LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo
giáo dục nghề nghiệp hệ cao đẳng điều khiển tàu biển tại trường Cao đẳng
Hàng hải 1” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong
luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào
khác. Tài liệu tham khảo và nội dung trích dẫn đảm bảo sự đúng đắn, chính xác,
trung thực và tuân thủ các quy định về quyền sở hữu trí tuệ.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc.
Hải Phòng, ngày 08 tháng 08 năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Thanh Hải
i
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian nỗ lực, cố gắng nghiên cứu một cách nghiêm túc, luận văn
“Nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp hệ cao đẳng
điều khiển tàu biển tại trường Cao đẳng Hàng hải 1” đã được hoàn thành đúng
thời hạn.
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn TS. Lê Quốc
Tiến đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, động viên và cung cấp tài liệu cho tôi hoàn
thành bản luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy giáo khoa Hàng hải trường Đại học
Hàng hải Việt Nam, Viện Đào tạo Sau đại học trường Đại học Hàng hải Việt Nam,
Thư viện trường, gia đình và các đồng nghiệp đã đóng góp ý kiến, nhiệt tình giúp
đỡ và động viên tôi hoàn thành luận văn cao học đúng thời gian quy định.
Hải Phòng, ngày 08 tháng 08 năm 2015
Tác giả
Giải thích
Ban chủ nhiệm
Cố vấn học tập
Deadweight – Trọng tải toàn phần
Giáo dục nghề nghiệp
Điều khiển tàu biển
Giáo dục và Đào tạo
Giao thông Vận tải
Giảng viên cố vấn học tập
International Organization for Standardization
International Convention for the Prevention of Pollution
MARPOL 73/78
From Ships, 1973 as modified by the Protocol of 1978 –
Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển
1973, được sửa đổi bởi Nghị định thư 1978
MLC 2006
NN&PTNT
PSC
STCW 78/2010
THKTNV
TNCSHCM
TW
Maritime Labour Convention 2006 – Công ước Lao động
Hàng hải 2006
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Port State Control – Thanh tra chính quyền cảng
23
tại Việt nam
Bảng chuyển đổi thang điểm theo hệ tín chỉ
29
Bảng khung chương trình đào tạo theo hệ tín chỉ
30
Bảng khung chương trình đào tạo hệ Cao Đẳng nghề
40
Phân bố số lượng giảng viên theo tổ môn
47
Số lượng sinh viên khoa điều khiển từ 2011-2015
49
Kết quả học tập sinh viên Cao Đẳng chính quy
52
Kết quả học tập sinh viên Cao Đẳng nghề
52
Khung chương trình đào tạo hệ Cao Đẳng nghề nghiệp điều
60
khiển tàu biển
Bảng dự kiến kế hoạch bồi dưỡng trình độ khoa học và
70
chuyên môn cho cán bộ giảng viên 2015-2020
v
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hình
Tên hình
Ngày 27 tháng 11 năm 2014 Quốc hội đã thông qua luật giáo dục nghề
nghiệp số 74/2014/QH 13 [9] trong đó quy định: “Giáo dục nghề nghiệp là một bậc
học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung
cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao
động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh, và dịch vụ,
được thực hiện theo hai hình thức là dào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên.”
Luật giáo dục nghề nghiệp được ban hành để tạo nguồn nhân lực đáp ứng
với tình hình hội nhập quốc tế, bảo đảm nâng cao được năng suất, chất lượng lao
động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm
việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.Trường cao đẳng hàng hải
1 hiện nay đang giảng dạy theo hai hệ cao đẳng chính quy và hệ cao đẳng nghề còn
tồn tại một số nhược điểm như đối với hệ cao đẳng chính quy còn nặng về tính lý
thuyết số tiết thực hành ít nên khi sinh viên ra trường còn bỡ ngỡ với công việc
thực tế trên tàu. Ngược lại đối với hệ cao đẳng nghề số tiết thực hành nhiều không
cân xứng với số tiết lý thuyết, khối lượng kiến thức còn nặng so với chuẩn đầu vào.
