1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đại dịch HIV/AIDS không chỉ là một vấn đề nan giải của bệnh tật mà
nó còn là một vấn đề sức khỏe gây ảnh hưởng và tác động lớn đến mọi khía
cạnh của con người, đặc biệt là các khía cạnh về kinh tế, xã hội và văn hóa.
Tại Việt Nam, ca nhiễm HIV được phát hiện đầu tiên vào tháng 12 năm 1990.
Sau hơn 20 năm đương đầu với HIV/ AIDS, bất chấp sự nỗ lực của nhà nước
và cả cộng đồng, vấn đề này vẫn đang diễn biến phức tạp. Các trường hợp
nhiễm HIV mới phát hiện và tử vong tính chung toàn quốc, có xu hướng giảm
tuy nhiên mức độ giảm của dịch chưa sâu, không ổn định và vẫn ở mức cao,
tốc độ giảm của dịch đã chậm lại so với trước đây. Mặc dù số mới phát hiện
nhiễm HIV giảm, tuy nhiên số tích lũy các trường hợp nhiễm HIV ngày tiếp
tục tăng do thêm số nhiễm mới HIV và giảm số tử vong [1].
Việt Nam là một trong các quốc gia có tỉ lệ nhiễm HIV/AIDS tăng
nhanh nhất thế giới. Đến hết 31/3/2014, toàn quốc hiện có 218,204 trường
hợp báo cáo hiện nhiễm HIV. Về địa bàn phân bố: tính đến 31/3/2014,
toàn quốc đã phát hiện người nhiễm tại 78% xã, phường, gần 98% quân
huyện và 63/63 tỉnh/thành phố [1].
Đại dịch HIV/AIDS để lại hậu quả nặng nề về nhiều mặt: kinh tế, an
ninh chính trị, sức khoẻ của con người, văn hóa xã hội,…Học sinh trung
học phổ thông là thế hệ tương lai của đất nước, đang chuẩn bị hành trang
để bước vào đời, vì vậy việc giáo dục nhận thức về HIV/AIDS là một
nhiệm vụ hết sức quan trọng, cấp thiết.
Tích luỹ đến 30/9/2013, toàn tỉnh Bắc Giang đã phát hiện 3.822 người
nhiễm HIV. Tuy nhiên, trong những năm qua, ngân sách của tỉnh còn hạn
hẹp, phần kinh phí dành cho phòng chống HIV/AIDS không lớn, còn khiêm
2
35,0 triệu người sống chung với HIV với 2,1 triệu người nhiễm mới HIV.
Cận Saharan Châu Phi là khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất, với 24,7
triệu người sống chung với HIV vào năm 2013. Ngoài ra Cận-Saharan châu
Phi chiếm gần 70% trong tổng số nhiễm mới HIV.
Không có cách chữa khỏi bệnh khi bị nhiễm HIV. Tuy nhiên, hiệu quả
điều trị với thuốc kháng virus (ARV) có thể kiểm soát virus vì vậy mà những
người có HIV có thể tận hưởng cuộc sống lành mạnh và hiệu quả.
Trong năm 2013, có 12,9 triệu người sống chung với HIV đã được điều
trị bằng thuốc kháng retrovirus (ART) trên toàn cầu, trong đó có 11,7 triệu
người nhận ART ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình. Có 11,7
triệu người điều trị ART chiếm 36% của 32,6 triệu người sống chung với HIV
ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình.
Bảo hiểm y tế cho trẻ em vẫn còn tụt hậu trong nước thu nhập thấp và
thu nhập trung bình. Trong năm 2013 ít hơn 1 trong 4 trẻ em sống chung với
HIV được tiếp cận với ART.
