Thực trạng bệnh sâu răng và một số yếu tố ảnh hưởng ở học sinh tuổi từ 6 11 tại trường tiểu học vĩnh hưng, hoàng mai, hà nội năm 2014 - Pdf 48

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe học sinh là một trong những nhiệm vụ
trọng yếu trong chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng, không chỉ ở riêng
Việt Nam mà còn toàn thế giới. Lứa tuổi 6 đến 11 là lúc răng vĩnh viễn bắt
đầu xuất hiện trên cung hàm, đóng vai trò quan trọng trong chức năng nhai
của trẻ về sau nên rất cần được giữ gìn một cách tốt nhất để không bị sâu.
Theo Tổng cục thống kê (2008) 7,9% dân số cả nước là học sinh tiểu học [1].
Một trong số bệnh hay gặp phổ biến ở học sinh là bệnh sâu răng. Năm 1994,
WHO đánh giá bệnh sâu răng ở nước ta vào loại cao nhất thế giới và nằm
trong khu vực các nước có bệnh răng miệng đang tăng lên [2]. Kết quả điều
tra sức khỏe răng miệng do viện Răng Hàm Mặt và đại học Adelaide,
Australia tiến hành gần đây thì Việt Nam là một nước có tỷ lệ sâu răng rất
cao, chiếm tới gần 85% dân số cả nước, trong đó trẻ em là đối tượng bị ảnh
hưởng của sâu răng nhiều nhất [3].
Trong nhiều năm gần đây chương trình chăm sóc sức khỏe răng miệng
được triển khai ở hầu hết các tỉnh trong cả nước cho lứa tuổi đến trường. Tuy
nhiên trẻ em tại trường tiểu học Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội chưa được
chăm sóc sức khỏe theo chương trình Nha học đường bao giờ. Hiện nay nhu
cầu được chăm sóc sức khỏe răng miệng là vấn đề cần thiết của ban lãnh đạo
Trường và các bậc phụ huynh.
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Thực
trạng bệnh sâu răng và một số yếu tố ảnh hưởng ở học sinh tuổi từ 6 đến 11
tại trường tiểu học Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội năm 2014" với hai mục
tiêu sau đây:


2

1. Mô tả thực trạng bệnh sâu răng ở học sinh tuổi từ 6 đến 11 tại

nhân sâu răng bằng sơ đồ với ba vòng tròn của các yếu tố vật chủ (răng:
gồm men răng, ngà răng, xương răng) môi trường (thức ăn có khả năng lên


4

men chứa carbohydrate) và tác nhân (vi khuẩn chủ yếu là Streptococcus
Mutans và Lactobacillus) [4].
Theo WHO năm 1997, các nước trong khu vực Châu Á cứ trên 80%
dân số bị sâu răng. Chỉ số SMT lứa tuổi 12 ở mức cao từ 0,7 đến 5,5 (ở
Trung Quốc là 0,7, ở Lào là 2,4, ở Campuchia là 4,9, ở Philippin là 5,5,
Việt Nam là 0,8) [5], [6].
Tại Thái Lan, năm 2000 tỷ lệ sâu răng ở tuổi 12 là 58-80% [7].
Cũng như nhiều nước đang phát triển, bệnh sâu răng gặp phổ biến ở
nước ta, nhu cầu cần được chăm sóc và điều trị rất cao. Theo Nguyễn Văn
Cát, tại Hà Nội 1983 -1984 có 1,1 triệu người sâu răng, chỉ số SMT 1,4 [8].
Năm 2004 Hoàng Tử Hùng đưa ra tỷ lệ sâu răng sữa ở một số tỉnh miền Nam
là 70,49%, ở Thuận Hải là 72,14% [9].
Trong 3 năm từ 2002 đến 2005, Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội đã tiến
hành điều tra bệnh răng miệng ở Việt Nam và cho thấy tỷ lệ sâu răng và chỉ
số SMT của răng vĩnh viễn cũng tăng dần theo lứa tuổi.
Năm 2007, Đào Thị Dung đánh giá hiệu quả can thiệp chương trình
Nha học đường tại một số trường tiểu học quận Đống Đa Hà Nội cho thấy tỉ
lệ sâu răng vẫn còn cao (65,63%) [10].
Năm 2007, Nguyễn Cẩn và Ngô Đồng Khanh nghiên cứu tình trạng
bệnh sâu răng ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ bệnh sâu răng và số trung bình răng
sâu mất trám (SMTR) gia tăng theo tuổi. SMTR ở trẻ 11 tuổi và lứa tuổi 35 44 là 1,2 và 1,3 ở các tỉnh thành phía Bắc và 2,9 [11].
1.1. Giải phẫu và tổ chức học răng
1.1.1. Các phần của răng
Mỗi răng có phần thân răng và chân răng. Giữa thân răng và chân răng là

