Múa rối nước ở Thái Bình từ khi đất nước thống nhất (1975) đến nay (Luận án tiến sĩ) - Pdf 48

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN ĐỊNH

MÚA RỐI NƯỚC Ở THÁI BÌNH
TỪ KHI ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT (1975) ĐẾN NAY

Chuyên ngành: VĂN HÓA DÂN GIAN
Mã số: 9 22 90 41

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
PGS,TS NGUYỄN XUÂN NGHỊ

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi và công trình này
đảm bảo các nguyên tắc đạo đức trong việc trích dẫn tài liệu.
Nghiên cứu sinh

Nguyễn Văn Định

ii



iii


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GS

Giáo sƣ

NSND

Nghệ sĩ nhân dân

Nxb

Nhà xuất bản

PGS

Phó giáo sƣ

PV

Phỏng vấn

THCS

Trung học Cơ sở

TS

các tỉnh từ Nghệ An trở ra Bắc. Không phải tỉnh nào cũng có múa rối nƣớc,
nghệ thuật này có mặt đáng kể ở tỉnh Hà Đông cũ, Sơn Tây cũ, ngoại thành
Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dƣơng, Hải Phòng, đặc biệt tập trung ở hai tỉnh Thái
Bình và Nam Định. Từ lâu, những phƣờng rối nƣớc ở Thái Bình mà cụ thể là
rối nƣớc làng Nguyễn (Nguyên Xá), rối nƣớc làng Đống (Đông Các) đã đƣợc
khán giả trong, ngoài nƣớc biết đến, đã đƣợc giới nghiên cứu quan tâm. Cũng
nhƣ nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống khác, có lúc múa rối nƣớc không
có đất để phát triển, có lúc đƣợc phục hồi và sau khi đƣợc phục hồi nó luôn
luôn phải thích ứng với những sự thay đổi của hoàn cảnh, của thời đại.
Trong thế kỷ XX, năm 1945 và năm 1975 đánh dấu hai sự kiện cực kỳ
quan trọng của đất nƣớc và dân tộc. Tháng 8/1945, dƣới sự lãnh đạo của
Đảng, nhân dân ta đứng lên làm cách mạng, giành lại chính quyền và thành
lập chế độ mới. Ngày 30/4/1975 là ngày đất nƣớc thống nhất. Tuy rằng, các
biến cố chính trị không phải lúc nào cũng trùng khớp với những đổi thay về
văn hóa nhƣng giới nghiên cứu vẫn thƣờng lấy các mốc 1945 và 1975 trong
khi phân chia những giai đoạn khác nhau của một đối tƣợng khảo sát. Ngoài
ra, các mốc năm 1945 và năm 1975 không chỉ phản ánh biến cố chính trị mà
còn đánh dấu những thời đoạn văn hóa. Thí dụ, về mốc năm 1975, sử gia Trần
Quốc Vƣợng và các cộng sự nhận xét: “Từ sau năm 1975, hai miền thống
nhất, việc giao lƣu càng diễn ra mạnh mẽ hơn. Cuối cùng, không thể không
thừa nhận sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, nhất là khoa học thông tin hiện đại,
khiến việc giao lƣu văn hóa ở thời hiện đại sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn” [140,
tr.148].
1


Về múa rối nƣớc Thái Bình, hầu hết các tài liệu nghiên cứu mà tiêu
biểu là công trình của tác giả Nguyễn Huy Hồng chủ yếu mới khảo sát từ
1975 trở về trƣớc. Ngoài ra, từ sau năm 1975 đặc biệt là từ sau năm 1986, văn
hóa nghệ thuật nƣớc nhà có nhiều biến chuyển lớn, thời cơ, thuận lợi không ít

