Thực trạng sức khỏe đánh giá của trẻ vị thành niên tại TP điện biên phủ và một số yếu tố liên quan năm 2015 - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN QUANG TOÀN

Thực trạng sức khỏe tự đánh giá của trẻ vị thành niên tại thành phố Điện
Biên Phủ, tỉnh Điện Biên và một số yếu tố liên quan, năm 2015

Chuyên ngành : Y tế công cộng
Mã số

: 60720301

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Lê Thị Hoàn

HÀ NỘI – 2015


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau
đại học, Bộ môn Sức khỏe Môi trường, Viện Đào tạo Y học Dự phòng & Y tế
Công cộng, trường Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn
thành tốt bản luận văn này.
Với tấm lòng của người học trò, tôi xin bày được tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới TS. Lê Thị Hoàn - Viện Đào tạo Y học Dự phòng & Y tế Công cộng
Trường đại học Y Hà nội đã luôn tận tình dành nhiều thời gian hướng dẫn chỉ

Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Quang Toàn


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CB/CNV
CDC

Cán bộ/Công nhân viên
Centers for Disease Control and Prevention
(Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh Mỹ)

CSSK

Chăm sóc sức khỏe

DVYT

Dịch vụ y tế

GYTS

Global youth tobacco survey
(Tổ chức khảo sát thuốc lá ở thanh thiếu niên trên toàn cầu)
Human



TTGDSK

Truyền thông giáo dục sức khỏe

UBND

Ủy ban nhân dân

VTN

Vị thành niên


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ....................................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN ...............................................................................................3
1.1. Đại cương về sức khỏe vị thành niên ..................................................... 3
1.1.1. Khái niệm lứa tuổi vị thành niên..................................................... 4
1.1.2. Những thay đổi về thể chất ở lứa tuổi vị thành niên ....................... 4
1.1.3. Phát triển tâm lý xã hội giai đoạn vị thành niên ............................. 6
1.1.4. Tầm quan trọng của chăm sóc sức khỏe lứa tuổi vị thành niên ...... 8
1.2. Tình hình sức khỏe của lứa tuổi vị thành niên trên Thế giới và Việt Nam . 9
1.2.1. Tình hình sức khỏe của lứa tuổi vị thành niên trên Thế giới .......... 9
1.2.2. Tình hình sức khỏe của lứa tuổi vị thành niên tại Việt Nam ........ 12
1.3. Những yếu tố liên quan đến sức khỏe vị thành niên ............................ 14
1.4. Một số nghiên cứu về tình trạng sức khỏe vị thành niên ..................... 21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................23
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ........................................................ 23
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu. .................................................................... 23

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1.

Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu ............................31

Bảng 3.2.

Thông tin chung của gia đình trẻ vị thành niên.....................................32

Bảng 3.3.

Thông tin chung của mẹ trẻ vị thành niên .............................................33

Bảng 3.4.

Thông tin chung bố trẻ vị thành niên .....................................................33

Bảng 3.5.

Tỷ lệ trẻ vị thành niên tự đánh giá sức khỏe không tốt theo đặc điểm
nhân khẩu học ..........................................................................................35

Bảng 3.6.

Tỷ lệ trẻ vị thành niên có sức khỏe không tốt theo các đặc điểm chung
của gia đình...............................................................................................36

Bảng 3.7.



Tình trạng trẻ vị thành niên bị bắt nạt ....................................................41

Bảng 3.15.

Tình trạng trẻ vị thành niên bị đánh .......................................................42

Bảng 3.16.

Sử dụng một số thực phẩm, chế độ dinh dưỡng của trẻ vị thành niên43

Bảng 3.17.

Mối liên quan giữa sức khỏe không tốt với đặc điểm nhân khẩu học
của vị thành niên ......................................................................................43

Bảng 3.18.

Mối liên quan giữa sức khỏe không tốt với đặc điểm nhân khẩu học
gia đình .....................................................................................................44


Bảng 3.19.

Mối liên quan giữa sức khỏe không tốt với đặc điểm chung của mẹ .45

Bảng 3.20.

