giá trị của tài nguyên nước có chi phối đến hành
1.2.2.2. Các nhân tố kinh tế - xã hội
Các nghiên cứu khác xem xét vai trò của nhân tố kinh tế - xã hội và kết quả cho
thấy chúng cũng chi phối đến quan điểm, thái độ, từ đó tác động lên hành vi của cộng
mạnh sẽ càng sẵn lòng tham gia quản lý tài nguyên – môi trường. Thúc đẩy các hoạt
đồng. Một số nghiên cứu đã nêu ra sự khác biệt giữa các nhóm người khác nhau trong
các vấn đề liên quan đến các yếu tố tài nguyên – môi trường, cũng như giải thích sự
động tương tác xã hội sẽ làm tăng mối gắn kết giữa các công dân với nhau, tăng cường
sức mạnh liên kết của cộng đồng. Như vậy, nếu muốn cộng đồng tham gia tích cực vào
khác biệt bằng các đặc điểm nhân khẩu học. Van Liere và Dunlap (1980) nhận thấy
cộng đồng trẻ tuổi, trình độ học vấn cao có nhận thức tốt về môi trường. Họ cũng thấy
quản lý tài nguyên – môi trường thì phải làm cho họ nhận thấy được mối quan hệ giữa
các hoạt động bảo vệ tài nguyên – môi trường và cộng đồng. Nghiên cứu của Sakurai và
cộng sự (2015) ở Nhật cho thấy các cá nhân mới gia nhập cộng đồng rất muốn tương tác
với các thành viên cũ, nhưng họ không biết làm thế nào để có mối quan hệ xã hội tốt
nhất với những người xung quanh. Các nghiên cứu khác cũng đưa ra nhận định rằng các
hành vi tham gia quản lý tài nguyên – môi trường tích cực có quan hệ với việc cải thiện
có mối tương quan giữa nhận thức về môi trường với các biến như quyền tài sản cá
nhân, nền kinh tế theo định hướng thị trường, tăng trưởng kinh tế. Các tác giả đi đến
kết luận để giải thích sự khác biệt về các vấn đề môi trường, cần phân tích các biến
kinh tế - xã hội. Sharp và Adua (2009) kết luận có mối quan hệ chặt chẽ giữa nơi sinh
động cơ là các quan điểm, giá trị liên quan đến chống suy thoái môi trường, lưu giữ kỷ
niệm về mối quan hệ xã hội – sinh thái (đặc biệt là các cộng đồng nhập cư), mong
hút họ tham gia. Các lý thuyết hành vi nhận thức xã hội là một công cụ hữu ích trong
trường hợp này, cần được nghiên cứu áp dụng để đẩy mạnh hơn nữa sự tham gia của
cộng đồng trong quản lý tài nguyên – môi trường.
muốn phục hồi sau thiên tai hoặc chiến tranh, hoặc vì bản thân cộng đồng muốn tự
nâng cao vai trò của bản thân trong quản lý. Trong khi đó, động cơ khiến cộng đồng
tham gia bảo vệ, quản lý tài nguyên – môi trường ở châu Á lại khác vì ở châu Á, yếu
tố chia sẻ trách nhiệm đóng vai trò quan trọng.Ngoài ra, người phương Đông thường
Footer Page 18 of 237.
nước liên quan đến cả đặc điểm kinh tế - xã hội của từng cá nhân trong cộng đồng.
Như vậy, tìm hiểu những nhân tố chi phối đến dự định thực hiện một hành vi
1.3.
Khái quát những vấn đề chưa được nghiên cứu
Tổng quan các nghiên cứu trước đây cho thấy còn tồn tại những vấn đề đang bỏ
ngỏ như sau:
Header Page 19 of 237.
