Thực trạng sinh non, sinh nhẹ cân và một số yếu tố liên quan tại huyên đông anh, hà nội, 2014 2015 - Pdf 48

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGÔ TOÀN ANH

thùc tr¹ng sinh non, sinh nhÑ c©n
vµ mét sè yÕu tè liªn quan t¹i
huyÖn §«ng Anh,
Hµ Néi, 2014-2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ NỘI – 2015


2

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tuổi thai lúc sinh và cân nặng của trẻ lúc sinh là chỉ số sống còn với trẻ
sơ sinh cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ sau này. Trẻ sinh đủ
tháng có cân nặng tốt là tiền đề để trẻ có bước khởi đầu vững chắc.
Trẻ sinh non là những trẻ được sinh ra trước thời hạn bình thường trong
tử cung người mẹ, có tuổi thai nhỏ hơn 37 tuần [1]. Trẻ sinh đủ tháng là
những trẻ sinh từ 37 đến 40 tuần phát triển trong tử cung. Trẻ sinh nhẹ cân có
cân nặng dưới 2500 gram, bao gồm cả trẻ sinh non và chậm phát triển trong
tử cung. Theo tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới, khoảng 16% trẻ sinh ra trên

Đông Anh là một huyện của thành phố Hà Nội với dân số 331.000 người, số
sinh năm 2012 tăng 1,49‰; số con thứ 3 tăng 9,74% tương đương (715 trẻ).
Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến
vấn đề trẻ sinh non, nhẹ cân. Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng sinh non, sinh nhẹ cân và một số yếu
tố liên quan tại huyện Đông Anh, Hà Nội, 2014-2015” với 2 mục tiêu sau:
1.

Xác định tỷ lệ sinh non, sinh nhẹ cân của trẻ được sinh ra tại huyện
Đông Anh từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 3 năm 2015.

2.

Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng sinh non, sinh nhẹ cân
của các trẻ trên.


4

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Định nghĩa sinh non, sinh nhẹ cân
1.1.1. Định nghĩa sinh non, sinh nhẹ cân
Trẻ sinh non là trẻ ra đời trước thời hạn bình thường trong tử cung, có
tuổi thai chưa đến 37 tuần. Trẻ đủ tháng là trẻ sinh ra từ 37 tuần đến 40 tuần
phát triển trong tử cung người mẹ. Trẻ già tháng là trẻ sinh sau 42 tuần [9].
Theo định nghĩa của WHO, trẻ sinh nhẹ cân là những trẻ có cân nặng lúc
sinh dưới 2500 gam, bao gồm cả trẻ sinh non và chậm phát triển trong tử cung
hoặc do cả hai nguyên nhân trên [1].



Sơ sinh phát triển quá mức(g)

(tuần)