4
1.1.2. Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam [5]
Tính đến hết ngày 30/11/2013, số trường hợp báo cáo hiện nhiễm HIV
là 216.254 trường hợp, số bệnh nhân AIDS là 66.533 và đã có 68.977 trường
hợp tử vong do AIDS. Tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc theo số báo cáo là 248
người trên 100.000 người dân, tỉnh Điện Biên vẫn là địa phương có tỷ lệ nhiễm
HIV trên 100.000 dân cao nhất cả nước (1029), tiếp đến là thành phố Hồ Chí
Minh (682), thứ ba là Thái Nguyên (632). Trong 11 tháng đầu năm 2013, cả
nước xét nghiệm mới 11.567 trường hợp nhiễm HIV, trong đó 5.493 bệnh nhân
AIDS, báo cáo có 2.097 người tử vong do AIDS. 10 tỉnh có số trường hợp xét
nghiệm mới phát hiện dương tính lớn nhất trong 11 tháng đầu năm 2013, bao
gồm TP.Hồ Chí Minh 1736 trường hợp, Hà Nội 738 trường hợp, Sơn La 538
tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,6% và trong năm 2013, tỷ lệ này là 45,1% trong
khi tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm 20-29 có xu hướng giảm, đến cuối năm
2012 , tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm 20-29 tuổi chiếm 35,1% và trong năm
2013 tỷ lệ là 32,9%. Cùng với đó tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm 40-49 tuổi
cũng có xu hướng tăng chậm đến hết năm 2012, tỷ lệ người nhiễm HIV trong
nhóm này là 12,2% và trong năm 2013 tỷ lệ là 13,7%.
Phân bố người nhiễm HIV theo đường lây truyền: Tỷ lệ người nhiễm
HIV được phát hiện lây truyền qua đường tình dục ngày càng tăng, lây truyền
qua đường máu có xu hướng giảm. Trong số người nhiễm HIV được phát
hiện báo cáo trong năm 2013 cho thấy: số người lây truyền qua đường tình
dục chiếm tỷ lệ cao nhất 45%, tiếp đến số người nhiễm HIV lây truyền qua
đường máu chiếm 42,4%, giảm khoảng 0,3% so với cùng kỳ năm 2012, tỷ lệ
người nhiễm HIV lây truyền từ mẹ sang con chiếm 2,4%, có 10,1% tỷ lệ
người nhiễm HIV không rõ đường lây truyền.
Phân bố người nhiễm HIV theo các nhóm đối tượng: kết quả giám sát
phát hiện cho thấy, tỷ lệ người nhiễm HIV là người nghiện chích ma túy vẫn
6
chiếm chủ yếu, đang có xu hướng giảm dần từ 2008 đến 2012. Tuy nhiên
trong năm 2013, tỷ lệ người nhiễm HIV được phát hiện báo cáo là người
nghiện chích ma tuý có tăng nhẹ, chiếm 39,2%. Ngược lại, trong giai đoạn
từ 2007 đến 2012, tỷ lệ người nhiễm HIV được phát hiện là đối tượng tình
dục khác giới có xu hướng gia tăng, tuy nhiên, trong năm 2013 phân bố
người nhiễm HIV được phát hiện và báo cáo là đối tượng tình dục khác giới
giảm còn 18%, các nhóm còn lại chiếm một tỷ lệ thấp.
Nhận xét chung về tình hình dịch HIV:
- Tình hình dịch HIV/AIDS tiếp tục có xu hướng giảm về số lượng
mới, phát hiện nhiễm HIV/AIDS và tử vong, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm
phương thức sinh hoạt tình dục (miệng, hậu môn, âm đạo) không được bảo vệ.
Động tác quan hệ tình dục càng mạnh, thời gian càng lâu thì tỉ lệ chầy xước
càng cao, nguy cơ lây nhiễm HIV càng tăng. Hay các phong tục xăm mình, xâu
lỗ tai, đặc biệt tiêm, chích ma túy là nguy cơ lây nhiễm cao HIV.
Yếu tố dân số học: Lứa tuổi có tỉ lệ lây nhiễm HIV cao là từ 15-45
tuổi. Những di biến động dân cư cũng làm tăng sự lây lan HIV.
Yếu tố văn hóa, kinh tế, xã hội: Sự kém hiểu biết về HIV/AIDS, tác
hại của ma túy và an toàn tình dục cũng làm tăng nguy cơ nhiễm HIV.
Yếu tố kinh tế: Đói nghèo, không đủ nguồn lực để đương đầu với
AIDS, những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường,…ảnh hưởng lớn đến sự
gia tăng HIV.
Yếu tố chính trị: Sự quan tâm của xã hội, luật pháp với nhóm nguy cơ
cao (nghiện chích ma túy, mại dâm), thái độ đối với giáo dục tình dục, sự chấp
nhận của xã hội đối với phương pháp xét nghiệm HIV giấu tên và việc cho
phép cung cấp bao cao su, bơm kim tiêm, điều trị cai nghiện bằng những chất
8
thay thế ma túy như Methadone,… đều ảnh hưởng làm tăng hoặc giảm nguy cơ
lây nhiễm HIV.
1.3. Các biện pháp ngăn chặn đại dịch HIV/ AIDS
1.5.1.Phòng lây nhiễm qua đường tình dục
- Giáo dục và khuyến khích các hành vi tình dục an toàn
- Sản xuất, cung cấp và hướng dẫn sử dụng BCS
- Chuẩn đoán và điều trị sớm các bệnh lây truyền qua đường tình dục
1.5.2.Phòng lây qua đường máu
- Thực hiện an toàn trong truyền máu
- Ngăn ngừa các hành vi nghiện tiêm chích ma túy không an toàn
- Phòng lây nhiễm từ mẹ sang con
nhiễm HIV/AIDS (76%), mặc chung quần áo với người nhiễm HIV/AIDS
(89%), qua đường muỗi/côn trùng đốt (61%). Tuy nhiên có 43% học sinh cho
rằng HIV/AIDS là sự trừng phạt của Thiên chúa đối với những người có
QHTD ngoài hôn nhân. 96% học sinh đã đồng ý rằng nên thận trọng trong
việc QHTD với những người cùng giới tính để phòng tránh HIV/AIDS. 73%
học sinh đồng ý rằng những trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS vẫn có thể đi học
chung với những trẻ em không bị nhiễm. Đa số học sinh cho biết họ có thể
ngồi cạnh với những người bị nhiễm HIV/AIDS (88%), nhưng tỷ lệ đồng ý
ngủ chung giường chỉ 59%. Như vậy, phần lớp đối tượng nghiên cứu có kiến
thức liên quan đến HIV/AIDS ở mức độ khá cao [9].
Nghiên cứu kiến thức về HIV/AIDS của học sinh THPT tỉnh
Kirikkale tại Thổ Nhĩ Kì cho thấy đa số học sinh (92,2%) đã nghe về
10
HIV/AIDS trước nghiên cứu này. Có một số học sinh có quan niệm sai lầm
cho rằng HIV/AIDS có thể lây truyền qua ăn uống chung (17,1%) , qua ôm
hôn (31,7%), ngủ chung phòng (2,7%) và sử dụng chung phòng tắm
(15,6%) những người nhiễm HIV/AIDS. Hơn một nửa học sinh khẳng định
HIV/AIDS có thể lây truyền qua đường muỗi đốt. Nghiên cứu cũng cho
thấy 76,5% học sinh đồng ý HIV/AIDS có thể lây truyền từ mẹ sang con,
92% biết rằng virus có thể được truyền qua máu và 89,2% tin rằng
HIV/AIDS có thể lây nhiễm qua các dụng cụ không vô trùng. 64% học sinh
tin rằng con người có thể bảo vệ bản thân bằng cách sử dụng BCS và
22,8% bằng cách tránh QHTD. Đa số học sinh trả lời rằng Internet (67,2%)
là nguồn cung cấp thông tin chính về HIV/AIDS, sau đó là các phương tiện
truyền thông (truyền hình và đài phát thanh). Một số học sinh được nhận
thông tin từ bạn bè (25,6%) hoặc từ nguồn khác (44%), thông tin từ các cán bộ
y tế là ít nhất(3,8%) [10].
thức khá cao nhưng không đầy đủ. Quan hệ tình dục ngoài hôn nhân không sử
dụng bao cao su và hành vi sử dụng ma tuý trong học sinh là điều chúng ta
cần quan tâm. Theo nghiên cứu này, đa số các em học sinh có kiến thức về
đường lây truyền 69,07%, về phát hiện nhiễm HIV 98,8%, về khả năng điều
trị 67,47% và cách phòng chống 63,60%. Kiến thức chung 35,7%. Thái độ
trong phòng chống HIV/AIDS có 68,85% học sinh chấp nhận sử dụng bao
cao su, 90,67% đối xử tích cực với người nhiễm và 95,99% sẵn sàng xét
nghiệm khi nghi ngờ nhiễm HIV. Trong thực hành, đáng lưu ý là có 3 học
sinh (chiếm 4%) trong tổng số 766 học sinh có hành vi sử dụng ma tuý, trong
đó 01 em đã từng chích ma tuý. Có 28 em học sinh đã từng quan hệ tình dục
chiếm (3,73%), trong đó có 15 em đã từng quan hệ tình dục và không sử dụng
bao cao su là điều chúng ta đáng quan tâm [13].
12
Theo Lê Trọng Lưu và Nguyễn Đỗ Nguyên nghiên cứu về kiến thức,
thái độ, thực hành về phòng chống HIV/AIDS của học sinh phổ thông trung
học tỉnh Ninh Thuận năm 2004 cho thấy tỷ lệ học sinh có kiến thức đúng
về HIV/AIDS là không cao (46,7%) nhưng tỷ lệ trả lời đúng từng loại kiến
thức khá cao. Tỷ lệ học sinh có thái độ đối xử đúng với người nhiễm
HIV/AIDS là 91,8%. Vẫn còn 8,2% học sinh có thái độ đối xử chưa đúng
đối với người nhiễm HIV, có thể xuất phát từ tâm lý sợ hãi căn bệnh vẫn
còn tồn tại trong cộng đồng [14].
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Vũ Tuyết Mai và Lã Ngọc Quang về
kiến thức, thái độ và thực hành và tìm hiểu một số yếu tố liên quan trong
phòng, chống HIV/AIDS của học sinh THPT huyện Thanh Miện, tỉnh Hải
Dương năm 2012 cho thấy đến hơn một nửa số học sinh (55,8%) chưa có
kiến thức đúng về cách lây truyền HIV/AIDS. Chỉ có 22,2% học sinh có quan
điểm đúng về vấn đề phân biệt đối xử nhận thấy với người nhiễm HIV/AIDS.
truyền HIV là: TCMT chiếm 96,1%, qua QHTD chiếm 91,3%, qua truyền
máu và các sản phẩm của máu chiếm 72,5% và qua đường từ mẹ truyền sang
con 91,3%. Hầu hết các em học sinh có nhận thức về nhóm có hành vi nguy
cơ cao: GMD ở mức độ nguy cơ rất cao chiếm 78,8%, con của những người
mẹ nhiễm HIV chiếm 57,9%, khách hàng của GMD chiếm 39,5%, người
NCMT chiếm 37,0% [17].
Năm 2005, Khương Văn Duy và Nguyễn Thị Thắm tiến hành nghiên
cứu “Thực trạng hành vi ứng xử đối với người nhiễm HIV/AIDS của đối
tượng học sinh THPT ở Hải Phòng” cho thấy mặc dù tỷ lệ học sinh THPT có
thái độ sẵn sàng chăm sóc người bị nhiễm HIV/AIDS tương đối cao (78%)
nhưng tỷ lệ mua bán hay sử dụng hàng hoá mà những người nhiễm
HIV/AIDS bán không cao [18].
14
1.5. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng
chống HIV/AIDS của học sinh
Một nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống
HIV/AIDS của học sinh PTTH tại Thành phố Phan Thiết của Nguyễn Bá
Tòng và Trần Thiện Thuần năm 2006 cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê giữa học sinh nam và nữ, học sinh có cha mẹ lao động trí óc và chân tay về
kiến thức đường lây và phòng lây bệnh. Nghiên cứu cũng chỉ ra có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê giữa học sinh nam và nữ về thái độ phòng lây nhiễm
HIV (sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục ngoài hôn nhân). Học sinh
nam có thái độ tích cực cao gấp 1,67 lần học sinh nữ [13].
Theo Lê Trọng Lưu và Nguyễn Đỗ Nguyên nghiên cứu về kiến thức,
thái độ, thực hành về phòng chống HIV/AIDS của học sinh phổ thông trung
học tỉnh Ninh Thuận năm 2004 cho thấy kiến thức chung của lớp 12 cao
hơn so với lớp 10 trong khi không có sự khác biệt giữa lớp 11 và lớp 10.
tuyệt đối và ngưỡng sai biệt của những cảm giác nghe, nhìn, vận động phát
triển cao, năng lực cảm thụ hội hoạ ,âm nhạc phát triển mạnh.
Đặc điểm nổi bật của sự phát triển cảm giác, tri giác của học sinh
PTTH là tính có ý thức, có mục đích , có hệ thống biểu hiện rõ rệt trong các
quá trình học tập cũng như trong mọi hoạt động khác.
Do sự nhạy cảm của óc quan sát học sinh PTTH dễ phát hiện ra những
đặc điểm của sự vật, hiện tượng cũng như con người.
Trí nhớ chủ định, có ý nghĩa và chiếm ưu thế. Năng lực chú ý chủ
định cũng phát triển.
Ở giai đoạn này các em đã đạt được các thao tác trí tuệ bậc cao như
người lớn đó là tư duy hình thức và tư duy logic. Cấu trúc hoạt động trí tuệ có
tính phức tạp và phân hoá rõ rệt. Học sinh PTTH có kỹ năng suy nghĩ độc lập
16
và bước đầu hình thành khả năng tự học. Tư duy lý luận phát triển mạnh có
tính chặt chẽ, nhất quán có căn cứ.
Học sinh PTTH thường quan tâm nhiều đến tình hình kính tế-chính trịxã hội trên thế giới và trong nước. Các em thường có sự đánh giá, trao đổi và
tỏ thái độ của mình đối với các vấn đề đó.
Học sinh PTTH sẵn sàng tham gia vào các hoạt động phù hợp với hứng
thú, sở trường của mình. Tâm lý chung của học sinh PTTH là thích tham gia
các công việc có ý nghĩa lớn lao, muốn thử sức mình ở những công việc khó
khăn thậm chí nguy hiểm.
Nhìn chung, nếu được giáo dục trong bầu không khí lành mạnh thì sự
phát triển của họ thường tích cực. Mặt khác, nếu bị lôi cuốn vào nhóm tự phát
không lành mạnh thì họ cũng dễ bị hư hỏng, lôi kéo vì kinh nghiệm sống còn
hạn chế thích cái mới lạ, chưa phân biệt được cái tốt xấu.
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Học sinh đang học THPT Yên Thế, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang,
có mặt tại thời điểm điều tra.
- Học sinh đồng ý tham gia nghiên cứu, không có trở ngại về pháp lý,
không bị các vấn đề sức khỏe tâm thần.
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Học sinh không đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần
2.3. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11/2014 đến tháng 6/2015.
19
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1.Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.4.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
n = Z 2 (1 2 )
p(1 p)
d2
Trong đó:
n: cỡ mẫu (số học sinh đưa vào nghiên cứu).
Z2(1 - α2 )= 1,96 với độ tin cậy 95%, α=0,05.
p=0,78 (tỷ lệ học sinh trung học phổ thông có kiến thức đạt về
- Bước 5: Thu lại phiếu đã điền và cảm ơn.
2.5. Biến số và chỉ số
2.5.1. Các biến số về thông tin chung của học sinh
- Giới tính: nam/nữ
- Lớp học: lớp 10/lớp11/lớp12
- Phân bố vùng: nơi đối tượng sinh sống (thành thị, thị trấn và nông
thôn, miền núi)
- Trình độ học vấn của cha/mẹ: dựa vào bằng cấp cha/mẹ có được
- Đã được học về HIV/AIDS tại trường THPT
21
- Nguồn cung cấp thông tin về HIV/AIDS
2.5.2. Các biến số cho mục tiêu 1: Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về
phòng chống HIV/AIDS của học sinh THPT
*Kiến thức về HIV/AIDS
- Kiến thức về nguyên nhân gây bệnh HIV/AIDS
- Kiến thức về các con đường lây truyền HIV/AIDS
- Kiến thức về nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ cao
- Kiến thức về các triệu chứng thường gặp trên người nhiễm HIV/AIDS
- Kiến thức về nhận biết một người nhiễm HIV/AIDS qua vẻ bề ngoài
- Kiến thức về các biện pháp phòng lây nhiễm HIV/AIDS
- Kiến thức về phát hiện nhiễm HIV bằng xét nghiệm máu
- Kiến thức chung: đạt/không đạt
+ Kiến thức: Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm : 9-11 được coi là đạt,
0-8 điểm là không đạt ( dựa trên các biến số: nguyên nhân, đường lây truyền,
nhận biết người nhiễm HIV qua vẻ bề ngoài, biện pháp phòng chống lây
nhiễm HIV, phát hiện nhiễm HIV bằng xét nghiệm máu).
* Thái độ đối với người nhiễm HIV
thực hành phòng chống HIV/AIDS.
* Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về HIV/AIDS của học sinh THPT
- Biến độc lập:
23
+ Đặc trưng cá nhân: giới tính, lớp học, khu vực sống, trình độ học vấn
của cha
- Biến phụ thuộc:
+ Kiến thức về HIV/AIDS: đạt và không đạt
* Một số yếu tố liên quan đến thái độ đối với người nhiễm HIV/AIDS của
học sinh THPT
- Biến độc lập:
+ Đặc trưng cá nhân: giới tính, lớp học, khu vực sống, trình độ học vấn của cha
+ Kiến thức về HIV/AIDS: đạt và không đạt
- Biến phụ thuộc:
+ Thái độ đối với người nhiễm HIV/AIDS: tích cực/ chưa tích cực
* Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống HIV/AIDS
- Biến độc lập:
+ Đặc trưng cá nhân: giới tính, lớp học, khu vực sống, trình độ học vấn của cha
+ Thái độ đối với người nhiễm HIV/AIDS: tích cực/chưa tích cực
+ Kiến thức về HIV/AIDS: đạt/ không đạt
- Biến phụ thuộc:
+ Thực hành phòng chống HIV/AIDS: đạt/không đạt
2.5.4. Tiêu chuẩn đánh giá
Nghiên cứu sẽ tiến hành đánh giá kiến thức, thực hành của đối tượng
theo phương pháp cho điểm trên từng câu hỏi [22], [23].
0
4. Nấm
0
5. Tác nhân hoá học
0
6. Tác nhân vật lý
0
7. Khác/không biết
0
1. Truyền máu không an toàn
1
2. Sử dụng dụng cụ tiêm chích không an toàn
1
3. Mẹ truyền sang con
1
1
2. Không/không biết
0
1. Tránh ôm hôn người nhiễm HIV/AIDS
0
2. Tránh ăn uống chung với người nhiễm HIV
0
25
B14
3. Sử dụng BCS mỗi lần QHTD
1
4. Không dùng chung BKT khi TCMT
1
5. Tránh muỗi đốt
0
Dựa vào cách cho điểm đối với từng câu hỏi, với câu trả lời có thái
độ tích cực được 1 điểm, còn lại cho 0 điểm. Điểm tối đa cho thái độ tích
cực của đối tượng là 8 điểm, thái độ được coi là tích cực khi đạt ≥6 điểm,
thái độ chưa tích cực khi