ranh giới men ngà ở phía trong. Trên tiêu bản cắt dọc thân răng, đường
retzius hợp với đường ranh giới men ngà cũng như với mặt ngoài của men
thành một góc nhọn.
- Đường trụ men: chạy suốt chiều dày men răng và hướng thẳng góc
với đường ngoài trong của men răng, đôi khi có sự gấp khúc và thay đổi
hướng đi của trụ men. Trụ men có đường kính từ 3-6m, khi cắt ngang qua
trụ men ta thấy tiết diện có các loại hình thể: Vẩy cá 57%, lăng trụ 30%,
không rõ ràng 10%, hướng đi của trụ men tạo ra các dải sáng tối xen kẽ
chính là dải Hunter-schrenge.
* Ngà răng
Có nguồn gốc từ trung bì, kém cứng hơn men, chứa tỷ lệ chất vô cơ
thấp hơn men (75%), chủ yếu là 3 [Ca3(PO4)2]. 2H2O. Trong ngà răng có
nhiều ống ngà, chứa đuôi bào tương của nguyên bào ngà, bề dày ngà răng
thay đổi trong đời sống do hoạt động của nguyên bào ngà, ngà răng ngày càng
dày theo hướng về phía hốc tủy răng, làm hẹp dần ống tủy.
Về tổ chức học: ngà răng được chia làm hai loại:
- Ngà tiên phát chiếm khối lượng chủ yếu và được tạo nên trong quá
trình hình thành răng, nó bao gồm: ống ngà, chất giữa ống ngà, dây tôm.


7

- Ngà thứ phát được sinh ra khi răng đã hình thành rồi, nó gồm ngà thứ
phát sinh lý, ngà phản ứng và ngà trong suốt.
Ống ngà: có số lượng từ 15-50000/1 mm2, đường kính ống từ 3-5 m,
ống ngà chính chạy suốt chiều dày của ngà và tận cùng bằng đầu chốt ở ranh
giới men ngà, ống ngà phụ là ống nhỏ hoặc nhánh bên, nhánh tận cùng của
ống ngà chính.
Chất giữa ống ngà có cấu trúc sợi được ngấm vôi, sắp xếp thẳng góc
với ống ngà.



9

1.3. Chức năng của răng
Chức năng chính của răng là ăn nhai. Quá trình nhai là một quá trình
phức tạp, trong quá trình đó, các răng khác nhau có tác dụng khác nhau. Răng
cửa dùng để cắt thức ăn, răng nanh có chức năng chủ yếu là xé thức ăn, răng
hàm có tác dụng nghiền nát thức ăn [13].
Chức năng phát âm: răng có liên quan mật thiết đến ngôn ngữ và phát
âm. Răng nằm giữa môi và lưỡi, khi phát âm chúng phối hợp với nhau, không
thể thiếu bộ phận nào. Khi phát các âm môi răng và âm lưỡi răng, càng cần có
sự tham gia của răng. Các răng phía trước có ảnh hưởng rất lớn đối với ngôn
ngữ và phát âm, khi bị mất răng cửa do không thể khống chế tốt các luồng hơi
phát ra, khi nói sẽ thoát hơi, nếu hoạt động của lưỡi mất đi sự hạn chế của
răng trước cũng ảnh hưởng đến độ chính xác của việc phát âm. Hơn nữa, răng
còn có ảnh huởng quan trọng ngoại hình của mỗi người.
1.4. Bệnh sâu răng
1.4.1. Nguyên nhân và những hiểu biết về sâu răng
Sâu răng là một quá trình bệnh lý xuất hiện sau khi răng đã mọc, đặc
trưng bởi sự khử khoáng làm tiêu dần các chất vô cơ, hữu cơ ở men răng, ngà
răng tạo thành lỗ sâu.
Trước năm 1970, người ta cho rằng bệnh căn của sâu răng là do nhiều
nguyên nhân với sự tác động của 3 yếu tố [15]. Vi khuẩn trong miệng (chủ
yếu là streptococcus mutans) lên men các chất bột và đường còn dính lại răng
tạo thành acid, acid này đã phá hủy tổ chức cứng của răng tạo thành lỗ sâu. Sự
phối hợp của các yếu tố này để gây sâu răng được thể hiện bằng sơ đồ keyes:


