Thực trạng sâu răng và liên quan giữa thói quen chăm sóc răng miệng với sâu răng của sinh viên y1 trường đại học y HN năm 2014 2015 - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
-------***-------

HÀ THỊ NGA

THỰC TRẠNG SÂU RĂNGVÀ LIÊN QUAN GIỮA
THÓI QUEN CHĂM SÓC RĂNG MIỆNG VỚI SÂU RĂNG
CỦA SINH VIÊN Y1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NĂM HỌC 2014-2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
KHÓA 2009-2015

HÀ NỘI– 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
-------***-------

HÀ THỊ NGA

THỰC TRẠNG SÂU RĂNGVÀ LIÊN QUAN GIỮA
THÓI QUEN CHĂM SÓC RĂNG MIỆNG VỚI SÂU RĂNG


: Sâu mất trám (Chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn)

CS

: Cộng sự

VSRM

: Vệ sinh răng miệng

CSRM

: Chăm sóc răng miệng

THCS

: Trung học cơ sở

PTTH

: Phổ thông trung học

%

: Tỷ lệ phần trăm



1

68.6% [4]. Giải pháp hiệu quả nhất để giải quyết thực trạng sâu răng là tăng
cường công tác phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu thật tốt. Bên cạnh đó,
việc điều trị tổn thương sâu răng và các yếu tố liên quan cũng đang được các
nhà lâm sàng quan tâm trong quá trình phòng và điều trị sâu răng.
Đã có rất nhiều nghiên cứu về thực trạng sâu răng ở lứa tuổi 6-12 nhưng ở lứa
tuổi 18 vẫn còn ít.
Ở lứa 18 bộ răng vĩnh viễn đã ổn định, các em được trang bị kiến thức
răng miệng khá đầy đủ và khả năng thực hành các kỹ năng chăm sóc răng
miệng đã hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn có rất nhiều biến
đổi về tâm sinh lý. Sự thay đổi hoocmon và những thói quen ăn uống không
tốt sẽ làm gia tăng nguy cơ sâu răng, viêm lợi. Vì vậy, em tiến hành nghiên
cứu đề tài:
“Thực trạng sâu răng và liên quan giữa thói quen chăm sóc răng miệng
với sâu răng của sinh viên Y1 trường Đại học Y Hà Nội năm 2014-2015”.
Với hai mục tiêu:
1. Xác định tỉ lệ sâu răng của sinh viên Y1 tại trường Đại học Y Hà Nội.
2. Phân tích mối liên quan giữa thói quen chăm sóc răng miệng với sâu
răng của sinh viên Y1 trường Đại học Y Hà Nội.


3

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU SINH LÝ CỦA RĂNG
1.1.1 Sơ lược cấu trúc giải phẫu của răng.
Mỗi răng gồm thân răng và chân răng. Giữa thân răng và chân răng là cổ
răng (cổ răng giải phẫu), là một đường cong, còn gọi là đường nối men – xê
măng. Thân răng được bao bọc bởi men răng, chân răng được xê măng bao
phủ. Vùng quanh răng gồm lợi, dây chằng quanh răng, xê măng và xương ổ
răng.

buồng tủy, đặc biệt là sừng tủy [5].