Mối liên quan giữa sức khỏe không tốt với đặc điểm chung của bố .45


Nó được đánh dấu bằng những thay đổi đan xen nhau về thể chất, trí tuệ, và
mối quan hệ xã hội từ giản đơn chuyển sang phức tạp. Giai đoạn này có đặc
điểm phát triển mạnh mẽ và phức tạp, với sự thay đổi nhanh về thể chất, nội
tiết, tâm sinh lý, nhận thức, các kỹ năng và các mối quan hệ xã hội [2].
Tỷ lệ trẻ VTN chiếm khoảng 20% dân số thế giới và có tới 85% số đó
sống ở các nước đang phát triển [3]. Tuy nhiên, trẻ VTN đang phải đối mặt
với rất nhiều khó khăn, chịu sức ép lớn về việc học tập và dự kiến tương lai từ
gia đình, nhà trường và xã hội, tiếp xúc nhiều thông tin thiếu sự chọn lọc hoặc
không phù hợp lứa tuổi, khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm và dễ bị lôi
kéo bởi các tệ nạn xã hội. Do thể chất và tinh thần chưa ổn định, khả năng tự
nhận biết, tự đánh giá về súc khỏe của bản thân chưa cao và đây còn là độ tuổi
dễ mắc các bệnh như bệnh học đường (bệnh cận thị, bệnh cong vẹo cột sống,
bệnh răng miệng), bệnh do rối loạn dinh dưỡng (bệnh thiếu máu, rối loạn do
thiếu iod, bệnh béo phì.. các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nghiện hút
và tiêm chích ma túy, tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ngày càng tăng [4]. Nhiều hành
vi nguy cơ cao ảnh hưởng tới sức khỏe như hút thuốc lá, uống rượu bia ít vận
động, quan hệ tình dục không an toàn hoặc tham gia vào các hành vi bạo
lực…dẫn tới những hậu quả về lâu dài tác động tới sức khỏe khi trưởng
thành.Theo thống kê cho thấy, gần 60% trường hợp chết trẻ và và 1/3 trong
tổng số những người mắc bệnh ở tuổi trưởng thành có liên quan đến các hành
vi từ khi ở tuổi niên thiếu [3].
Tại Việt Nam, tính tới ngày 01 tháng 4 năm 2014 có17,4% dân số trong
độ tuổi VTN [5]. Thế hệ thanh niên là nhân tố đóng góp quan trọng vào việc
gây dựng con đường tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững. Do đó việc
cung cấp thông tin, giáo dục và dịch vụ về chăm sóc sức khỏe lứa tuổi vị
thành niên cũng như tìm hiểu tình hình sức khỏe, những nhận thức về sức
khỏe của lứa tuổi này là cần thiết và đặc biệt quan trọng. Ở nước ta vấn đề


2

Mô tả một số yếu tố liên quan tới tình trạng sức khỏe tự đánh giá của
trẻ vị thành niên tại thành phố Điện Biên Phủ, năm 2015.


3

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Đại cương về sức khỏe vị thành niên
Năm 1978, trong bản Tuyên ngôn Alma Ata, Tổ chức y tế Thế Giới của
Liên hợp quốc (WHO) định nghĩa về sức khỏe: “Sức khỏe không chỉ là
không bệnh tật, mà còn là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh
thần và xã hội ”.
Trong Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục đăng trên báo Cứu quốc (ngày
27-3-1946), Bác Hồ đã nêu rõ: “Ngày ngày tập luyện thì khí huyết lưu thông,
tinh thần đầy đủ để giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới...”
theo đó khái niệm về sức khỏe của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là:“khí huyết lưu
thông, tinh thần đầy đủ như vậy là sức khỏe”. Khái niệm của Bác (một người
Á Đông) về vấn đề sức khỏe vẫn luôn đúng và đầy đủ so với định nghĩa về
vấn đề sức khỏe của tổ chức y tế thế giới WHO sau hơn 30 năm và cho tới tận
ngày nay.
Hiến chương của Tổ chức Y tế Thế Giới (TCYTTG) (1946) là công cụ
quốc tế đầu tiên bảo vệ sức khỏe, coi đó là “quyền cơ bản của mọi người,
không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, quan điểm chính trị, điều kiện kinh tế
hay xã hội”. Quyền được hưởng tình trạng sức khoẻ tốt nhất ngày nay đã
được nhiều hiệp định quốc tế về quyền con người phê chuẩn.
Ở mọi thời đại sức khỏe con người ta luôn là điều quý giá nhất (có sức
khỏe là có tất cả) cá nhân khỏe mạnh → gia đình khỏe mạnh → xã hội khỏe
mạnh → đất nước phát triển luôn là qui luật phát triển chung đối với mỗi quốc
gia trên thế giới nói chung và mỗi đất nước, mỗi một dân tộc nói riêng, tương

từ trẻ em sang người lớn. Giai đoạn này có đặc điểm phát triển mạnh mẽ và
phức tạp, với sự thay đổi nhanh về thể chất, nội tiết, tâm sinh lý, nhận thức,
các kỹ năng và các mối quan hệ xã hội [9].