30
tâm của hệ thống quản lý nước có hiệu quả”. Vì vậy, luận án tập trung nghiên cứu sự
tài nguyên nước chủ yếu là nghiên cứu định tính. Chưa có nghiên cứu định lượng bằng
một mô hình lý thuyết cụ thể để tìm hiểu động cơ nằm sau hành vi tham gia của cộng
tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước tại địa bàn nghiên cứu. Về khái
niệm cộng đồng, luận án áp dụng quan điểm: cộng đồng là một nhóm người cùng sống
đồng cũng như các nhân tố tác động vào sự tham gia của họ. Mỗi hành vi tham gia
khác nhau chịu tác động bởi các nhân tố khác nhau với mức độ và chiều hướng khác
trong một khu vực địa lý, tương đồng với nhau về văn hóa và lợi ích, ở đây chỉ bao
gồm các hộ gia đình.
nhau, cần được xác định cụ thể.
Thứ ba, lý thuyết hành vi là một cách tiếp cận phổ biến trên thế giới trong lĩnh
vực quản lý tài nguyên – môi trường, nhưng ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào sử
dụng. Ưu thế của việc áp dụng lý thuyết này là có thể tận dụng các nghiên cứu trước ở
nước ngoài để xác định các biến nhận thức xã hội chi phối hành vi của cộng đồng. Từ
đó có thể phân tích để hiểu được các đặc tính riêng của người Việt Nam trong bối cảnh
quản lý tài nguyên – môi trường và đưa ra khuyến nghị chính sách phù hợp, thúc đẩy
vai trò của cộng đồng trong quản lý tài nguyên – môi trường.
Luận án này được thực hiện sẽ góp phần lấp vào những khoảng trống nghiên
cứu nói trên. Thông qua nghiên cứu định tính và định lượng, luận án xem xét, đánh giá
hành vi, mức độ tham gia của cộng đồng trong toàn bộ các khía cạnh của quản lý tài
nguyên nước; đồng thời xác định động cơ, nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của họ.
Nội dung quản lý tài nguyên nướcdựa vào cộng đồng
Theo Trần Thanh Lâm (2004), nội dung quản lý môi trường dựa vào cộng đồng
bao gồm: Thứ nhất, cộng đồng xác định những vấn đề môi trường cần được ưu tiên để
cho các mục đích khác nhau.
Quy hoạch: xây dựng và cập nhật quy hoạch tài nguyên nước.
-
Sự tham gia của các nhóm có liên quan: quá trình ra quyết định phải có sự tham
gia của các bên có liên quan đến tài nguyên nước.
Kiểm soát ô nhiễm: hạn chế ô nhiễm và giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực của
ô nhiễm bằng các công cụ khác nhau.
-
Giám sát: xác định, giải quyết các sự vụ vi phạm quy định về khai thác, sử dụng
tài nguyên nước.
-
Quản lý dưới góc độ kinh tế và tài chính: áp dụng các công cụ kinh tế phù hợp
-
để đảm bảo phát triển bền vững.
Quản lý thông tin: thu thập dữ liệu phục vụ quá trình ra quyết định.
33
• Cử người đại diện cho cộng đồng trong các vấn đề liên quan đến quản lý tài
nguyên nước
• Đóng góp công lao động, tiền, nguyên vật liệu… phục vụ xây dựng, vận
hành, duy trì và bảo dưỡng, bảo vệ công trình nước ở địa phương.
học kinh nghiệm về các điều kiện này, nói cách khác, chúng chính là những nhân tố
ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng. Có thể chia các
nhân tố thành hai nhóm như sau:
Nhóm nhân tố bên trong cộng đồng
- Đặc tính của cộng đồng: Bao gồm những đặc tính cơ bản như quy mô dân số,
sinh kế, quy mô, thu nhập hộ gia đình, trình độ học vấn, độ tuổi của chủ hộ…
• Tham gia các cuộc họp cộng đồng để lập kế hoạch.