Bình từ khi thống nhất đất nƣớc đến nay. Tuy nhiên, rối nƣớc Thái Bình
không tồn tại một cách chung chung mà hiện diện với tƣ cách là những
phƣờng rối, gắn bó với làng quê. Trƣớc kia Thái Bình có đến bảy phƣờng rối,
song trong vòng bảy chục năm nay chỉ có hai phƣờng còn hoạt động. Bởi vậy,
về thực chất chúng tôi sẽ nghiên cứu kỹ hai phƣờng rối làng Nguyễn và làng
Đống từ sau năm 1975. Để có điều kiện hiểu sâu hơn đối tƣợng, chúng tôi còn
dành sự quan tâm nhất định đối với rối nƣớc Thái Bình trƣớc năm 1975.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Không gian nghiên cứu
Không gian nghiên cứu là những làng có phƣờng rối ở tỉnh Thái Bình,
cụ thể ở đây là làng Nguyễn và làng Đống. Cả hai làng này nay đều thuộc
huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ đề
cập đến một số làng khác nhằm làm rõ hơn các nhận xét về hai làng nói trên.
3.2.2. Thời gian nghiên cứu
Chúng tôi chủ yếu nghiên cứu múa rối nƣớc Thái Bình từ sau khi đất
nƣớc thống nhất (30/4/1975) đến nay. Để so sánh, đối chiếu, chúng tôi cũng
quan tâm đến múa rối nƣớc Thái Bình trƣớc năm 1975.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận
Tên đề tài luận án có cụm từ “rối nƣớc tỉnh Thái Bình”. Nhƣng rối
nƣớc tỉnh Thái Bình không tồn tại một cách chung chung mà tồn tại với tƣ
cách là những phƣờng hội của một làng quê cụ thể. Nhƣ vậy, ở đây có mối
quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Theo ý nghĩa triết học, “phạm trù cái
chung đƣợc dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung không chỉ có ở
một số kết cấu vật chất nhất định, mà còn đƣợc lặp lại trong nhiều sự vật, hiện
tƣợng hay quá trình riêng lẻ khác. Phạm trù cái riêng dùng để chỉ một sự vật,
3


một hiện tƣợng, một quá trình riêng lẻ nhất định” [53, tr.341]. Ở đây, chúng


THCS Đông Các. Ngoài ra, trong những đợt điền dã, chúng tôi đã phỏng vấn
sâu 20 ngƣời gồm nghệ nhân, trƣởng phƣờng, nhà nghiên cứu, đại diện chính
quyền, ngƣời dân địa phƣơng và học sinh của Trƣờng THCS ở Đông Các và
Nguyên Xá. Không chỉ khảo sát và phỏng vấn tại Thái Bình, chúng tôi còn
đến Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (đƣờng Nguyễn Văn Huyên, quận Cầu
Giấy, Hà Nội) phỏng vấn lãnh đạo và cán bộ cơ quan này, xem các nghệ nhân
Nguyên Xá và nghệ nhân một số phƣờng khác biểu diễn, phỏng vấn các nghệ
nhân và một số ngƣời xem. Chúng tôi cũng làm việc với Công ty Long Link
Việt Nam (đƣờng Nguyễn Khánh Toàn, quận Cầu Giấy), đến tận nơi ăn nghỉ
của các nghệ nhân làng Nguyễn trong thời gian họ nghỉ ngơi. Có những vấn
đề về tài chính mà nhiều cơ quan, công ty, phƣờng rối không muốn nói. Có
những câu chuyện, họ yêu cầu chúng tôi không công bố. Có những ngƣời
đồng ý cho công bố thông tinh song không nêu danh tính của họ. Với những
trƣờng hợp này, chúng tôi tôn trọng đề nghị của họ.
Thứ ba, chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp phân tích và tổng hợp
trong nghiên cứu văn hóa dân gian. Trong cuốn sách của nhiều tác giả Văn
hóa dân gian những phương pháp nghiên cứu, GS Đinh Gia Khánh đã viết về
phƣơng pháp tổng hợp trong nghiên cứu văn hóa dân gian. Theo tác giả, tác
phẩm folklore tồn tại và vận động trong một chỉnh thể nguyên hợp. Bởi vậy
phƣơng hƣớng tiếp cận thẩm mĩ cần đƣợc kết hợp với phƣơng hƣớng tiếp cận
chỉnh thể. Với tính cách là chỉnh thể nguyên hợp, tác phẩm folklore thƣờng
bao gồm nhiều thành tố gắn bó một cách tự nhiên và hữu cơ với nhau.
Trong một tác phẩm folklore có thể tùy theo hoàn cảnh mà thành tố
này hoặc thành tố khác nổi bật lên. Hơn nữa, lại có những trƣờng
hợp mà các thành tố nào đó của chỉnh thể nguyên hợp ấy tách riêng
ra và tồn tại nhƣ một tác phẩm độc lập. (…). Nhƣng các tác phẩm
này, nếu có lúc có thể tồn tại và vận động một cách tƣơng đối độc
lập, thì lại thƣờng hay đƣợc thu hút trở lại vào chỉnh thể nguyên
hợp. Xét đến cùng, chúng chỉ có thể phát huy một cách thực là sâu

vào năm 1944. Từ đó trở về sau, phƣờng ngừng hoạt động [61, tr.457]. Trong
kết quả điều tra công bố năm 2002 của TS, NSND Phạm Thị Thành, vùng châu
6