10


SR

Sơ đồ 1.2. Sơ đồ white [16]
Ta có thể tóm lược cơ chế sinh bệnh học của sâu răng được thể hiện
bằng hai quá trình tái khoáng và huỷ khoáng. Mỗi quá trình đều có một số yếu
tố thúc đẩy, nếu quá trình huỷ khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ dẫn
đến sâu răng.


12

Sâu răng = Hủy khoáng > Tái khoáng
Các yếu tố gây mất ổn định làm sâu răng:
+ Mảng bám vi khuẩn
+ Chế độ ăn đường nhiều lần
+ Thiếu nước bọt hay nước bọt
Các yếu tố bảo vệ:

acid

+ Nước bọt

+ Acid từ dạ dày tràn lên miệng

+ Khả năng kháng acid của men

+PH< 5

+ F- có ở bề mặt men răng

4,5 – 6,5

Rất cao

 6,6

* Tình hình sâu răng trên thế giới
Sau năm 1975 căn nguyên bệnh sâu răng được làm sáng tỏ hơn. Người
ta cũng thấy rõ hơn tác dụng của fluor khi gặp Apatit thường của răng kết
hợp thành fluorid apatit rắn chắc chống được sự phân hủy tạo thương tổn
sâu răng. Do đó ở những nước phát triển Nhà nước coi chương trình fluor
hóa nước uống, thuốc chải răng và giáo dục nha khoa là quốc sách nên
bệnh sâu răng giảm mạnh. Ngược lại những nước kém phát triển không
được fluor hóa nước uống, thiếu sự giáo dục nha khoa, chế độ ăn đường
không đúng nên sâu răng tăng.


14

Ở các nước phát triển: từ những năm 1940 đến 1960, tình hình sâu
răng rất nghiêm trọng, trung bình mỗi trẻ em 12 tuổi có từ 8-10 răng sâu
hoặc răng đã bị mất do sâu. Tới năm 1993, chỉ số SMT tuổi 12 ở hầu hết
các nước công nghiệp hóa đã giảm xuống mức thấp từ 1,2 - 2,6. Nhìn
chung từ cuối những năm 1970 tới nay, tình hình sâu răng tại các nước phát
triển có xu hướng giảm dần, chỉ số SMT tuổi 12 tại hầu hết các nước ở mức
thấp và rất thấp. Điều này có được là do các nước phát triển đã áp dụng
triệt để các biện pháp phòng bệnh. Nghiên cứu của Pieper tại Đức cho thấy,
chỉ số SMT giảm từ 2,44 (năm 1994-1995) xuống còn 1,81 vào năm 1997
và 1,24 (2000) [18]. Đến năm 2006 nghiên cứu của Shulter chỉ ra sâu răng
ở Đức tiếp tục giảm, chỉ số SMT giảm xuống ở mức 0,98 [19].

1,7

2002

1,1

Anh

1981

1,8

2003

0,8

Na Uy

1979

4,5

2004

1,7

Mỹ

1980


4,0

2003

1,2

Nhật Bản

1979

2,4

2005

1,7

Bảng 1.3. Chỉ số SMT trẻ 12 tuổi ở một số nước đang phát triển [22]
Tên nước

Năm

SMT

Năm

SMT

Chi Lê

1978


4,9

2001

1,8


16

Bảng 1.4. Chỉ số SMT trẻ 12 tuổi của một số nước trong khu vực [22]
Tên nước

Năm

SMT

Trung Quốc

1995

1,03

Lào

1991

2,0

Triều Tiên

Miền bắc tỷ lệ sâu răng là 43,33%, chỉ số SMT là 1,15
Miền nam tỷ lệ sâu răng là 76,33%, chỉ số SMT là 2,93
Toàn quốc tỷ lệ sâu răng là 57,33%, chỉ số SMT là 1,82
Năm 2001, kết quả điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn quốc lần thứ
hai cho thấy [24].


17

Bảng 1.5. Tình trạng sâu răng trẻ em toàn quốc năm 2001
Răng sữa

Răng vĩnh viễn

Tuổi
% sâu răng

Chỉ số smt

% sâu răng

Chỉ số SMT

6–8

84,9

5,40

25,4



18

Năm 2004 Nguyễn Lê Thanh công bố kết quả khảo sát bệnh răng miệng
của học sinh tiểu học từ 7-11 tuổi tại thị xã Bắc Cạn, có 62,6% em sâu răng [28].
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đăng Nhỡn năm 2004 tại huyện Yên Sơn
tỉnh Tuyên Quang, qua nghiên cứu 128 học sinh 6 tuổi cho thấy tỷ lệ sâu răng
sữa là 76,56%, sâu răng vĩnh viễn là 14,84%, chỉ số SMT là 0,22. Cũng trong
nghiên cứu này ở lứa tuổi 12 tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 64,06%, chỉ số SMT
là 1,67 [29].
Năm 2007 theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thành tại thị xã Hưng Yên
thì tỷ lệ sâu răng sữa của học sinh 6 tuổi là 87,74%, chỉ số smt là 3,72, tỷ lệ
sâu răng vĩnh viễn là 10,43%, chỉ số SMT là 0,12 [30].
Nghiên cứu của tác giả Lê Huy Nguyên tại Hoài Đức, Hà Tây năm 2007
tỷ lệ sâu răng của học sinh khối lớp 5 là 58,48%, chỉ số sâu mất trám răng
vĩnh viễn là 1,3 [31].
Qua các số liệu trên cho thấy tình trạng sâu răng còn rất phổ biến và
chưa có dấu hiệu suy giảm, tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn tăng nhanh theo tuổi.
1.4.3. Các yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng
 Các yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng
- Nhóm yếu tố nguy cơ về tập quán ăn uống.
- Nhóm yếu tố nguy cơ về chăm sóc, vệ sinh răng miệng.
- Nhóm yếu tố nguy cơ về các đặc trưng cá nhân của trẻ, của cha mẹ trẻ.
Các tác giả thường mô tả các yếu tố nguy cơ, không phân tích sâu về
các mối liên quan giữa chúng và bệnh sâu răng ở trẻ em [32].


19


tay làm sạch răng và 21,1% dùng tro và than để đánh răng hàng ngày [37].
- Okeigbemen và CS thông báo 81,4% học sinh chưa bao giờ được
khám răng tại các cơ sở y tế, 95,8% có sử dụng bàn chải răng [35].
- Petersen và CS cũng thông báo tỷ lệ học sinh chải răng 1 lần/ngày là
88% [36].
- David và CS cho rằng trẻ không sử dụng bàn chải răng thì có nguy cơ
sâu răng cao gấp 1,9 lần những trẻ khác [34].
1.4.3.3. Nhóm yếu tố nguy cơ về các đặc trưng cá nhân của trẻ em, của cha
mẹ học sinh
Các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy nam học sinh mắc bệnh
sâu răng cao hơn nữ, tuy nhiên cũng có một số tác giả lại không có sự khác
biệt về sâu răng giữa nam và nữ [37]. Có nghiên cứu nhấn mạnh đến sự khác
biệt hay không khác biệt giữa nam và nữ còn phụ thuộc vào một số yếu tố
khác như lứa tuổi, địa dư, loại trường công/tư và hành vi chăm sóc sức khỏe
răng miệng.
- Rao và CS cho rằng học sinh nội thành có tỷ lệ sâu răng cao hơn ở
ngoại thành (22,8% so với 15%), học sinh dân tộc ít người có chất lượng răng
tốt hơn học sinh không phải là dân tộc ít người [37].
- Okeigbemen và CS cho biết học sinh thành thị có chỉ số SMT cao hơn
học sinh nông thôn (0,72 so với 0,53) và học sinh ở trường tư thục có chỉ số
SMT cao hơn học sinh ở trường công lập (0,75 so với 0,55) nhưng chỉ số
SMT ở nữ lại cao hơn học sinh nam (0,7 so với 0,59) [35].


21

- David và CS thông báo trẻ sống ở thành phố có nguy cơ sâu răng cao
hơn 1,5 lần trẻ ở nông thôn, trẻ em nghèo cũng có nguy cơ sâu răng 1,7 lần so
với trẻ em ở các gia đình giàu [34].
- Ciuffolo và CS cho rằng tỷ lệ sâu răng ở nam học sinh cao hơn ở nữ

nha học đường.


22

1.6. Chương trình nha học đường
Trong khoảng hai thập niên trở lại đây, các nước phát triển đã thành
công trong việc giảm tỷ lệ sâu răng nhờ vào các biện pháp phòng bệnh sâu
răng hữu hiệu, đó là việc sử dụng fluor trong cộng đồng, đặc biệt là trong
trường học. Xây dựng chương trình phòng chống sâu răng hiệu quả bằng
chăm sóc răng miệng trẻ em trong nhà trường là giải pháp tốt nhất. Đây
chính là cách thức mà Việt Nam và các nước đang phát triển đang triển
khai thực hiện.
Chương trình nha học đường là chương trình chăm sóc răng miệng trẻ
em tại trường học áp dụng chủ yếu cho học sinh tiểu học và THCS, có thể áp
dụng cho học sinh mẫu giáo. Lứa tuổi ưu tiên từ 6-15 tuổi do ở độ tuổi này
răng vĩnh viễn bắt đầu mọc, thời gian học sinh ở trường nhiều. Hoạt động của
chương trình gồm có 3 nội dung sau [39]:
- Nội dung 1: giáo dục nha khoa: hướng dẫn học sinh phương pháp chải
răng và các biện pháp khác làm sạch răng, giữ gìn VSRM. Khắc sâu thói quen
chải răng hàng ngày và kỹ năng chải răng đúng cho trẻ em.
- Nội dung 2: cho học sinh súc miệng nước có fluor 0,2% tại trường học
mỗi tuần một lần.
- Nội dung 3: dự phòng lâm sàng: bao gồm khám và VSRM răng miệng
định kỳ, trám bít hố rãnh, lấy cao răng, điều trị viêm lợi, hàn răng sâu sớm,
nhổ răng sữa thay...
Trong nhiều năm qua bộ y tế phối hợp với bộ giáo dục và đào tạo đã
triển khai chương trình này đạt được hiệu quả đáng kể.
Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng trường có thể thực
hiện cả 3 nội dung trên hoặc một số nội dung của chương trình. Tuy nhiên cần

- Tiêu chuẩn lựa chọn:

+ Học sinh từ 6-11 tuổi (HS có năm sinh từ

năm 2003 đến 2008).
+ Tự nguyện tham gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Học sinh không nằm trong độ tuổi từ 6-11.
+ Không tự nguyện tham gia nghiên cứu.
+ Học sinh không học tại trường tiểu học

Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội.
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ ngày 5 Tháng 05/ 2013 đến tháng 11/ 2014.
- Địa điểm nghiên cứu:
 Tại trường tiểu học Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội.
 Viện đào tạo Răng Hàm Mặt - Đại Học Y Hà Nội.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu là: nghiên cứu mô tả cắt ngang.


25

2.3.2. Cỡ mẫu
Được tính theo công thức trong nghiên cứu mô tả cắt ngang là:
n=

Z




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status