5

* Các chỉ số phát triển thể chất
- Ở trẻ trai: Là giai đoạn có tốc độ phát triển cơ thể nhanh, từ 13 - 14
tuổi. Trước tuổi dậy thì, tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 4 - 5cm/năm.
Giai đoạn dậy thì phát triển mạnh và kéo dài khoảng 4 năm, đỉnh tăng trưởng là
khoảng 15 tuổi, với mức tăng chiều cao trung bình có thể đạt 8 - 12cm/năm,
trung bình cả đợt trăng trưởng ở tuổi dậy thì là 25cm. Ở Việt Nam, lứa tuổi
chiều cao tăng mạnh nhất là 13 - 14 tuổi với mức tăng 8,3cm/năm. Cân nặng
cũng tăng nhanh ở giai đoạn này, tăng cân nhiều nhất ở 14 - 15 tuổi, có thể đạt
tới 6,23kg/năm Sau giai đoạn dậy thì phát triển chiều cao và cân nặng chững
lại, sự phát triển chiều cao kết thúc ở độ tuổi 20 - 25 tuổi [10].
Hệ thống cơ bắp phát triển mạnh mẽ, nhất là cơ cánh tay, các cơ ở ngực
phát triển nhiều tạo nên dáng vẻ một thanh niên.
Về sinh dục, nội tiết: Đây là giai đoạn đang hoàn thiện dần hình thái và
chức năng sinh sản. Ở Việt Nam, tuổi xuất tinh lần đầu sớm nhất là 12 tuổi,
đến 17 tuổi 87,82% trẻ trai đã có dấu hiệu xuất tinh lần đầu. Phát triển tuyến
bã và tăng tiết Androgen.
Thay đổi giọng nói: Dấu hiệu sớm của hiện tượng này là thỉnh thoảng
đổi giọng hoặc như vỡ giọng khi nói [10].
- Ở trẻ gái: Phát triển chiều cao, trước tuổi dậy thì tăng 4 - 5 cm/năm, ở
tuổi dậy thì trẻ gái tăng trung bình 6 - 11 cm/năm. Ở Việt Nam, tuổi tăng
chiều cao mạnh nhất ở trẻ gái là 11 - 12 tuổi (7,68cm/năm). Thông thường sau
18 tuổi ít phát triển thêm về chiều cao.
Cân nặng thường bắt đầu tăng nhanh lúc 10 - 11 tuổi, trẻ gái tăng trung

đây chưa có [4], [12].
Trẻ vị thành niên được dẫn dắt bởi một tư duy hoàn toàn mới mẻ, quá
trình tư duy được tổ chức ở tầm cao hơn, tầm của người trưởng thành [13].
Trẻ VTN nỗ lực tìm kiếm độc lập, tách khỏi sự kiểm soát của cha mẹ và các
áp lực gia đình. Trẻ khẳng định mình là một cá thể độc lập, tự mình điều
khiển mình chứ không phải ai khác [14].