5

1.2 BỆNH SÂU RĂNG
1.2.1 Định nghĩa
Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn của tổ chức calci hóa được đặc trưng
bởi sự hủy khoáng thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần hữu cơ của mô
cứng. Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hóa lý liên
quan đến sự di chuyển các ion bề mặt giữa các răng và môi trường miệng và
là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ của vật
chủ [6].
1.2.2 Bệnh căn bệnh sâu răng
Bệnh sâu răng là bệnh được gây ra bởi nhiều yếu tố trong đó vi khuẩn đóng
vai trò quan trọng. Ngoài ra phải có các yếu tố thuận lợi như chế độ ăn uống
nhiều đường, VSRM không tốt, chất lượng men răng kém và môi trường tự
nhiên, nhất là môi trường nước ăn uống có hàm lượng fluor thấp ( hàm lượng
fluor tối ưu là 0,7-1,2 ppm) tạo điều kiện cho sâu răng phát triển [31].
Trước năm 1970, người ta cho rằng bệnh căn của sâu răng là do nhiều nguyên
nhân với sự tác động của 3 yếu tố. Vi khuẩn trong miệng chủ yếu là Steptococcus
mutans lên men các chất bột đường và tạo thành axit, axit này phá hủy tổ chức
cứng tạo thành lỗ sâu ở răng, qua lỗ sâu vi khuẩn xâm nhập vào tủy răng gây viêm
tủy răng và viêm quanh cuống răng. Sự phối hợp của các yếu tố này để gây nên
sâu răng được thể hiện bằng sơ đồ Keys.
Sơ đồ Key: Người ta chú ý nhiều đến chất đường và vi khuẩn Streptococcus
mutans nên việc phòng bệnh sâu răng tập trung chủ yếu vào chế độ ăn hạn chế
đường, vệ sinh răng miệng. Tuy nhiên khi áp dụng vào thực tế phòng bệnh sâu
răng thấy kết quả đạt được không cao, tỷ lệ sâu răng giảm xuống không đáng kể
[6],

7
 Vai trò gây bệnh của mảng bám
Các chất đường từ thức ăn sẽ nhanh chóng khuếch tán vào mảng bám,
được vi khuẩn chuyển hóa thành acid (chủ yếu là acid lactic, ngoài ra còn có
acid acetic và acid propionic). pH của mảng bám có thể giảm xuống tới 2 sau
10 phút ăn đường, mật độ tập trung cao của vi khuẩn trên mảng bám có vai
trò quan trọng trong hiện tượng giảm nhanh chóng pH mảng bám. Sau khoảng
30-60 phút, pH mảng bám quay trở về pH ban đầu do sự khuếch tán của
đường và các acid mảng bám ra môi trường miệng và sự khuếch tán của các
ion chất đệm từ nước bọt vào mảng bám. Các ion chất đệm này có vai trò hòa
loãng và trung hòa acid trong mảng bám. Nếu pH tới hạn của mảng bám
9
Nước bọt đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ răng khỏi các acid gây sâu
răng nhờ các yếu tố sau:
+ Dòng chảy, tốc độ dòng chảy của nước bọt là yếu tố làm sạch tự nhiên để
loại bỏ mảnh vụn thức ăn còn sót lại sau ăn và vi khuẩn trên bề mặt răng.
Bằng chứng lâm sàng là chứng khô miệng do tia xạ, do dùng thuốc hoặc một
số tình trạng bệnh lý toàn thân làm cho tỷ lệ sâu răng rất cao và nặng nề.
+ Cung cấp các ion Ca2+, PO43- và fluor để tái khoáng hóa men răng, các
Bicarbonate tham gia vào quá trình đệm.
+ Tạo một lớp màng mỏng (pellicle) từ nước bọt có vai trò như một hàng rào
bảo vệ men răng khỏi PH nguy cơ. Hàng rào này ngăn cản sự khuếch tán của
ion acid vào răng và sự di chuyển của các sản phẩm hòa tan từ apatite ra khỏi
mô răng. Nó có thể ức chế sự khoáng hóa để hình thành cao răng từ các ion
calci và phosphate quá bão hòa trong nước bọt.
+ Cung cấp các kháng thể IgG, IgM đề kháng vi khuẩn.
Số lượng và chất lượng nước bọt thay đổi trong ngày, tăng vào ban ngày
và giảm về đêm. Nước bọt không kích thích chứa ít chất đệm bicarbonate và
ion calci và nhiều ion phosphate hơn. Nhai kẹo cao su hoặc acid có trong thức
ăn có thể kích thích tăng tiết nước bọt lên rất nhiều. Nồng độ chất đệm
bicarbonate có thể tăng lên 60 lần khi có kích thích, ion calci tăng nhẹ, ion
phosphate không tăng. Nước bọt cung cấp các yếu tố bảo vệ tự nhiên để tái
tạo lại mô răng khi pH ở mức nguy cơ (pH thách thức). Giảm dòng chảy nước
bọt đến mức tối thiểu (0,7mL/phút) sẽ làm tăng nguy cơ sâu răng [10].