Xuất phát từ Nghị quyết số 29-NQ/TW [7], Luật giáo dục nghề nghiệp [9]
và tình hình thực tế của trường Cao đẳng Hàng hải 1 và khoa ĐKTB việc triển khai
nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo giáo dục nghề
nghiệp hệ cao đẳng điều khiển tàu biển” mang ý nghĩa thời sự và có tính cấp thiết
cao, phù hợp với xu thế phát triển chung của ngành Hàng hải, đáp ứng được nhu
cầu đòi hỏi thực tiễn xã hội.
1
2. Mục đích của đề tài:
Xác định cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về vấn đề chất lượng Đào tạo –
huấn luyện Hàng hải.
Xây dựng chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp hệ cao đẳng điều khiển
tàu biển phù hợp với luật giáo dục nghề nghiệp, Công ước STCW 78/2010 nhằm
TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH ĐIỀU KHIỂN
TÀU BIỂN
1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay đã có các công trình khoa học liên quan tới đề tài, cụ thể như Đề
tài NCKH cấp bộ của TS Đặng Văn Uy làm chủ nhiệm “ Nâng cao năng lực đào
tạo hàng hải các cấp tại Việt nam” 2007 [5 ]. Đề tài đã nghiên cứu về các vấn đề:
Đánh giá hệ thống đào tạo huấn luyện ở Việt Nam hiện nay.
Đánh giá thực trạng, xu thế phát triển của nghành hàng hải ở Việt Nam và
trên thế giới.
Dự báo nhu cầu phát triển của đội tàu trên thế giới và nhu cầu cung cấp
thuyền viên của các nước để đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu về số lượng và
năng lực thuyền viên của các nước đến 2010 và một số định hướng đến 2020.
Đánh giá, nhận xét, phân tích mạng lưới cơ sở, hệ thống Đào tạo huấn luyện
Hàng hải: chương trình Đào tạo; cơ sở vật chất phục vụ Đào tạo, huấn luyện Hàng
hải; đội ngũ cán bộ, đội ngũ giảng viên; chất lượng thuyền viên.
Tác giả đã nghiên cứu trong một thời gian dài, về các chương trình đào tạo Cao
đẳng, Đại học và đề xuất một số vấn đề đến nâng cao năng lực Đào tạo – Huấn
luyện Hàng hải tại Việt Nam.
Tuy nhiên Đề tài chưa đề cập tới vấn đề bất cập hiện nay là tồn tại song song
hai hệ thống đào tạo giữa chính quy và hệ nghề.
Đề tài luận văn thạc sĩ kỹ thuật:“Nghiên cứu các biện pháp nâng cao chất
lượng Đào tạo kỹ sư Điều khiển tàu biển trường Đại học Hàng hải Việt
Nam giai đoạn 2006-2012” do KS. Đỗ Công Hoan năm 2007[ 3 ]. Đã nghiên cứu
đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng Đào tạo kỹ sư Điều khiển tàu biển theo
hệ niên chế, góp phần nâng cao chất lượng sinh viên sau ra trường đáp ứng yêu cầu
của các nhà tuyển dụng trong và ngoài nước.
3
4
trong các trường dạy nghề nhiều thách thức và cơ hội để phát triển, trong đó lựa
chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học là một trong những vấn đề được
quan tâm.
1.2.2. Mô hình đào tạo nghề nghiệp ở một số nước
a. Hàn Quốc[19]
Hệ thống giáo dục Hàn Quốc có cấu trúc cơ bản 6-3-3-4 bao gồm giáo dục
cơ sở (từ lớp 1 đến lớp 6), trung học bậc trung (lớp 7 đến lớp 9), trung học bậc cao
(lớp 10 đến lớp 12), cao đẳng và đại học. Trong đó, giáo dục cơ sở và giáo dục
trung học bậc trung là bắt buộc.
Trong những năm 90 của thế kỷ 20 Hàn Quốc đã đầu tư nghiên cứu để đón
đầu thế kỷ 21 bằng mô hình lý tưởng: nhà trường phải đào tạo con người toàn diện,
biết tự học, tự chỉ đạo, tự lực, cánh sinh. Ngay ở bậc trung học học sinh đã được
nhà trường dạy các kiến thức và kỹ năng cơ bản chung của nhiều ngành nghề, trau
dồi niềm tin lao động, phát triển năng lực lựa chọn con đường nghề nghiệp tương
lai. Mục tiêu giáo dục là phải đạt được giáo dục văn hóa phổ thông và kỹ năng
nghề nghiệp. Để đạt được mục đích này trong hai thập kỷ qua Hàn Quốc đã phát
triển khá mạnh loại trường trung học dạy nghề theo đơn vị học trình mà vẫn đảm
bảo được học vấn phổ thông và kỹ thuật.
Thời gian học nghề tại các trường nghề Hàn Quốc từ 1 tháng đến 3 năm.
Thời lượng đào tạo của từng nghề khác nhau, chẳng hạn như: ngư nghiệp và hàng
hải từ 1 đến 12 tháng; kỹ thuật từ 1 đến 6 tháng; thương mại và nông nghiệp từ 1
đến 3 tháng.
b. Nhật Bản: [ 21 ]
Hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở Nhật Bản trải qua rất nhiều cuộc cải cách
và các cuộc cải cách đều diễn ra sau khi có sự thay đổi về tình hình kinh tế chính
trị như vào năm 1947( sau kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ 2), năm 1961.Hiện
nay hệ thống giáo dục dạy nghề của Nhật Bản cho phép học sinh tốt nghiệp trung
nghiệp. Trong trường hợp ngược lại, doanh nghiệp không có cơ sở đào tạo lý
thuyết thì sẽ kết hợp với một trường dạy lý thuyết nghề.
6
1.2.3. Những ưu điểm của Luật Giáo dục nghề nghiệp so với Luật Giáo dục cũ
[25]
Ngày 27 tháng 11 năm 2014, Luật Giáo dục nghề nghiệp đã được Quốc hội
khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 8 và có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 7 năm
2015. Luật Giáo dục nghề nghiệp ra đời trong hoàn cảnh đất nước đang hội nhập
mạnh mẽ với các nước trong khu vực và Thế giới nó thay thế Luật Giáo dục năm
2005 không còn phù hợp với tình hình hiện nay.Nó có các ưu điểm:
Thứ nhất, cấu trúc lại hệ thống giáo dục cho phù hợp với tình hình mới. Hệ
thống giáo dục nghề nghiệp mới bao gồm: Trình độ sơ cấp; trình độ trung cấp và
trình độ cao đẳng.
Thứ hai,trong lĩnh vực tổ chức đào tạo đưa thêm 2 phương thức đào tạo mới:
Đào tạo theo tích lũy mô đun và đào tạo theo tích lũy tín chỉ và các trường có
quyền lựa chọn phương thức đào tạo theo điều kiện của từng trường. Với phương
thức đào tạo này, sẽ tạo thuận lợi rất lớn cho người học tiết kiệm được thời gian,
kinh tế. Người học có thể lựa chọn học liên tục hoặc học từng cấp học phụ thuộc
vào năng lực, điều kiện cá nhân. Hoặc có thể thay đổi nghề cũng thuận lợi vì được
miễn một số mô đun hay tín chỉ các môn học chung…
Thứ ba,trong lĩnh vực tuyển sinh Luật Giáo dục nghề nghiệp cũng trao
quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp về chỉ tiêu tuyển sinh, số lần
tuyển sinh trong một năm, đối tượng tuyển sinh và hình thức tuyển sinh.
Thứ tư,giao cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tự chủ xây dựng chương
trình đào tạo khác với trước đây chương trình khung đối với từng nghề đào tạo do
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành.
Thứ năm,có sự đổi mới trong việc đánh giá chất lượng và tốt nghiệp.
nghiệp họ về các công ty, các cơ sở vận tải thực tập nhằm củng cố nâng cao kiến
thức đã được học tại trường. Bước hai họ được thực hiện nhiệm vụ trên tàu, đây là
thời gian họ làm việc theo chuyên môn nghiệp vụ của mình. Bước 3 một thời gian
họ lại trở về trung tâm huấn luyện của công ty để được giáo tạo nâng cao kĩ năng.
Bước 4 xuống tàu thực hiện vụ với chức danh cao hơn với kĩ năng tốt hơn. Cứ tiếp
tục vòng tròn xoáy trôn ốc cho đến chức vụ cao nhất. Đó là một quy trình đào tạo
chặt chẽ, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề
nghiệp để các thuyền viên không ngừng được nâng cao, cập nhật được các kiến
thức của ngành hàng hải.
b. Quy trình đào tạo ngành điều khiển tàu biển của Malayxia[18]
Quy trình đào tạo ngành điều khiển tàu biển của Malayxia được chia ra làm
5 cấp độ: Mức độ thủy thủ thường; thủy thủ lành nghề; thủy thủ trưởng; sĩ quan
trực ca và sĩ quan quản lý ở mỗi một cấp độ có những yêu cầu tối thiểu phải đáp
ứng về công việc, về thực hiện thủ tục an toàn an ninh trên tàu, thực hiện công tác
bảo dưỡng, điều động tàu,thủ tục khẩn cấp và lập kế hoạch chuyến đi.
9
Bảng 1.1.Biểu đồ mô tả công việc ngành điều khiển tàu biển
10
11
Thuc hien thu Ha xuong cuu Phong chay chua Thuc hien cac ky Thuc hien so cuu Bao
ve
tuc an toan an sinh. Cap cuu
chay
tau
cap
02.0
02.0
02.08
L5
L1
L1
6
7
Thuc hien tu Ha xuong cuu Phong chay chua THuc hien cack y Thuc hien so cuu Bao ve Moi truong
tuc an toan an sinh/cap cuu
chua chay II
thuat cuu sinh khi bo tren tau I
bien II
ninh tren bien
tau II
(First Aid at Sea
STCW95)I
03
03.01
L2
03.02
L2
03.03
tau
cau
ca truc an toan
04
04.01
L1
04.02
L1
04.03
12
L1
04.04
L1
04.05
L2
Tro giup cong
viec lam hang
Tro giup van hanh
cac trang thiet bi tu
buong lai
05.03
L2
Dieu dong tau
Perform
Chartwork
Perform Chart Apply
Correcting
Navigation
Aids.
06.02
06.03
Perform
Compass
Work
06.0
1
06
L4
L2
05.05
L2
06.04
Tinh toan vi tri Thuc hien do Duy tri
va huong tren giai
dinh tau
bien
06.08 L4
06.09 L5
06.1 L5
0
Perform
Planning Stage
of
L4
on
Perform
Conduct
Execution and Briefing
monitoring
13
L4
2
07
L5
Procedure
L5
08.0
3
L5
08.0
4
L5
Ho tro tim
Phat dap tin
kiem cuu nan hieu cap cuu
tren bien
07.0
3
L4
Sinh viên của 2 trường Đại học Đào tạo 4 năm, học lý thuyết ở trường 3
năm, 1 năm cuối là học ngay ở tàu thực tập [23]. Sau khi ra trường là sinh viên
đảm nhận chức danh sỹ quan trên tàu.
Đối với những học sinh học ở trường Trung học Hàng hải, họ học 2 năm lý
thuyết ở trường, 6 tháng họ đi thực tập trên tàu của trường KIMFT, sau khi đi thực
tập 6 tháng ở tàu thực tập, họ liên hệ và phỏng vấn vào các công ty tàu biển. Nếu
phỏng vấn được thì họ thực tập tiếp trên tàu thuộc công ty vận tải biển 6 tháng và
15
sau đấy trở thành sỹ quan Hàng hải (hầu hết là các công ty vận tải biển nhận hết
các học sinh này, nếu học sinh nào học khá thì có thể thi tuyển vào những công ty
vận tải lớn).
1.2.5. Hệ thống các cơ sở Đào tạo, huấn luyện Hàng hải ở Việt Nam
Hiện nay, đội ngũ kỹ sư và sỹ quan thuyền viên (dân sự, quân sự) của nước
ta được Đào tạo, huấn luyện thông qua các trường Đào tạo đó là: Trường Đại học
Hàng hải Việt Nam; Trường Đại học Giao thông Vận tải thành phố Hồ Chí Minh;
Trường Cao đẳng Hàng hải I; Trường Cao đẳng nghề Bách nghệ Hải Phòng và một
số trường khác; Các công ty và tập đoàn Hàng hải trong nước thực hiện, thêm vào
đó là một số sinh viên các trường Hàng hải ở nước ngoài về .
Sự ban hành Bộ luật về tiêu chuẩn huấn luyện, cấp chứng chỉ chuyên môn
và đảm nhận chức danh thuyền viên trên tàu biển việt nam đã tạo đà cho công tác
đào tạo, huấn luyện Hàng hải nước ta chuyển biến rõ rệt. Công tác điều hành, quản
lý chặt chẽ hơn, đồng bộ và thống nhất trên toàn quốc.Các cơ sở đào tạo Hàng hải
có tiến bộ nhảy vọt về số lượng quy mô đào tạo ngày càng mở rộng, cơ sở vật chất
được bổ sung, đội ngũ giảng viên được nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp
vụ… góp phần quan trọng tăng cường nhân lực cho sự phát triển của nghành Hàng
hải tạo đà nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ơ Việt Nam, nghành Hàng hải dù đào tạo, huấn luyện theo hệ đại học, cao
thuyết
tập, thực hành
Tổng
số tiết
Số tiết
Tỷ lệ
Số tiết
Tỷ lệ
1
Đại học
54
3225
2433
(%)
75,44 657
(%)
24,56
Từ phân tích, đánh giá và so sánh về công tác Đào tạo – huấn luyện của một
số nước và Việt Nam ta thấy, công tác Đào tạo – huấn luyện Hàng hải của các quốc
gia trong khu vực và thế giới có những ưu điểm sau:
- Nội dung đào tạo luôn chú trọng đến các kỹ năng như ngoại ngữ; huấn luyện theo
mô hình chuẩn quốc tế, kỹ năng làm việc theo nhóm.
- Nội dung chương trình Đào tạo – huấn luyện có sự đa dạng, mềm dẻo, linh hoạt,
thống nhất và chuẩn mực trong quản lý, có sự chú trọng đến thời gian thực hành,
thực tập trên tàu.
- Công tác Đào tạo – huấn luyện ở các quốc gia này hầu hết tuân thủ theo các Công
ước quốc tế về Hàng hải. Nhưng có sự mềm dẻo trong từng cấp độ.
Xuất phát từ những lý do khách quan và chủ quan đã nêu trên. Tôi xin mạnh
dạn lựa chọn đề tài, sự lựa chọn ấy là đúng đắn, rất cấp thiết, phù hợp với xu thế
phát triển chung của ngành Hàng hải, đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi thực tiễn... Nó
sẽ giúp cho các cơ sở Đào tạo – huấn luyện Hàng hải có được bức tranh tổng thể
việc Đào tạo – huấn luyện Hàng hải nói chung và cử nhân Điều khiển tàu biển nói
riêng.
17
1.3.Kết luận
Trong chương 1 đề tài đã tập trung vào phân tích: Khái niệm về Đào tạo theo
luật giáo dục nghề nghiệp ; những ưu điểm của luật GDNN ; vai trò của người dạy
và người học; những vấn đề cần giải quyết để đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn
nhân lực Hàng hải ở Việt Nam hiện nay; phân tích công tác Đào tạo huấn luyện
Hàng hải ở các quốc gia trong khu vực, trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay.
Đó là cơ sở khoa học để đề tài triển khai xây dựng chương trình Đào tạo
ngành Điều khiển tàu biển hệ Cao đẳng nghề nghiệp ở Trường Cao đẳng Hàng hải
1nói riêng và ở Việt Nam nói chung.
18
bảo quản tàu và các trang thiết bị trên boong, thiết bị cứu sinh, thiết bị cứu hỏa;
19