7

Những biến đổi sinh học, nhận thức đã tạo nên sự mất cân bằng tạm
thời về tâm lý, trong giai đoạn này trẻ có những thay đổi thường xuyên về tâm
lý, tình cảm nhiều khi gây nên những rối loạn về tâm lý, làm nảy sinh lo âu,
trầm cảm và cả những ý nghĩ tự sát [15].
* Sự phát triển về cảm xúc
Tuổi VTN là giai đoạn thích nghi khó khăn nhất trong cuộc sống, trẻ có
những biến động về mặt sinh học, cơ thể và sự chín muồi về giới tính kéo
theo sự phát triển tâm lý rất đặc thù. Ở VTN nhân cách định hình nhưng chưa
được khẳng định, trí tuệ phát triển tối đa, nhưng cảm xúc thì dao động, dễ bị
tổn thương. Tâm trạng trẻ thường xuyên căng thẳng dễ xúc động, hoang
mang, lo sợ, dễ nảy sinh trầm cảm. Hành động bốc đồng, dao động, dễ tập
nhiễm các hành vi tiêu cực [16].
Tuổi VTN là thời kì trẻ có gắng thử nghiệm những gì đã học trước đó
để thỏa mãn các nhu cầu của bản thân. Trong giai đoạn này, trẻ cần sự hỗ trợ
của người lớn, đặc biệt là cha mẹ về mặt tâm lý, sự đồng cảm, để thoát khỏi
tình trạng khủng hoảng này. Điều quan trọng trong công tác chăm sóc sức
khỏe tinh thần là thấu hiểu tâm trạng của trẻ, củng cố lòng tự trọng, tôn trọng
tính độc lập, cần có hướng dẫn khuyến khích những mặt tích cực, tránh các
yếu tố tiêu cực [17].
* Sự phát triển về quan hệ xã hội

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn phát triển hoàn thiện con người từ
lúc ấu thơ đến khi trưởng thành. Đây là thời kì mang lại những biến đổi lớn
lao về cơ thể cũng như sự khác biệt về giới. Là độ tuổi rất cần sự hướng dẫn,
chăm sóc của gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội để giúp vị thành niên
chuyển sang tuổi trưởng thành một cách đúng đắn. Sự phối kết hợp của cá
nhân, cộng đồng và môi trường là cơ sở rất quan trọng trong việc tăng trưởng
sức khỏe vị thành niên, nó giúp cho vị thành niên phát triển hài hòa về thể
chất và lành mạnh về tình thần [20].


9

Sức khỏe vị thành niên liên quan trực tiếp tới sự phát triển của mỗi con
người từ lúc còn ở tuổi vị thành vị thành niên và cả tương lai duy trì giống nòi
của dòng họ sau này. Vấn đề sức khỏe vị thành niên nhất là sức khỏe sinh sản
ở tuổi này còn ảnh hưởng tới sự tồn vong của cả dân tộc. Do đó việc cung cấp
thông tin, giáo dục và dịch vụ về chăm sóc sức khỏe lứa tuổi vị thành niên là
cần thiết và đặc biệt quan trọng [20].
1.2. Tình hình sức khỏe của lứa tuổi vị thành niên trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình sức khỏe của lứa tuổi vị thành niên trên Thế giới
Theo những tài liệu công bố của Mỹ có tới hơn 80% bệnh tật có nguồn
gốc phát sinh từ môi trường. Đối với toàn cầu thì môi trường sức khỏe là một
lĩnh vực vô cùng to lớn và có cảm giác như vô hình nó bao gồm: Lý, hóa, sinh
học, môi trường xã hội (môi trường làm việc, môi trường cộng đồng, gia đình,
phân chia giàu nghèo, các căng thẳng xã hội)…mà các yếu tố này đều liên
quan tới sức khỏe VTN [21]. Thực tế đã cho thấy các quốc gia trên toàn thế
giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề lớn liên quan tới sức khỏe của lứa tuổi
VTN. Đó là các vấn đề về sức khỏe như tỷ lệ tử vong do sinh nở, nhiễm HIV,
tử vong do chấn thương, sử dụng rượu bia và thuốc lá....
Trên thế giới, cứ 5 người thì có 1 người trong độ tuổi VTN và 85%

nào đó như phiền muộn, nhiễu loạn tâm lý, lạm dụng thân thể, hành động tự
sát hay chán ăn. Để cải thiện vấn đề này, cần tăng cường việc chăm sóc sức
khoẻ cho vị thành niên và các dịch vụ tư vấn tại cộng đồng [11], [13].
Bạo lực là nguyên nhân hàng đầu trong 10 nguyên nhân gây tử vong ở tuổi
VTN trên toàn cầu, bao gồm cưỡng bức, bạo lực gia đình và cả chiến tranh [14].
Trong mọi cái chết có nguyên nhân từ bạo lực ước tính có hơn 20 đến
40% có thể tránh được nếu được điều trị tại bệnh viện. Sự hỗ trợ hiệu quả về
mặt tâm lý và xã hội có thể giúp ngăn chặn chu kỳ bạo lực từ thế hệ này sang
thế hệ khác.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới quan tâm tới quan hệ tình dục không an
toàn ở lứa tuổi vị thành niên. Theo nghiên cứu của Kipp và cộng sự năm 2004
tại Uganda đối với đối tượng VTN từ 12 đến 21 tuổi chỉ ra kết quả: Phần lớn