- Người đại diện cộng đồng: Người đứng đầu thể hiện vai trò trong việc thông tin
và giáo dục người dân về các cơ hội và công cụ về việc tham gia; phân bổ các nguồn
• Đóng góp ý kiến vào việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đề ra.
lực để hỗ trợ việc tham gia của cộng đồng. Người đứng đầu cần phải có được kỹ năng
Footer Page 20 of 237.
Header Page 21 of 237.
34
35
giao tiếp công chúng tốt để tránh xung đột thường xảy ra trong quá trình tham gia, đảm
không chính xác. Trong khi đó, hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước là hành vi xã
hội nên nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nhận thức, quan điểm, giá trị xã hội. Vì vậy,
họ thực hiện hành vi đó trong thực tế càng lớn. Sức mạnh của dự định bị chi phối bởi
ba nhân tố: thái độ (attitude), chuẩn mực chủ quan (subjective norm) và nhận thức
kiểm soát hành vi (perceived behavioural control) (Hình 2.2).
Thái độ phản ánh đánh giá của mỗi cá nhân khi thực hiện một hành vi nhất
định. Họ có thể đánh giá hành vi ấy là tích cực hoặc tiêu cực. Chuẩn mực chủ quan bị
chi phối bởi sức ép mà mỗi cá nhân cho rằng họ phải chịu hoặc cái mà họ nghĩ những
thường, quản lý dựa vào cộng đồng diễn ra do sự liên kết của các đối tác trong quá
người khác muốn họ làm. Nhận thức kiểm soát hành vi là đánh giá của mỗi cá nhân về
những thuận lợi, khó khăn mà họ sẽ gặp phải khi thực hiện hành vi. Nhận thức kiểm
trình quản lý, bao gồm người dân, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các tổ chức phi
chính phủ. Chìa khóa cho mối quan hệ hợp tác giữa các bên này là sự chia sẻ trách
soát hành vi có ảnh hưởng trực tiếp lên hành vi thực tế nếu con người nhận biết chính
xác khó khăn và thuận lợi họ gặp phải. Quy tắc chung là thái độ và chuẩn mực chủ
nhiệm và lòng tin trong quá trình tiến hành hoạt động quản lý giữa các đối tác. Do đó,
ngoài thiết lập cơ chế chia sẻ trách nhiệm, các bên còn cần có tinh thần hợp tác, cởi
càng có mong muốn thực hiện hành vi trong thực tế.
quan về hành vi càng tích cực, nhận thức kiểm soát hành vi càng lớn thì một cá nhân
mở, tin tưởng và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình quản lý.
Để tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước, cần
nghiên cứu ảnh hưởng cụ thể của các nhân tố nói trên để có cơ sở đề xuất giải pháp.
Luận án lựa chọn cách tiếp cận nghiên cứu hành vi xã hội của các cá nhân trong cộng
36
37
Lý thuyết hành vi dự kiến cho rằng thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức
(2004), Davis và cộng sự (2006) cho hành vi tham gia tái chế chất thải của cộng đồng
kiểm soát hành vi có quan hệ với niềm tin của các cá nhân, phản ánh nhận thức, kinh
nghiệm, hiểu biết của họ. Thái độ hình thành từ sự kết hợp của niềm tin của một cá
ở Anh cho kết quả các biến TPB gồm thái độ, chuẩn mực chủ quan, nhận thức kiểm
đều có tác động thuận chiều lên hành vi tham gia. Sathapornvajana và cộng sự (2006)
nhân cho rằng một hành vi nhất định sẽ dẫn tới một kết quả nhất định và cá nhân đánh
giá thế nào về kết quả đó (tích cực hay tiêu cực). Nó được gọi là niềm tin hành vi
(behavioural beliefs). Tương tự, chuẩn mực chủ quan xuất phát từ niềm tin của cá nhân
về nhận định, đánh giá của người khác đối với cá nhân đó, nó bao gồm niềm tin về