10
 Chế dộ ăn
Chế độ ăn có chứa nhiều phosphate có khả năng giảm tỷ lệ sâu răng. Tăng
chất béo trong khẩu phần ăn có thể làm giảm tác động của các tác nhân gây
bệnh sâu răng.

pH tới hạn của hydroxyapatite là 5,5 và pH tới hạn của fluorapatite là 4,5.
Sự tái khoáng: Quá trình tái khoáng ngược với quá trình hủy khoáng, xảy ra
khi pH trung tính, có đủ ion Ca2+ và PO43- trong môi trường nước bọt.
Fluor + Hydroxyapatite Fluoro Apatite có sức đề kháng cao hơn, có khả năng
đề kháng sự phá hủy của H+ chống sâu răng [10].
Các yếu tố gây mất ổn định
làm sâu răng:
+ Mảng bám vi khuẩn
+ Chế độ ăn đường nhiều lần
+ Nước bọt thiếu, giảm dòng
chảy nướcc bọt hay acid
Các yếu tố bảo vệ:

+ Acid từ dạ dày trào ngược

+ Nước bọt, dòng chảy nước bọt

+ pH < 5

+ Khả năng kháng acid của men

+ Vệ sinh răng miệng kém

+ Fluor có ở bề mặt men răng
+ Trám bít hố rãnh
+ Độ Ca++, PO43- quanh răng
+ pH > 5,5
+ Vệ sinh răng miệng tốt
Hình 1.4 Sơ đồ tóm tắt cơ chế sâu răng[11]


1. Sâu răng tiên phát.
2. Sâu răng thứ phát: là sâu răng mới phát sinh trên một răng có tổn thương
tổ chức cứng.
3. Sâu răng tái phát: là sâu tái phát trên nền tổn thương cũ đã được điều trị.
1.2.4.6 Phân loại theo site and size
Phân loại này dựa vào 2 yếu tố chính đó là vị trí lỗ sâu và kích thước (giai
đoạn, mức độ) của lỗ sâu.

1. Hố, rãnh, mặt nhẵn

Kích thước
1
2
Nhỏ
Trung bình
1,1
1,2

3
4
Rộng Rất rộng
1,3
1,4

2. Mặt tiếp giáp

2,1

2,2


đủ, cần tạo lỗ hàn.
3. Tổn thương rộng, thành không đủ hoặc có nguy cơ vỡ, cần phải có các
phương tiện lưu giữ cơ sinh học.


14
4. Tổn thương rất rộng làm mất cấu trúc, răng cần có các phương tiện lưu giữ
cơ học hoặc phục hình.
Để đáp ứng nhu cầu dự phòng cá nhân Brique và Droz đã bổ sung thêm
cỡ 0, là những tổn thương có thể chẩn đoán được và có khả năng tái khoáng
hóa được [10].
1.2.4.7 Phân loại theo Pitts
Năm 1997 Pitts đã miêu tả bằng hình ảnh về lợi ích của việc phát hiện
sâu răng sớm. Bằng việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ của núi băng trôi ta có thể
thấy các phương pháp phát hiện sâu răng truyền thống dẫn đến rất nhiều tổn
thương không được phát hiện [11].

Sơ đồ tảng băng Pitts
D4

Ngưỡng chẩn đoán
trong các điều tra

Tổn thương đến tủy

+ Tổn thương thấy ngà

Biểu hiện không
sâu tại ngưỡng
chẩn đoán D3

công cụ hỗ trợ
Ngưỡng có thể xác định
nhờ các công cụ hỗ

trợ mới hiện nay và
trong tương lai

Cần thay đổi chiến lược phát hiện và điều trị

Hình 1.5 Sơ đồ tảng băng[12]


15
D0: + Tổn thương không phát hiện trên lâm sàng bằng phương pháp thông
thường, chỉ có thể phát hiện bằng phương pháp hiện đại ( laser).
+ Tổn thương có thể phát hiện trên lâm sàng nhờ hỗ trợ X quang.
D1: Tổn thương phát hiện trên lâm sàng, bề mặt men răng còn giữ nguyên cấu
trúc.
D2: Tổn thương phát hiện trên lâm sàng không cần cận lâm sàng (tổn thương
chỉ giới hạn ở men răng).
D3: Tổn thương phát hiện trên lâm sàng khi đã tổn thương vào ngà răng.
D4: Tổn thương vào tủy răng.
1.2.4.8 Phân loại theo hệ thống đánh giá và phát hiện sâu răng quốc tế
ICDAS (International Caries Detection and Assessment System) [13],
[14]
Mã số
0
1
2
3

ngà nông (nếu tổn thương sâu dưới 2mm) và sâu ngà sâu (nếu tổn thương có
chiều sâu từ 2 – 4mm) [1].
1.2.5 Dịch tễ học sâu răng
1.2.5.1 Tình hình sâu răng của trẻ em trên thế giới
Hiện nay trên thế giới, bệnh sâu răng đang dần trở thành 1 vấn đề được
quan tâm sâu sắc. Tại hội nghị Alma Ata (1978), WHO đã công bố có hơn
90% dân số thế giới mắc bệnh sâu răng và đã phát động chương trình hành
động vì sức khỏe răng miệng cho con người đến năm 2000. Bệnh răng miệng
trên thế giới có hai khuynh hướng rõ rệt.
 Ở các nước phát triển: Từ những năm 1940 đến 1960 tình hình sâu răng
rất nghiêm trọng, trung bình trẻ em 12 tuổi có 8-10 răng sâu hoặc răng bị mất
do sâu. Chỉ số SMT của Nauy lên tới mức 12,0 năm 1940. Những năm 1980,
chỉ số SMT ở tuổi 12 tại các nước đó giảm xuống mức từ 2,0-4,0. Tới năm
1993, chỉ số SMT ở tuổi 12 tại hầu hết các nước công nghiệp hóa đã giảm
xuống tới mức thấp 1,2-2,6. Nhìn chung từ những năm cuối của thập kỷ 1970
đến nay, tình hình sâu răng tại các nước phát triển có xu hướng giảm dần, chỉ
số SMT ở lứa tuổi 12 tại các nước ở mức thấp hoặc rất thấp[16].


17
Quốc gia
Đan Mạch
Pháp
Đức
Ý
Mỹ

Năm
1980
2012

12-19 là 60% với khoảng 20% trẻ có răng sâu không được điều trị [19].
- Năm 2009 sâu răng được coi là một bệnh mạn tính, có tỷ lệ mắc cao ở trẻ
em 5-17 tuổi, cao gấp 5 lần so với hen và 7 lần so với bệnh sốt mùa hè. Trên
50% trẻ từ 5-9 tuổi và 78% trẻ 17 tuổi có ít nhất 1 răng sâu và trám phục hình.
 Ở các nước đang phát triển: ở thời điểm những năm 1960, tình hình sâu
răng ở mức thấp hơn nhiều so với các nước đang phát triển. Chỉ số SMT ở lứa
tuổi 12 ở thời kì này là từ 1,3-3,0, thậm chí 1 số nước dưới mức 1,0 như Thái
Lan, Uganda, Zaire. Tới những năm 1970 và 1980, chỉ số này tăng lên và ở
mức 3,0-5,0 và một số nước còn cao hơn như Chile là 6,3 [16].


18
Quốc gia
Ả Rập
Ma Rốc
Uruguay
Chile
Philippins

Năm
1985
2002
1991
1999
1999
1999
2005-2006

SMT
2,0

Kết quả điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn quốc lần thứ 1 năm 1991, so
sánh với kết quả điều tra răng miệng toàn quốc lần thứ 2 năm 2001, tình hình
sâu răng ở Việt Nam cũng có xu hướng tăng lên và không đồng đều giữa các
vùng miền trong cả nước.
Nghiên
cứu
1990
2001

12
%SR
55,69
56,60

SMT
1,82
1,87

15-17
%SR
SMT
60,33
2,16
68,60
2,45

18
%SR

SMT

Một số nghiên cứu ngoài nước cũng đã đề cập đến vấn đề này.
Mahmoud K. Al-Omiri và CS nghiên cứu ở 557 học sinh độ tuổi trung
bình là 13,5 một trường học ở phía bắc Jordan, báo cáo cho thấy 83,1% học
sinh có sử dụng bàn chải và kem đánh răng để VSRM; 36,4% chải răng buổi
sáng; 52,6% chải răng buổi tối trước khi đi ngủ và 17,6% chải răng cả buổi
sáng và tối trước khi đi ngủ. Có 66% học sinh đi khám răng miệng định kỳ,
46,9% chỉ đến nha sĩ khi đau và 20,1% ít khi hoặc không bao giờ đến nha sĩ [24].
Ling Zhu và công sự nghiên cứu ở 4400 học sinh từ 12-18 tuổi ở Trung
Quốc(năm 2003) thấy 44.4% học sinh chải răng ít nhất 2 lần/ngày nhưng chỉ
có 17% có sử dụng thuốc đánh răng có Fluor; 29% học sinh 12 tuổi chỉ đến
khám bác sĩ khi răng đã bị đau [25].
Tại Việt Nam, có một số công trình nghiên cứu của các tác giả như:
Theo nghiên cứu của Trần Văn Trường và cộng sự tỷ lệ học sinh chải
răng, dùng kem đánh răng, nước súc miệng, số lần chải răng/ngày, chưa từng
được khám răng như sau:
Tuổi
6-8
9-11
12-14
15-17

Chải răng Dùng kem Dùng nước
hôm trước đánh răng súc miệng
87,1
94,5
45,1
91,9
92,2
47,6
97,8

định kỳ. Về hành vi: 90,9% đã từng đi khám răng, 94% chải răng ít nhất 2 lần
mỗi ngày, 70% chải răng từ 1-3 phút, tuy nhiên chỉ có 43,3 % chải răng đúng
cách, 96,6% chải răng buổi sáng thường xuyên, 87,1% chải răng buổi tối
thường xuyên, 68,3% xúc miệng sau khi ăn đồ ngọt và 56,5% có dùng nước
xúc miệng 2 lần mỗi tuần, 37,5% - 54,1% có uống đồ ngọt, chỉ có 4,4%
thường xuyên cho thêm đường vào đồ uống, 50% - 66,3% có ăn đồ ngọt.
Đồng thời tác giả cũng xác định có mỗi liên quan có ý nghĩa thống kê giữa
sâu răng với kiến thức, thái độ và hành vi CSRM của học sinh [11].
Theo nghiên cứu của Phạm Thị Thư ở học sinh 18 tuổi tại trường PTTH
Chu Văn An 2013 cho thấy [23]:
Tỷ lệ học sinh được cha mẹ hướng dẫn VSRM chiếm cao nhất là 39,9%.
Tỷ lệ học sinh tự tìm hiểu cách VSRM từ bạn bè, internet...hoặc không được
hướng dẫn VSRM cho tỷ lệ sâu răng cao 58,1%.
Học sinh thay bàn chải trong năm ≥ 3 lần chiếm 45,9%, 2 lần trong năm
chiếm 35,4%. Học sinh có tần suất đi khám răng trong năm càng nhiều tỷ lệ
sâu răng càng giảm. Số học sinh thường xuyên ăn vặt là 51,7%, ăn vặt càng
nhiều tỷ lệ sâu răng càng tăng.
Sau ăn có 39,2% chải răng, 9,6% học sinh dùng tăm. Tỷ lệ học sinh chải
răng sau ăn bị sâu 48,1% thấp hơn không sâu 51,9%.
Số học sinh chải răng kết hợp 64,9%, có 17,7% học sinh chải ngang.
Số học sinh chải răng 2 ngày/lần chiếm 64,3%, có 1 học sinh không chải
răng. Số lần chải răng trong ngày càng tăng tỷ lệ sâu răng càng giảm.
Học sinh chải răng từ 1-3 phút chiếm 47,4%, có 22,8% học sinh chải răng
dưới 1 phút. Thời gian chải răng càng tăng tỷ lệ sâu răng càng giảm.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status