Pecentil 10

Pecentil 90

28

≤879

≥1462

29

≤1016

≥1637

30

≤1168

≥1854

31

≤1336


≥3110

37

≤2442

≥3617

38

≤2572

≥3620

39

≤2674

≥3669

40

≤2751

≥3781

41

≤2807

1000-1499 gram

Trẻ quá nhẹ cân

ELBW

750-999 gram

Trẻ nhẹ cân quá mức

ILBW



30-50

235,800-393,000

Pakistan

25

1,337,000

Sri Lanka

18

59,000

Chung

28

11,800,000

Quốc gia

India
Maldives
Nepal

Theo nghiên cứu của Gray và cộng sự vào năm 2004 tại Boston, bang

bà mẹ không hút thuốc thì nguy cơ sinh trẻ nhẹ cân, non tháng nhẹ cân và non
tháng lần lượt cao hơn gấp 2,7 lần, 2,1 lần và 1,4 lần. Trong số những bà mẹ
hút thuốc trong thời gian mang thai thì khi sinh ra có 22% trẻ nhẹ cân, 14%
non tháng nhẹ cân, 7% non tháng [16].
Trong một nghiên cứu gần đây năm 2011 của Collins và cộng sự về trẻ
nhẹ cân, các yếu tố di truyền và ảnh hưởng của môi trường kinh tế, hai quần
thể được nghiên cứu là người Mỹ da trắng và người Mỹ gốc Phi, đã sinh con
nhẹ cân, non tháng tại bang Illinois, Mỹ. Ở cả 2 chủng tộc người Mỹ da trắng
và Mỹ gốc Phi, đều ghi nhận sự tương đồng về yếu tố di truyền khi con đầu
nhẹ cân, non tháng thì đến khi mang thai đứa trẻ sau cũng có nguy cơ sinh
con nhẹ cân non tháng và chậm phát triển trong tử cung [17].
Ngoài những tổn thương thực thể của trẻ sơ sinh, những bà mẹ có trẻ
sinh non, nhẹ cân còn gánh chịu những sang chấn về mặt tinh thần trong thời


10

gian nuôi con [18]. Theo Vigod và cộng sự trong một nghiên cứu phân tích
hệ thống tại Toronto, Canada cho thấy rằng có đến 40% bà mẹ có con sinh
non và sinh non nhẹ cân bị trầm cảm sau sinh. Tính đến thời điểm 8 tuần sau
khi sinh thì những bà mẹ sinh con nhẹ cân, non tháng có nguy cơ bị trầm cảm
cao hơn gấp 1,6 lần những bà mẹ sinh đủ tháng. Thậm chí những bà mẹ sinh
con rất non tháng (trước 33 tuần) có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn nhiều lần
và kéo dài lâu hơn những bà mẹ có con sinh non và nhẹ cân.
1.1.4. Tình hình sinh non, sinh nhẹ cân tại Việt Nam
Theo thống kê của BYT, tỷ lệ trẻ sinh non và sinh nhẹ cân vẫn còn cao
nhưng có xu hướng giảm trong những năm gần đây.
Trong số gần 15.800 trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm
2000, tỷ lệ trẻ đẻ nhẹ cân là 10,2%, trong số này 66,5% là trẻ đẻ non và
33,5% là chậm phát triển trong tử cung [19].

vong cao hơn nhiều so với những trẻ sinh đủ tháng. Theo thống kê của Viện
Y học Hoa Kỳ năm 2006, chi phí cho trẻ sinh non trong năm 2005 là 26,2 tỷ
đô la tương đương 51.600 đô la cho 1 trẻ.
Cân nặng sơ sinh là một chỉ số quan trọng cho sự phát triển và sự sống
còn của trẻ. Trẻ non tháng nhẹ cân có nguy cơ tử vong rất cao, ở các nước
đang phát triển cứ 10 giây lại có 1 trẻ chết vì bệnh tật do sinh non tháng nhẹ
cân [2].
Mắc bệnh và tử vong
Trẻ sinh non, nhẹ cân là nguyên nhân quan trọng hàng đầu gây bệnh tật
và tử vong ở trẻ sơ sinh do các bệnh lý hay gặp như ngạt, hạ đường huyết,
nhiễm khuẩn, hạ thân nhiệt, hạ canxi, xuất huyết phổi, rối loạn chuyển hoá
bẩm sinh [24], [25]. Còn trẻ chậm phát triển trong tử cung, bệnh lý hay gặp là
chảy máu phổi, hội chứng hít phân su, đa hồng cầu…