kết luận biến thái độ và chuẩn mực chủ quan có tác động thuận chiều lên hành vi bảo
vệ tài nguyên nước của cộng đồng dân cư Thái Lan. Fielding và cộng sự (2008) xem
xét hành vi bảo vệ tài nguyên nước của cộng đồng ở Australia và khẳng định rằng các
biến TPB có tác động thuận chiều lên hành vi, nhất quán với lý thuyết TPB. Nghiên
chuẩn mực xã hội (normative beliefs) và mong muốn được thực hiện theo (motivation
to comply). Mỗi người đều nghĩ rằng mọi người xung quanh sẽ ủng hộ hoặc phản đối
cứu của Cabaniss (2014) về hành vi tham gia chương trình quản lý chất thải độc hại
của cộng đồng ở Mỹ cũng có kết quả tương tự với tác động thuận chiều của 3 biến
cùng mối quan hệ với mục đích, hành động, bối cảnh và thời gian của hành vi. Thứ
hai, khoảng thời gian giữa dự định và hành vi phải ngắn nhất có thể để đảm bảo cá
nước là thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi với tác động thuận chiều, phù hợp với
lý thuyết TPB. Ngoài ra, lý thuyết này chưa phổ biến ở Việt Nam trong lĩnh vực quản
lý tài nguyên – môi trường.
nhân không có nhiều cơ hội thay đổi ý định thực hiện hành vi của mình.
2.3. Giả thuyết nghiên cứu
Phân tích tổng hợp các nghiên cứu TPB cho thấy khi nghiên cứu mô hình dự
định thực hiện hành vi phụ thuộc thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát
hành vi, trung bình có 40-50% sự biến động của dự định thực hiện hành vi được giải
vùng hồ Thác Bà thông qua các mức độ và hành vi tham gia vào các khía cạnh trong
quản lý. Trong lý thuyết quản lý dựa vào cộng đồng, các mô hình đều giả định mọi
thích bằng sự biến động của các nhân tố giải thích TPB. Khi dự báo hành vi từ dự định
và/hoặc nhận thức kiểm soát hành vi, mức độ giải thích nằm trong khoảng từ 19 đến
38% (Sutton, 2001). Như vậy, mô hình TPB có thể sử dụng để dự báo dự định thực
hiện hành vi, và nếu có thể tác động lên các biến liên quan đến niềm tin về hành vi, về
chuẩn mực xã hội và về kiểm soát một cách phù hợp thì có thể thay đổi dự định của
các cá nhân, qua đó thay đổi hành vi của họ theo hướng mong muốn.
Luận án nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước
thành viên trong cộng đồng đều đã tham gia quản lý tài nguyên nước ở mức độ tối
thiểu. Nhưng thực tế là có những cá nhân chưa hề tham gia bất cứ hình thức nào. Do
vậy, nghiên cứu này bổ sung thêm hành vi “tuân thủ chính sách quản lý tài nguyên
vấn”. Hai hành vi “đóng góp công sức, tài chính” và “cử người đại diện tham gia quản
lý” phản ánh cộng đồng có cơ hội được tham gia quản lý nhưng vai trò quản lý chính
giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng của tài nguyên nước ở Alberta, Canada. Các giá
trị được đưa ra gồm: sự hài lòng khi thế hệ tương lai có nước để sử dụng;chất lượng
vẫn thuộc về nhà nước nên chúng được xếp vào cấp độ “cùng thực hiện”. Nghiên cứu
của Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh (2006) cho thấy các hành vi tham gia
quản lý tài nguyên nước của cộng đồng ở Việt Nam còn hạn chế, chưa lên đến cấp độ
cao hơn là “đối tác” và “chủ trì”. Bảng 2.1 tổng kết giả thuyết các hành vi tham gia
cuộc sống tốt nhờ hệ sinh thái dưới nước đa dạng, phong phú; chất lượng cuộc sống tốt
nhờ cảnh quan đẹp; nước phục vụ sinh hoạt; nước phục vụ tưới tiêu nông nghiệp.