11

đối tượng tham gia bắt đầu có QHTD ở độ tuổi từ 12 - 15 tuổi. Nhóm đối
tượng đang học trong trường học có quan điểm cởi mở hơn với vấn đề tình
dục so với đối tượng không đi học [25]. Nghiên cứu của Frontenria và cộng
sự năm 2006 về vấn đề kiến thức và thực hành về SKSS trên đối tượng là học
sinh trung học ở 4 nước là Bỉ, Cộng hòa Séc, Estonia và Bồ Đào Nha đã đưa
ra những kết luận về hiểu biết của VTN về tình dục, các bệnh lây truyền qua
đường tình dục, QHTD và sự sử dụng các dịch vụ y tế. Theo đó, tỷ lệ học sinh
có bạn trai, bạn gái chiếm 76 đến 96% tùy từng quốc gia và gần một nửa trong
số đó đã từng QHTD (47,6% - 58,5%) [26].
Hàng năm trên thế giới có khoảng 16 triệu em gái tuổi từ 15 đến 19
sinh con, chiếm gần 11% số ca sinh toàn cầu. Phần lớn các ca sinh nở ở tuổi
VTN là ở các nước đang phát triển. Nguy cơ tử vong ở trẻ VTN mang thai
cao hơn rất nhiều so với phụ nữ trưởng thành.
Rất nhiều trẻ VTN ở các nước đang phát triển bước vào độ tuổi vị

Quảng Bình và Đồng Nai trên 2764 học sinh tiểu học, trung học cơ sở và
trung học phổ thông cho kết quả trong 2 tuần qua học sinh thường mắc các bệnh
cấp tính như sổ mũi (57%), sốt (30%) và đau học, đau tai (30%). Học sinh
thường tự chữa là nhiều nhất khi bị ốm trong 2 tuần qua (chiếm tỷ lệ 33%) rồi
đến bệnh viện (21%) và đến các cơ sở khác như trạm y tế xã, y tế tư nhân và
thầy thuốc. Đặc biệt không có học sinh nào báo cáo đến phòng y tế trường học
đầu tiên khi bị ốm trong 2 tuần qua [19].
Theo báo cáo kết quả điều tra thực trạng một số bệnh của học sinh phổ
thông và hoạt động y tế trường học tại Hà Nội thực hiện năm 2009: Cho thấy
16.024 học sinh các trường phổ thông tại Hà Nội được khám, có 5.078 học
sinh mắc các bệnh về tai mũi họng (chiếm 31,7%), 1.335 học sinh mắc các
bệnh về da liễu (8,3%). Kết quả điều tra cho thấy có 32,9% học sinh mắc các
bệnh về mắt trong đó có 30,2% mắc bệnh cận thị và có xu hướng tăng dần


13

theo bậc học (cấp 1: 20,4%, cấp 2: 29,6%, cấp 3: 36,9%). Tỷ lệ học sinh mắc
các bệnh về răng miệng chiếm 41,2% tỷ lệ học sinh bị sâu răng là 10,8%
(chiếm 26,2% các bệnh về răng miệng) [19].
Tỷ lệ cận thị đang có xu hướng tăng lên trong các cấp học và ở thành thị
số học sinh bị cận thị cao hơn nhiều so với học sinh ở vùng nông thôn. Theo tác
giả Trần Văn Dần, ở Hà Nội có lớp học tới 50% học sinh phải đeo kính, tỷ lệ này
ở khối tiểu học là 9,6%, trung học cơ sở là 36,5% và khối trung học phổ thông
là 24%. Trong khi đó ở các vùng nông thôn tỷ lệ cận thị trường học rất thấp chỉ
từ 1,6% - 3%. Cùng với cận thị thì bệnh cong vẹo cột sống cũng là một bệnh phổ
biến ở lứa tuổi VTN. Theo nghiên cứu của Vụ giáo dục thể chất Bộ giáo dục đào
tạo tiến hành khám 634 học sinh tại 6 trường học tại Hà Nội. Năm 2004 - 2005
có tỷ lệ cong vẹo cột sống là 28,7% trong đó cong vẹo cột sống hình chữ C thuận
chiếm 45% hình chữ S thuận và ưỡn chỉ chiếm 3,6%, đặc biệt tỷ lệ học sinh bị

loạn tâm thần bắt đầu xuất hiện ở độ tuổi 14 [36].
Đối với VTN, các vấn đề về sức khỏe tâm thần là một trong những
nhân tố nguy cơ hàng đầu dẫn đến cái chết, chẳng hạn như tự tử. Nhiều vị
thành niên khi tham gia các buổi tư vấn toàn cầu, được tổ chức bởi Tổ chức y
tế thế giới (WHO) đã xem xét sức khỏe tâm thần, là vấn đề sức khỏe quan
trọng nhất đối với vị thành niên ngày nay, và họ muốn tiếp cận nhiều hơn để
chăm sóc sức khỏe tâm thần cho chính mình [36].
Theo báo cáo của nhiều quốc gia có thu nhập cao, tỷ lệ tự tử là 5 - 10%.
Tỷ lệ tự tử này cao hơn, khoảng 15% tại một số quốc gia có thu nhập trung
bình, thấp. Ở một số quốc gia, có 1 trong 3 vị thành niên thú nhận đã từng có
ý định tự tử [37]. Tỷ lệ tự tử dao động trong vị thành niên từ 12 - 18 tuổi.
Sự khác biệt giới tính: Tại châu Âu và châu Mỹ, số lượng các cô gái ở
độ tuổi vị thành niên có ý định tự tử gấp đôi số lượng nam giới, nhưng các
nước ở khu vực Châu Phi, Đông Địa Trung Hải, và còn tại khu vực Tây Thái
Bình Dương, không có sự khác biệt ý định tử tự ở cả hai giới [38], [39].


15

Ở các nước có thu nhập cao như Mỹ và Canada, khoảng một nửa số vị
thành niên với các vấn đề sức khỏe tâm thần được chăm sóc ở mức cần thiết.
Ở các nước có thu nhập thấp và trung bình việc tiếp cận điều trị là khó khăn.
 Hành vi sử dụng internet
Tầm ảnh huởng của internet phát tán mạnh mẽ khi nó bắt đầu phát huy
công dụng giải trí của mình, người ta không chỉ có thể tìm tư liệu mà còn xem
phim, nghe nhạc, chơi game trên mạng. Hàng triệu người vào mạng mỗi
ngày, nhà nhà nối mạng, người người vào mạng, nhưng số người vào mạng
để làm việc, học tập, truy cập tài liệu thì ít mà số người vào mạng để tán gẫu
hay chơi game thì nhiều.
Internet đang chiếm lĩnh giới trẻ với một tốc độ như bão quét, những

Tỷ lệ vị thành niên niên trẻ, những người sử dụng rượu, ít nhất một
lần/tháng dao động từ gần hai phần ba số nam giới và nữ giới ở Seychelles.
Con số này chỉ có 1% nam giới nữ giới ở Myanmar. Trong hầu hết các nước,
nam giới tiêu thụ rượu bia nhiều hơn nữ giới.
Xu hướng sử dụng rượu bia. Hầu hết các nước có thu nhập cao ở châu
Âu và Mỹ báo cáo tình hình sử dụng rượu bia giảm đi trong cả hai vị thành
niên lớn tuổi và trẻ tuổi. Trong số các vị thành niên trẻ, mức sử dụng bia rượu
ở nhiều nước đã giảm hơn một nửa từ năm 2001. Tuy nhiên, một số quốc gia
báo cáo tăng lên (WHO).
 Hành vi hút thuốc lá, thuốc lào
Ở Mỹ có nhiều nghiên cứu về sự liên quan giữa sử dụng thuốc lá và
ung thư đã được tiến hành, các nghiên cứu này ước tính rằng khoảng một
phần ba trong tổng số người chết vì ung thư liên quan tới sử dụng thuốc lá.
Thuốc lá gây ra xấp xỉ 90% tổng số người chết vì ung thư phổi và hút thuốc lá
còn gây ra ung thư ở nhiều các phần khác như họng, thanh quản, thực quản,
tuyến tuỵ, tử cung, cổ tử cung, thận, bàng quang, ruột và trực tràng….



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status