12

Trẻ non tháng, nhẹ cân có tỷ lệ cao mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Theo
nghiên cứu của Khu Thị Khánh Dung và Tô Thanh Hương cho thấy 74% số
trẻ non tháng nhẹ cân vào khoa sơ sinh-Bệnh viện Nhi Trung ương
(BVNTW) do mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp [26]. Một nghiên cứu khác của
Hoàng Công Chánh tại BVNTW cho thấy 78% số trẻ viêm ruột hoại tử là
trẻ sinh non nhẹ cân [27]. Mặc dù nền y học đã có rất nhiều tiến bộ nhưng
trẻ sinh non nhẹ cân vẫn còn là thách thức với y học, tỷ lệ tử vong sơ sinh
tỷ lệ nghịch với cân nặng lúc sinh của trẻ. Nghiên cứu tình trạng trẻ sơ sinh
tại Nepan cho thấy [1]:
Trẻ sơ sinh nặng dưới 1000g có tỷ lệ tử vong là 41,6%.
Trẻ sơ sinh nặng từ 1000-1500g có tỷ lệ tử vong là 25,45%
Trẻ sơ sinh nặng từ 1501-2000g có tỷ lệ tử vong là 5%
Trẻ sơ sinh nặng từ 2001-2500g có tỷ lệ tử vong là 0,4%

Trong thời kỳ mang thai, dinh dưỡng của thai nhi phụ thuộc hoàn toàn vào
người mẹ. Người mẹ không được ăn uống đầy đủ sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển
của bào thai, trẻ sinh ra sẽ nhẹ cân. Vì vậy khi mang thai bà mẹ sẽ phải ăn nhiều
hơn và có một khẩu phần ăn cân đối sẽ giúp bà mẹ đủ năng lượng và các chất
dinh dưỡng cho sự phát triển của thai nhi và tạo sữa sau này [30].
Tác giả Kramer và cộng sự cho rằng tình trạng thiếu dinh dưỡng của bà
mẹ sẽ dẫn tới trẻ nhẹ cân. Nếu như kết hợp với một số yếu tố nguy cơ khác
như hút thuốc, uống rượu thì sẽ có thêm nguy cơ sinh non [31].
Trong một số nghiên cứu về dinh dưỡng ở vùng nông thôn nước ta vào
năm 1994 cho thấy phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ bị thiếu năng lượng mãn tính
chiếm tỷ lệ 40% [32]. Cho đến thời điểm hiện tại, cuộc sống được cải thiện
tình trạng thiếu dinh dưỡng đã được cải thiện rất nhiều tuy nhiên vẫn còn một
tỷ lệ không nhỏ trẻ sơ sinh đẻ ra non tháng nhẹ cân được ghi nhận tại Bệnh
viện Phụ sản Trung ương [23].


14

Tình trạng thiếu dinh dưỡng ở người mẹ được đặc trưng bởi thiếu cân và
chiều cao thấp. Đó là hậu quả của quá trình từ khi sinh ra đến khi trưởng
thành hay còn gọi là thiếu năng lượng trường diễn. Bởi vậy các biện pháp can
thiệp dinh dưỡng trực tiếp vào lứa tuổi vị thành niên, phụ nữ ở tuổi sinh đẻ,
phụ nữ có thai để đảm bảo dinh dưỡng là rất có hiệu quả nhằm giảm tỷ lệ trẻ
nhẹ cân.
Tăng cân của người mẹ trong thời gian mang thai có tác dụng trong việc
thúc đẩy sự phát triển của thai nhi, đặc biệt đối với bà mẹ có cân nặng thấp
trước khi mang thai. Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo rằng phụ nữ ở các
nước đang phát triển tăng ít nhất 1kg 1 tháng trong 6 tháng cuối thai kỳ, trong
quá trình mang thai tăng ít nhất là 6kg. Nếu bà mẹ không tăng đủ 6 kg thì sẽ
ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi [33]. Còn theo khuyến cáo của Uỷ

Thiếu máu:
Thiếu máu do dinh dưỡng rất phổ biến trên thế giới ước tính có 500
triệu đến 1 tỷ người bị bệnh nhất là trẻ nhỏ và phụ nữ có thai [37]. Ở các quốc
gia đang phát triển, thiếu máu khi có thai là một vấn đề nghiêm trọng. Nguyên
nhân của thiếu máu khi có thai [38]:
Nhu cầu sắt và axit folic tăng lên để thai phát triển và chuẩn bị tiết sữa
sau sinh.
Chế độ ăn cung cấp không đủ sắt và a xit folic đặc biệt là ở 3 tháng
giữa và 3 tháng cuối.
Nhiều phụ nữ mất sắt qua nhiều lần có thai, đẻ, sẩy thai hoặc do bệnh
tật (giun móc, sốt rét…)
Theo nghiên cứu của Panigrahi tại Ấn Độ thì 60% phụ nữ tại vùng
Bhubaneswar của Orissa thiếu máu, trong đó thiếu máu nhẹ là 39,6%, thiếu
máu trung bình là 20% và thiếu máu nặng là 1,2% [39].