Ngoài ra Russenberger và cộng sự (2012) còn tìm hiểu quan điểm của cộng đồng về
những giá trị có liên quan đến tài nguyên nước hoặc bị ảnh hưởng bởi tài nguyên nước
tương ứng với mỗi cấp độ tham gia được sử dụng trong nghiên cứu.
như: sinh kế, văn hóa, truyền thống… Dựa vào các nhân tố giá trị trong nghiên cứu
của Russenberger và cộng sự, đồng thời điều chỉnh cho phù hợp với vai trò của tài
Bảng 2.1: Giả thuyết về hành vi và cấp độ tham gia quản lý tài nguyên nước của
cộng đồng
Hành vi tham gia quản lý tài nguyên
nước của cộng đồng
Cấp độ tham gia quản lý tài nguyên
nước của cộng đồng
Nguồn: Tổng kết của tác giả.
Luận án này sử dụng lý thuyết TPB để tìm hiểu các nhân tố tác động đến từng
hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng như đã trình bày trong phần
2.2. Như vậy mỗi dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước được giả định
chịu tác động của 3 nhân tố:
gia quản lý tài nguyên nước khác nhau nên mục đích sử dụng nước có tác động lên
dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước.
- Tuổi: Thành viên cộng đồng càng sống lâu năm, càng gắn bó với tài nguyên
nước tại địa bàn thì càng tích cực bảo vệ tài nguyên nước. Nghiên cứu của Sheikh và
cộng sự (2014) ở Malaysia cho thấy người nhiều tuổi hơn tham gia nhiều hơn vào
quản lý tài nguyên nước.Do vậy, luận án giả định tuổi có tác động thuận chiều lên dự
kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước.
- Dân tộc: Thành viên cộng đồng là người dân tộc thiểu số thì có dự kiến tham
gia quản lý tài nguyên nước khác với cộng đồng người Kinh nên luận án giả định biến
-
Thái độ: tác động thuận chiều lên dự kiến hành vi
-
Chuẩn mực chủ quan: tác động thuận chiều lên dự kiến hành vi
-
Nhận thức kiểm soát hành vi: tác động thuận chiều lên dự kiến hành vi.
có thể lập luận rằng vì sinh kế của người có thu nhập thấp phụ thuộc tài nguyên nước,
và sinh kế của họ sẽ bị ảnh hưởng khi tài nguyên nước bị quản lý kém hiệu quả, vì vậy
người đó sẽ có dự định tham gia nhiều hơn vào quản lý tài nguyên nước. Do vậy trong
nghiên cứu này giả định thu nhập là biến có tác động lên dự kiến hành vi tham gia
quản lý tài nguyên nước.
Bảng 2.2. Giả thuyết về các nhân tố tác động vào dự kiến hành vi tham gia
Biến giải thích
Tác động dự kiến
Nguồn tham chiếu
Thái độ
Cùng chiều
Ajzen (1991)
Chuẩn mực chủ quan
Cùng chiều
Ajzen (1991)
Nhận thức kiểm soát hành vi
Cùng chiều
Ajzen (1991)
Tùy từng cộng đồng
Thu nhập
Tùy từng cộng đồng
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Khung nghiên cứu
Xuất phát từ nhu cầu cá nhân với các đặc điểm về kinh tế - xã hội khác nhau,
các đối tượng sử dụng nước khác nhau có hành vi khai thác, sử dụng nước khác nhau,
dẫn đến tài nguyên nước được sử dụng không hiệu quả. Để giải quyết tình trạng đó,
quản lý có sự tham gia của cộng đồng là một giải pháp. Tuy nhiên, muốn cộng đồng
thực sự tham gia quản lý thì phải hiểu động cơ tham gia của cộng đồng. Lý thuyết về
quản lý dựa vào cộng đồng được sử dụng để tìm hiểu hiện trạng hành vi, mức độ tham
gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái. Lý thuyết
hành vi dự kiến được sử dụng để tìm hiểu hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước bị
chi phối bởi những nhân tố nào và có thể tác động vào các nhân tố đó để đẩy mạnh sự
tham gia của cộng đồng.