thổ Bắc Bộ có 14 phƣờng rối, không có phƣờng Tuộc [108, tr.161]. Năm 2012,
trong luận án tiến sĩ, tác giả Vũ Tú Quỳnh cho rằng đến thời điểm công bố luận
án, hiện có 15 phƣờng rối nƣớc ở châu thổ Bắc Bộ đã đƣợc phục hồi. Trong
danh sách, phƣờng Tuộc ở số thứ tự 15. Tác giả viết: “Sự hồi sinh của 15
phƣờng rối nƣớc trong giai đoạn từ Đổi mới đến nay là một sự chuyển mình rất
lớn. Tất cả những phƣờng rối này đều đã có tên tuổi từ xƣa, không có phƣờng
rối nào đƣợc thành lập mới hoàn toàn” [108, tr.83-84]. Năm 2014, trong luận
án tiến sĩ, tác giả Lê Thị Thu Hiền đƣa ra danh sách 15 phƣờng đang duy trì
hoạt động [49, tr.97]. Danh sách 15 phƣờng mà tác giả nêu ra trùng khớp (cả về
thứ tự so) với danh sách của Vũ Tú Quỳnh. Nhƣ thế là cả Nguyễn Huy Hồng
và Phạm Thị Thành đều cho rằng phƣờng Tuộc không còn hoạt động. Còn Vũ
Tú Quỳnh và Lê Thị Thu Hiền nhận xét rằng phƣờng này đã đƣợc phục hồi.
Những thông tin trái chiều này đã đƣợc chúng tôi kiểm chứng bằng cuộc đi
khảo sát ở chính làng Tuộc, xã Phú Lƣơng ngày 2/10/2016. Tài liệu điền dã và
kết quả phỏng vấn sâu đã xác nhận sự đúng đắn mà nhà nghiên cứu Nguyễn
Huy Hồng đã thông tin. Nhƣ thế là các phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, so
sánh, điều tra, phỏng vấn đã đƣợc kết hợp sử dụng.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Trình bày một cách có hệ thống về múa rối nƣớc Thái Bình từ sau
ngày đất nƣớc thống nhất đến nay; sau khi so sánh nó với múa rối nƣớc Thái
Bình trƣớc năm 1975, khẳng định sự chuyển biến vƣợt bậc của nó.
- Lý giải sự chuyển biến vƣợt bậc của múa rối nƣớc Thái Bình từ sau
khi đất nƣớc thống nhất đến nay.
- Từ sự đa dạng của múa rối nƣớc hiện nay, góp bàn về hƣớng đi của
múa rối nƣớc Thái Bình.

Chƣơng 3: Sự chuyển biến của múa rối nƣớc Thái Bình từ sau khi đất
nƣớc thống nhất (1975) đến nay;
Chƣơng 4: Lý giải và bàn luận từ thực tế múa rối nƣớc Thái Bình nói
riêng, múa rối nƣớc châu thổ Bắc Bộ nói chung.

8


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,
LÝ THUYẾT VẬN DỤNG, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Năm 1974, nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng cho rằng: “Múa rối là
một nghệ thuật dùng con rối làm trò, đóng kịch trên sân khấu, còn ngƣời điều
khiển đƣợc che giấu kín” [55, tr.14]. Quan niệm này không sai song chƣa đầy
đủ. Năm 1976, nhà nghiên cứu Tô Sanh viết:
Múa rối là một loại hình nghệ thuật sân khấu có khả năng truyền
cảm một cách cao độ, là sự phối hợp tài tình giữa kỹ thuật và nghệ
thuật tạo hình, với kỹ thuật và nghệ thuật điều khiển, lấy con rối
làm phƣơng tiện chủ yếu để hoàn thành nhiệm vụ thể hiện mọi mặt
phong phú của trí tƣởng tƣợng loài ngƣời, của hiện thực khách
quan. Nó có khả năng tập trung hòa hợp nhiều hình thức nghệ thuật,
không gian và thời gian kể cả các loại hình sân khấu khác. Nó phục
vụ mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thiếu nhi. Múa rối có rất nhiều
loại. Nhân vật rối là trung tâm. Ngƣời diễn viên điều khiển thƣờng
đƣợc che giấu kín, sân khấu của nó và bản thân nó cần phù hợp với
kích thƣớc, với tính chất của ngƣời và rối chứ không phải cơ bản do
hóa trang ngƣời thật hoặc máy móc quyết định [110, tr.17].
Định nghĩa của Tô Sanh cho thấy, múa rối còn bao hàm cả kỹ thuật

Năm 1992 Hoàng Kim Dung phân tích mối quan hệ giữa “nghệ thuật
múa rối và vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho trẻ em” [25]
Năm 1996, tác giả Nguyễn Huy Hồng công bố cuốn sách Rối nước Việt
Nam tại Nxb Sân khấu. Ông tiếp tục khẳng định rối nƣớc là nghệ thuật độc
đáo của Việt Nam gắn liền với cƣ dân trồng lúa nƣớc, với làng Việt. Ông
cũng đã bàn đến các yếu tố: nhà hát (buồng trò, sân khấu), quân rối, nhân vật,
trò và tích trò, văn học, âm nhạc, diễn xuất, nghệ nhân. Trong phần phụ lục,
10


ông giới thiệu một số trò rối nƣớc, một số bài giáo rối nƣớc và thống kê các
phƣờng hội rối nƣớc dân gian [57].
Năm 1997, Hoàng Kim Dung giới thiệu chung về múa rối nƣớc ta trong
cuốn sách Múa rối nước Việt Nam những điều nên biết [26].
Năm 2005, Nguyễn Huy Hồng công bố cuốn sách Lịch sử nghệ thuật
múa rối Việt Nam, tại Nxb Sân khấu. Bên cạnh ƣu điểm là tƣ liệu thực địa dồi
dào, trong việc trình bày về lịch sử nghệ thuật múa rối, tác giả đã ít thành
công, nhất là phần viết về nghệ thuật múa rối từ năm 1945 đến năm 1975 [59].
Năm 2006, tác giả Nguyễn Thành Nhân cho ra mắt cuốn sách Nghệ
thuật rối và một số đặc trưng của sân khấu rối Việt Nam. So với các tác giả đi
trƣớc, điểm mới của cuốn sách là đã bàn về những hạn chế của nghệ thuật sân
khấu rối nƣớc ta, nêu ra một số giải pháp nhằm tiếp tục gìn giữ và phát triển
nghệ thuật sân khấu rối. Tác giả cũng đề xuất việc thành lập đoàn rối nƣớc
thực nghiệm [90].
Cũng trong năm 2006, cuốn sách Nghệ thuật rối nước Việt Nam của Lý
Khắc Cung đƣợc Nxb Văn hóa - Thông tin công bố. Sau khi viết về múa rối
nƣớc phản ánh tƣ tƣởng, tình cảm của ngƣời Thăng Long - Hà Nội, phân tích
tính ngẫu hứng, độc đáo của múa rối nƣớc, tác giả mô tả các tích, trò múa rối
đang lƣu truyền ở các phƣờng rối dân gian [21].
Năm 2007, Nxb Sân khấu công bố cuốn sách Nghệ thuật múa rối của

mỹ của múa rối nƣớc Việt Nam. Tác giả cũng nêu ra những giải pháp nhằm
bảo tồn và phát huy múa rối nƣớc Việt Nam.
Ngoài ra, còn có những cuốn sách dành một phần nội dung nói về múa
rối nƣớc nhƣ giáo trình Văn học dân gian Việt Nam do Lê Chí Quế chủ biên
[106], tập sách tập hợp các bài viết mang tên Những sắc màu tình yêu của
Hoàng Kim Dung [27].
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về múa rối nƣớc Việt Nam nói
chung, còn có cuốn sách Nghệ thuật múa rối cổ truyền đất Thăng Long của
tác giả Văn Học xuất bản năm 2009 [52].
12


Nếu năm bài viết công bố từ năm 1962 đến năm 1969 của Trần Văn
Nghĩa trên tập san Văn hóa , báo Văn nghệ có tác dụng quảng bá nhận thức về
lịch sử, giá trị của múa rối nƣớc Việt Nam [41, tr.343] thì các bài nghiên cứu
của Trần Quốc Vƣợng, Phạm Đức Dƣơng, Trần Lâm, Vƣơng Duy Biên lại
phân tích sâu một vấn đề cụ thể của múa rối nƣớc. Trần Quốc Vƣợng chỉ ra
rằng múa rối nƣớc nói chung mang bản sắc độc đáo của ngƣời Việt ở châu thổ
Bắc Bộ, hệ thống sông - hồ - ao - đầm - ruộng nƣớc chính là hệ sinh thái nhân
văn của nghệ thuật này nằm trong tổng thể hệ sinh thái nông nghiệp Việt Nam
[147]. Phạm Đức Dƣơng nhấn mạnh yếu tố tâm linh trong rối nƣớc [30]. Trần
Lâm, Vƣơng Duy Biên chú ý đến giá trị mỹ thuật của nghệ thuật này [78], [13].
Không ít học viên cao học chọn múa rối nƣớc làm đề tài luận văn thạc
sĩ: Nguyễn Hoàng Minh Vân (2011) với Hoạt động của các phường hội rối
nước ở châu thổ sông Hồng thực trạng và giải pháp [139], Trần Thị Minh
(2012) với Khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật múa rối ở vùng đồng
bằng Bắc Bộ Việt Nam phục vụ phát triển du lịch [83], Lê Quỳnh Trang
(2013) với Phát huy vai trò của nghệ thuật múa trong múa rối nước Việt
Nam [130].
Để quảng bá múa rối nƣớc với bạn đọc nƣớc ngoài, năm 1986 Nhà xuất

“Tào Tháo cắt tu phế bào” (Tào Tháo cắt râu, cởi bỏ áo bào) [55, tr.152-189].
Năm 1976, trong cuốn sách Nghệ thuật múa rối nước, nhà nghiên cứu Tô
Sanh dành ít trang viết về múa rối nƣớc Nguyên Xá và rối nƣớc Đông Các
(làng Đống). Ngoài những thông tin đã thấy ở cuốn sách xuất bản năm 1974
của Nguyễn Huy Hồng, cái mới ở đây là tài trí của trùm phƣờng và nghệ nhân
Nguyên Xá khi phƣờng gặp sự cố bất ngờ [110, tr.176-177]. Năm 1977,
Nguyễn Huy Hồng xuất bản cuốn sách Nghệ thuật múa rối nước Thái Bình.
Đây là chuyên khảo đầu tiên và duy nhất về múa rối nƣớc Thái Bình. Ngoài
việc miêu thuật khá kỹ về sân khấu, buồng trò, quân rối, máy điều khiển, nghệ
nhân, phƣờng hội, nhân vật Tễu, cách thức biểu diễn, văn học, âm nhạc, giới
thiệu rối nƣớc làng Nguyễn và rối nƣớc làng Đống, tác giả còn viết về phƣờng
14


rối nƣớc làng Tuộc. Tuộc là tên nôm của làng Duyên Tục, xã Phú Lƣơng,
huyện Đông Hƣng. Phƣờng Tuộc ít hoạt động, ngày xƣa khoảng từ một đến
hai năm mới tổ chức diễn một lần phục vụ bà con trong làng. Lần diễn cuối
cùng là vào năm 1944. Qua lời kể của nghệ nhân Phạm Văn Bàn, tác giả đã
phục hồi đƣợc chƣơng trình biểu diễn thời trƣớc và cung cấp một số lời giáo
trò mà một số ngƣời còn nhớ.
Năm 1981, trong cuốn sách Văn học dân gian Thái Bình do Phạm Đức
Duật chủ biên, tác giả Nguyễn Huy Hồng đã giới thiệu các lời giáo trò của
múa rối nƣớc Thái Bình [24].
Năm 1987, Nghệ thuật múa rối nước Thái Bình đƣợc tái bản, có bổ
sung [56].
Về múa rối nƣớc Thái Bình, đến nay đã có hai bản luận văn thạc sĩ đề
cập đến. Đó là Tìm hiểu nghệ thuật múa rối nước cổ truyền làng Nguyễn
(1997) của Phạm Trọng Toàn. Sau khi tìm hiểu bản sắc làng Nguyễn, nghệ
thuật múa rối của làng, tác giả đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp kế thừa,
phát huy những giá trị đặc sắc của nghệ thuật này [127]. Đó là Nghệ thuật

hóa của dân, do ngƣời dân sáng tạo, lƣu truyền và thƣởng thức. Dòng văn hóa
bác học không phải do ngƣời dân sáng tạo. Theo GS Đinh Gia Khánh, dòng
văn hóa bác học là sản phẩm của các tầng lớp trí thức. Riêng về thuật ngữ, có
ý kiến cho rằng các từ chuyên nghiệp, bác học không thật thích hợp với đối
tƣợng, mà nên dùng thuật ngữ “tinh anh” hoặc “cao nhã” [74, tr.30]. Thí dụ,
văn học Việt Nam thời trung đại có hai dòng là văn học dân gian và văn học
thành văn (còn gọi là văn học viết). Nhắc đến văn học thành văn là ngƣời ta
nhớ đến các tác giả nhƣ Pháp Thuận, Viên Chiếu, Mãn Giác, Ỷ Lan, Lý Nhân
Tông, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Phạm Sƣ Mạnh, Trần Minh Tông,
Sử Ni Nhan, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Cao
Bá Quát, Tự Đức, Miên Thẩm, Miên Trinh, Nguyễn Đình Chiểu,… Nếu gọi

16


Luận án đầy đủ ở file: Luận án full







Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status