16

Gần đây, trong nghiên cứu của Beta J năm 2013 tại Anh thì tỷ lệ sinh
non là 1,2% tuổi thai nằm trong khoảng từ 23 đến 35 tuần và so với nhóm
chứng thì nhóm sinh non có tần suất mắc thiếu máu cao hơn gấp 2,8 lần so
với nhóm chứng [40]. Mẹ sử dụng phương pháp hỗ trợ sinh sản, ra máu âm
đạo bất thường sau 3 tháng đầu, thiếu máu là những dấu hiệu giúp chẩn đoán
sinh non hiệu quả.
Tiền sản giật (TSG):
TSG là bệnh lý toàn thân thường xẩy ra ở 3 tháng cuối của thời kỳ thai
nghén. TSG gồm 3 triệu chứng chính là phù, protein niệu và tăng huyết áp.
Bệnh lý này gây ra nhiều biến chứng cho bà mẹ và thai nhi.
Theo tác giả Lê Thiện Thái, tổng kết trong 5 năm 1991 – 1995, trong 83
trường hợp sản giật có 3 trường hợp thai lưu (5,7%), sơ sinh có trọng lượng

giảm trong vòng 30 năm cho tới thời điểm hiện tại chủ yếu do chưa tìm được
phương pháp phát hiện sớm sinh non trong thăm khám sản khoa thường quy.
Các nhà khoa học đầu ngành sản khoa vẫn đang nỗ lực không ngừng tìm
kiếm các biện pháp phát hiện sớm sinh non để có các biện pháp can thiệp sớm
giảm nguy cơ cho mẹ và thai nhi. Các yếu tố được sử dụng để tiên lượng như
siêu âm đo chiều dài cổ tử cung, siêu âm hình thái thai nhi, sinh con so hay
con rạ, kết hợp siêu âm đo chiều dài cổ tử cung và yếu tố tiền sử sản khoa, kết
hợp đo chiều dài CTC với tiền sử sản khoa và đặc điểm cá nhân của mẹ như
chiều cao, cân nặng … [50].
Trong nghiên cứu của Celik và cộng sự tại Scotland cho thấy kết hợp
siêu âm đo chiều dài CTC và tiền sử sản khoa có thể là biện pháp hữu hiệu
để sàng lọc sinh non [50]. Nếu sử dụng phương pháp trên thì tỷ lệ phát hiện
các mức độ sinh non tương ứng như dưới bảng sau với tỷ lệ dương tính cố
định là 10%.


18

Bảng 1.4: Tỷ lệ phát hiện sinh non dựa trên siêu âm đo chiều dài CTC.
Mức độ sinh non

Tỷ lệ phát hiện

Sinh quá non

80,6%

Sinh rất non

58,5%

thai liên tiếp trong vòng 5 năm kể từ năm 1993 đến năm 2003 cho thấy nguy
cơ thai chậm phát triển trong tử cung của những phụ nữ có thai lại trong vòng
6 tháng cao gấp 1,3 lần, sinh rất non (24-32 tuần) cao gấp 4,1 lần, sinh non
(33-36 tuần) cao gấp 1,3 lần. Đáng chú ý là trong nghiên cứu này ghi nhận
được tỷ lệ chết chu sinh của trẻ sơ sinh của những phụ nữ này cao gấp 24,4
lần so với những phụ nữ có thai lại sau 6 tháng [53]. Tuy nhiên trong nghiên
cứu này cũng chỉ ra rằng không có sự liên quan giữa các yếu tố như tuổi, tình
trạng hôn nhân, chiều cao, kinh tế, hút thuốc, lần trước mổ đẻ với tỷ lệ chết
chu sinh của những trẻ đẻ non, nhẹ cân.
Tác giả Hsieh và cộng sự hồi cứu trên 4072 phụ nữ có thai 2 lần liên tiếp
tại Đài Loan lấy thời gian có thai lại là 12 tháng [54]. Phụ nữ có thai lần thứ 2
trước 12 tháng sau lần sinh đầu tiên có nguy cơ sinh non cao gấp 1,3 lần so
với nhóm phụ nữ có thai lại sau 12 tháng. Tác giả cũng khuyến cáo lần có thai
thứ 2 nên sau lần thứ nhất từ 18-48 tháng thì nguy cơ sẽ tương đối thấp,
ngược lại nếu có thai trước 6 tháng thì nguy cơ sẽ rất cao.
Nghiên cứu của Adam và cộng sự lại cho rằng thời gian có thai lại nên
sau 18 tháng để giảm nguy cơ biến chứng cho thai phụ và thai nhi [55].
1.2.5. Tuổi người mẹ
Tuổi mẹ càng cao, cơ thể mẹ càng suy thoái, các mạch máu lưu thông
không tốt làm hạn chế lượng máu nuôi thai gây chậm phát triển trong tử cung.
Mặt khác các bà mẹ lớn tuổi thường chịu ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý,
gánh nặng công việc hơn các bà mẹ trẻ tuổi [56].
Tuổi người mẹ có liên quan nhiều đến cân nặng sơ sinh sau đẻ. Sản phụ
có thai lần đầu ở tuổi trên 35 cũng có nguy cơ kèm theo khi sinh đẻ lần đầu,
không tiên lượng được trước nguy cơ khi sinh do những thay đổi về giải phẫu


20

và sinh lý ảnh hưởng đến sức khoẻ [57]. Sau 35 tuổi mới sinh con thì đứa trẻ

năm 2001 sử dụng đường bách phân vị 25, 50 và 75 tương ứng với chiều cao
là 152cm, 156 cm và 160 cm để nghiên cứu 9819 ca sinh và không tìm thấy
được sự khác biệt về mức độ non tháng, nhẹ cân giữa 3 nhóm chiều cao [63].
1.2.7. Lao động nặng trong thời gian mang thai
Điều kiện làm việc nặng nhọc, nhiều chấn động, tiếp xúc với môi trường
độc hại, sẽ gây nhiều biến chứng cho thai như sẩy thai, đẻ non [60]. Môi
trường sống, vệ sinh và lao động của người phụ nữ trong thời gian mang thai
có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và sức khoẻ của thai nhi. Trong thời
gian mang thai nếu người phụ nữ lao động nặng nhọc thì sẽ có nguy cơ sinh
non và nhẹ cân.
Nghiên cứu của Burdorf và cộng sự về các yếu tố nguy cơ trong công
việc hàng ngày với thời gian mang thai, tuổi thai lúc sinh và cân nặng lúc sinh
cho thấy phụ nữ làm công việc nhẹ nhàng, mang vác, thao tác với những dụng
cụ dưới 5kg thì có khả năng thụ thai và sinh con tốt nhất. Nếu tiếp xúc với
thuốc trừ sâu thì giảm thời gian mang thai và sinh con nhẹ cân lần lượt là 2,16
lần và 2,42 lần so với những bà mẹ không tiếp xúc [64].
Trong một nghiên cứu khác của tác giả Teitelman thì những bà mẹ đứng
nhiều có nguy cơ sinh non cao gấp 2,72 lần. Khi phân tích hồi quy đa biến
bao gồm các yếu tố như hút thuốc, dùng cafein, chủng tộc, trình độ học vấn,
tuổi thai, tình trạng hôn nhân thì nhóm phụ nữ đứng nhiều có nguy cơ sinh
con nhẹ cân cao (
phải chịu bạo lực sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sức khỏe sinh sản của
họ và thai nhi. Những thai phụ này có nguy cơ cao về sảy thai, tiền động kinh,
đẻ non, đẻ thiếu cân và trong những trường hợp xấu nhất, có thể dẫn đến tử
vong mẹ và hoặc tử vong trẻ sơ sinh, mặt khác khủng hoảng ở bà mẹ có thể
tạo dấu ấn tiêu cực lên não của thai nhi, khiến trẻ gặp khó khăn trong việc đối
đầu với những thử thách sau này [75-77].
Theo tổ chức Y tế Thế giới bạo lực đối với phụ nữ bao gồm: các hành vi
kiểm soát của người chồng, bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác, bạo lực tình
dục [78]
Khảo sát đa quốc gia về bạo lực do chồng của tổ chức Y tế thế giới năm
2005 cho thấy tỷ lệ thai phụ bị bạo lực trong thời gian mang thai giao động từ
4-29%. [74-79] Shamu và cộng sự tiến hành tổng quan 19 bài báo về bạo lực
do chồng tại Châu Phi đã chỉ ra tỷ lệ thai phụ bị bạo lực do chồng giao động
từ 2% đến 57% với tỉ lệ chung là 15,2% (95%CI: 14,8 – 16,08%) [80].
Tiếp xúc với bạo lực do chồng trong khi mang thai có liên quan đến một
số kết cục bất lợi của thai phụ và thai nhi, bao gồm sinh non và sinh nhẹ cân
[81-86]. Một trong những nguy cơ cho sự phát triển không bình thường của
trẻ sau này là việc bị sinh non (sinh trước 37 tuần) hoặc sinh nhẹ cân (cân
nặng sơ sinh dưới 2500 gram) [87], chúng là những nguyên nhân chính cho sự
phát triển thần kinh không bình thường của trẻ sau này cũng như trường hợp
xấu có thể dẫn đến tử vong trẻ [75-88].
Tại Việt Nam, 63.000 trẻ em dưới 5 năm chết mỗi năm và 50% các ca
tử vong xảy ra ở trẻ sơ sinh. Một trong những nguyên nhân chính gây tử
vong sơ sinh là sinh non/ thiếu cân và những biến chứng của chúng gây nên
suy hô hấp ở trẻ chiếm gần 50% của tất cả các trường hợp tử vong trẻ sơ
sinh (biểu đồ 1) [89].


24


nhân nào đó gây co thắt động mạch tử cung và thiếu oxy dẫn đến cường phát
bánh rau nhưng bánh rau lại rộng, mỏng hơn và hình thành RTĐ [97].
Nghiên cứu của Lam CM và cộng sự năm 2002 tại Hong Kong về xác
định yếu tố nguy cơ sinh non của những bà mẹ có bệnh lý rau tiền đạo và
chảy máu âm đạo trong thời gian mang thai [98]. Ông chỉ ra rằng những bà
mẹ có chảy máu âm đạo bất thường trong 3 tháng giữa có nguy cơ sinh non
cao gấp 4,19 lần ở những phụ nữ không có chảy máu âm đạo. Chảy máu âm
đạo trong 3 tháng giữa và có cơn co tử cung là hai yếu tố nguy cơ quan trọng
để tiên lượng sinh non.
U bánh rau: gây ảnh hưởng đến trao đổi chất giữa mẹ và thai nhi, do đó
cũng có những tác động nhất định lên trọng lượng của trẻ sơ sinh.
* Nước ối:
+ Đa ối: tác giả Phelan và cộng sự đã đưa ra chỉ số nước ối để áp dụng
trong lâm sàng. Chỉ số nước ối trên 24 cm gọi là đa ối. Đa ối thường kèm theo
dị dạng thai, đặc biệt là dị dạng của ống thần kinh và hệ tiêu hoá. Đa ối hay
gây đẻ non, vì vậy cân nặng trẻ sơ sinh thường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status