Cộng đồng là một khái niệm rộng lớn, gồm nhiều thành phần khác nhau. Cộng
đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái gồm các hộ gia đình, doanh nghiệp, tổ chức... có
tác động, liên quan đến tài nguyên nước. Luận án này chỉ nghiên cứu sự tham gia của
cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước ở cấp độ hộ gia đình, không xét đến hành vi
của các tổ chức, doanh nghiệp.
Nghiên cứu này giả định sự tham gia của cộng đồng thể hiện qua cấp độ, hình
thức tham gia của họ. Đồng thời, hành vi tham gia quản lý của cộng đồng bị chi phối bởi
các nhân tố khác nhau. Theo lý thuyết hành vi dự kiến, dự kiến hành vi tham gia trong
tương lai phụ thuộc các nhân tố thái độ, chuẩn mực chủ quan, nhận thức kiểm soát hành
vi. Ngoài ra, dựa vào các nghiên cứu trước đó, dự kiến hành vi tham gia quản lý còn phụ
Quản lý tài nguyên
nước có sự tham gia
của cộng đồng
Nhà nước
Như đã trình bày trong chương 2, dựa vào nghiên cứu của Nguyễn Việt Dũng
và Nguyễn Danh Tĩnh (2006) và kết hợp với thông tin từ phỏng vấn sâu với một số hộ
gia đình ở thành phố Yên Bái và xã Vũ Linh, huyện Yên Bình, với cán bộ UBND
huyện Yên Bình và Lục Yên, các hình thức tham gia quản lý tài nguyên nước của các
hộ gia đình vùng hồ Thác Bà bao gồm:
• Tuân thủ chính sách quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà (cấp độ thông báo)
• Tham gia các buổi họp người dân (cấp độ thông báo)
Lý thuyết
quản lý
dựa vào
cộng đồng
Tìm hiểu cấp
độ, hành vi
tham gia quản
lý của cộng
đồng
Tìm hiểu các yếu
tố tác động lên
hành vi tham gia
quản lý của cộng
Hình 3.1: Khung nghiên cứu
Nguồn: Tổng hợp của tác giả.
3.2. Mô hình và các biến nghiên cứu
DKHVTG = β1 x TĐ + β2 x CMCQ + β3 x NTKSHV + β4 x honuocmay + β5 x
hovenho +β6 x hothuysan + β7 x tuoi + β8 x Dantoc + β9 x TĐHV + β10 x QMH + β11 x
thunhap + βi x giatrii
Trong đó:
DKHVTG: dự kiến hành vi tham gia
TĐ: thái độ
CMCQ: chuẩn mực chủ quan
Hành vi, cấp độ tham gia của cộng đồng
NTKSHV: nhận thức kiểm soát hành vi
Hồ chứa Thác Bà là công trình được hình thành với các nhiệm vụ chính là phát
Honuocmay: hộ sử dụng nước máy từ hồ Thác Bà
điện phục vụ nền kinh tế trong nước và chống lũ, tưới tiêu, chống hạn cho nông nghiệp
vùng đồng bằng Bắc Bộ. Do vậy, việc quản lý tài nguyên hồ Thác Bà không chỉ nằm
trong phạm vi cộng đồng dân cư địa phương mà cần thiết phải có vai trò của cộng
Footer Page 25 of 237.
Hothuysan: hộ nuôi trồng, đánh bắt thủy sản trên hồ Thác Bà
Hovenho: hộ sống ven hồ Thác Bà sử dụng nước cho mục đích khác ngoài nước
máy, sản xuất lâm nghiệp, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản