LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn có đề tài: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng
dịch vụ Logistics của công ty cổ phần vận tải Mặt trời Bắc V.N” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của bất kỳ ai. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chính xác, chưa được công bố ở bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Khánh
i
LỜI CẢM ƠN
Sau gần 02 năm nghiên cứu, học tập tại lớp cao học chuyên ngành Quản lý
kinh tế của Viện đào tạo sau đại học – Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, tôi
được giao đề tài luận văn tốt nghiệp: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch
vụ Logistics của công ty cổ phần vận tải Mặt trời Bắc V.N”. Đến nay, luận văn tốt
nghiệp đã hoàn thành.
Trước tiên, tôi xin cảm ơn sự giảng dạy nhiệt tình của các giáo sư, tiến sỹ là
giảng viên thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế của Viện đào tạo sau đại học –
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, giúp tôi bổ sung và nâng cao kiến thức của
mình. Bên cạnh đó, tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ của Viện đào tạo sau đại học –
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam luôn tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học
tập, nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Hồng Thái là người
hướng dẫn khoa học đã dành nhiều thời gian tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện
tốt nhất để tôi có thêm kiến thức trong quá trình hoàn thiện luận văn. Tôi cũng xin
bày tỏ lòng cám ơn đến Ban lãnh đạo, đội ngũ ngân viên của Công ty cổ phần vận
NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG GIAO NHẬN VẬN TẢI . . 18
1.4 CHẤT LƯỢNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
LOGISTICS .................................................................................................. 28
1.5 KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS ... 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ LOGISTICS
TRONG GIAO NHẬN VẬN TẢI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI
MẶT TRỜI BẮC V.N .................................................................................... 39
2.1 TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI VIỆT NAM ..... 39
2.2 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI MẶT TRỜI
BẮC V.N ................................................................................................................ 48
2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TRONG GIAO NHẬN VẬN TẢI
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI MẶT TRỜI BẮC V.N TRONG NHỮNG
NĂM QUA ............................................................................................................ 50
iii
2.4 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN VẬN TẢI MẶT TRỜI BẮC V.N ........................................................ 57
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
LOGISTICS TRONG GIAO NHẬN VẬN TẢI CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN VẬN TẢI MẶT TRỜI BẮC V.N ...................................................... 72
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG GIAO NHẬN
VẬN TẢI BIỂN CỦA VIỆT NAM ...................................................................... 72
3.2 QUAN ĐIỂM VỀ ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS
TRONG GIAO NHẬN VẬN TẢI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI MẶT
TRỜI BẮC V.N ..................................................................................................... 80
3.3 MỘT SỐ GIÁI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ LOGISTICS
TRONG GIAO NHẬN VẬN TẢI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI MẶT
TRỜI BẮC V.N ..................................................................................................... 81
PARTY LOGISTISC
Người chuyên chở không có tàu
(NON-VESSEL OPERATING OF COMMON CARRIER)
Hệ thống thông quan điện tử tự động VNACCS
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số bảng
1.1
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
Tên bảng
Lợi ích từ hoạt động thuê ngoài dịch vụ logistics
So sánh dịch vụ logistics được cung cấp bởi các nhà cung
cấp logistics nước ngoài
Kết quả kinh doanh dịch vụ Logistics tại Công ty từ năm
2010 đến năm 2014
Thang đo các thành phần chất lượng dịch vụ giao nhận và sự
hài lòng
Hệ thống trang thiết bị bốc xếp và vận tải tính đến tháng
12/2014
Bảng tổng hợp lao động của công ty tính đến tháng 12 năm
Các yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến hoạt động logistics
27
2.1
Nhóm năm hoạt động logistics được thuê ngoài nhiều nhất
tại VN
39
2.2
Các hoạt động logistics sẽ tiếp tục được thuê ngoài
40
2.3
Phần trăm thuê ngoài theo ngành và theo loại hình công ty
40
2.4
Các công đoạn logistics đầu ra
44
Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng
sản phẩm dịch vụ.
Công ty cổ phần vận tải mặt trời Bắc V.N là một trong những công ty hoạt
động giao nhận ở Việt Nam những năm qua. Có thể nói đây là một trong những
công ty có chất lượng dịch vụ tốt tuy nhiên vẫn còn những hạn chế cần khắc phục.
Chính vì vậy việc học viên lựa chọn đề tài : “Một số giải pháp nâng cao chất lượng
dịch vụ Logistics của công ty cổ phần vận tải Mặt trời Bắc V.N” làm luận văn thạc
sỹ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực.
1
2. Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở lý luận về Logistics trong hoạt động giao nhận vận tải, luận văn
tập trung đi sâu nghiên cứu sự phát triển dịch vụ và chất lượng dịch vụ Logistics
của công ty trong những năm qua để thấy được thực trạng với những thành công và
hạn chế nhằm tìm ra những giải pháp thúc đẩy phát triển dịch vụ và nâng cao chất
lượng dịch vụ Logistics của công ty đáp ứng nhu cầu về chất lượng và khối lượng
của khách hàng trong hoạt động giao nhận vận tải.
- Trên cơ sở thực trạng phát triển dịch vụ Logistics và nhu cầu, xu thế phát
triển hoạt động Logistics trong giao nhận vận tải của công ty. Luận văn đề xuất giải
pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ Logistics của công ty trong những
năm tương lai.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận hệ thống hóa về Logistics trong hoạt động giao nhận vận
tải, luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu chất lượng dịch vụ Logistics của công ty
cổ phần vận tải Mặt trời Bắc V.N trong những năm qua.
- Phạm vi nghiên cứu:
Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động và chất lượng dịch vụ logisctisc
trong giao nhận vận tải của công ty cổ phần vận tải Mặt trời Bắc V.N trên địa bàn
1.1 SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LOGISTICS
1.1.1 Khái niệm về Logistics
Thuật ngữ Logistics đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của thế giới.
Logistics phát triển quá nhanh chóng, trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, ở nhiều
nước, nên có rất nhiều tổ chức, cá nhân, tác giả tham gia nghiên cứu, đưa ra nhiều
định nghĩa khác nhau, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về
logistics. Có rất nhiều tài liệu đưa ra định nghĩa về khái niệm này. Mỗi định nghĩa
đều có một cách tiếp cận khác nhau, một góc nhìn khác nhau, và việc nghiên cứu,
tìm hiểu tất cả những định nghĩa điển hình sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện
và đầy đủ hơn về logistics.
Trong giai đoạn đầu mới xuất hiện thuật ngữ logistics, người ta đưa ra khái
niệm như sau: “Logistics là hoạt động quản lý quá trình vận chuyển và lưu kho
của: nguyên vật liệu đi vào xí nghiệp; hàng hóa, bán thành phẩm trong quá trình
sản xuất; sản phẩm cuối cùng đi ra khỏi xí nghiệp” (logistics is managing the
movement and storage of: material into the enterprise; Goods in process in the
enterprise; Finished goods from enterprise). (GS.TS Hoàng Văn Châu 2009)
Khái niệm trên đã nêu ra đúng quy trình của Logistics nhưng theo quan điểm
hiện đại về cách tiếp cận logistics hợp nhất thì vẫn có những hạn chế. Khái niệm
này chưa đề cập đến quá trình logistics ngược bao gồm các hoạt động thu hồi sản
phẩm lỗi mốt hay phế phẩm tái sản xuất từ người tiêu dùng về nhà máy sản xuất.
Ngoài ra khái niệm trên chưa đề cập tới yếu tố thông tin, theo quan điểm hiện đại,
đều thuộc logistics. Theo khái niệm trên thì logistics chỉ bao gồm quản lý, vận
chuyển và lưu kho. Do vậy đây vẫn chưa phải là một khái niệm đầy đủ
Sau này, khi logistics phát triển, có rất nhiều định nghĩa về logistics đã được
đưa ra, chẳng hạn, Edward H. Frazelle, tác giả cuốn “Supply chain strategy” đưa ra
một định nghĩa rất đơn giản về logistics: Logistics is the flow of material,
information, and money between consumers and suppliers”.
4
động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm,
đó là hoạt động quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua
5
quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng với
mục đích giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với thời gian ngắn nhất
trong quá trình vận động của nguyên liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối
hàng hóa một cách kịp thời (Just In Time). Chính vì vậy, khi nói đến logistics bao
giờ người ta cũng nói đến một chuỗi hệ thống các dịch vụ (logistics system chain).
Có thể khái quát logistics theo sơ đồ sau đây:
Điểm cung
cấp nguyên
vật liệu –
Raw Material
Kho dự trữ
nguyên liệu –
Raw Material
Storage
Sản xuất Manufacturing
Kho dự trữ
sản phẩm –
Thị trường
tiêu dùng
Finished
Thuật ngữ “logistics” là một thuật ngữ dùng trong quân đội. Logistics được
coi là một nhánh trong nghệ thuật chiến đấu, đó là việc vận chuyển và cung cấp
trang thiết bị, lương thực, thực phẩm.... đúng nơi, đúng lúc khi cần thiết cho lực
lượng tham gia chiến đấu. Như chúng ta đã biết, trong chiến tranh, đặc biệt là chiến
tranh thế giới lần thứ hai, rất nhiều kỹ năng về logistics được biết đến. Tuy nhiên
trong giai đầu thời kỳ hậu chiến, các nhà quản trị marketing chú ý tới việc đáp ứng
những nhu cầu hàng hóa sau chiến tranh. Phải đến thời kỳ suy thoái kinh tế và
những năm 50 của thế kỷ XX thì họ mới bắt đầu nghiên cứu mạng lưới phân phối
vật chất. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1958 và việc thu hẹp lợi nhuận đã thúc
6
đẩy các doanh nghiệp tìm kiếm các hệ thống kiểm soát chi phí để đạt hiệu quả hơn.
Và hầu như đồng thời, rất nhiều doanh nghiệp nhận ra rằng “phân phối vật chất”
và “logistics” là những vấn đề chưa được nghiên cứu kỹ và chưa thực sự kết hợp
với nhau để kiểm soát và giảm tối đa chi phí. Đến ngày nay, thuật ngữ “logistics”
đã được phát triển, mở rộng và được hiểu với nghĩa là quản lý “management”
Theo Ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (Economic and
Social Commission for Asia and Pacific – ESCAP), quá trình phát triển của
logistics được chia thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Phân phối vật chất (Physical Distribution)
Giai đoạn này bắt đầu từ những năm 60-70 của thế kỷ XX. Thời kỳ này,
người ta quan tâm đến quản lý một cách có hệ thống các hoạt động liên quan với
nhau nhằm đảm bảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách hiệu
quả nhất. Giai đoạn này bao gồm các hoạt động nghiệp vụ sau: Vận tải, phân phối,
bảo quản hàng hoá, quản lý kho bãi, bao bì, nhãn mác, đóng gói. Những hoạt động
này gọi là phân phối vật chất
- Giai đoạn 2: Hệ thống logistics (Logistics system)
Bắt đầu vào thập niên 80-90 của thế kỷ XX với điểm nổi bật chính là các
công ty kết hợp hai mặt: Đầu vào (cung ứng vật tư) với đầu ra (phân phối sản
vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho hoạt động đơn lẻ trong
chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán, mua
bảo hiểm…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng. Đặc điểm nổi bật của loại hình này
đó là 2PL chỉ cung cấp các hoạt động đơn lẻ, chưa tích hợp thành chuỗi hoạt động
logistics. Loại hình này bao gồm: các hãng vận tải đường biển, đường bộ, đường
sông, đường hàng không, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kho bãi, kê khai
hải quan, trung gian thanh toán.
Logistics bên thứ ba (3PL - Third Party Logistics): là người thay mặt cho
chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng, ví
dụ như thay mặt người gửi hàng thực hiện các thủ tục xuất nhập và vận chuyển nội
địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyển
hàng tới địa điểm đến qui định… Do đó dịch vụ logistics bên thứ ba bao gồm
chuỗi dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử
lý thông tin…và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng. Sự
hợp tác giữa chủ hàng và công ty bên ngoài là một mối quan hệ liên tục có chủ
định. Như vậy có thể hiểu là nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ ba là người có thể
cung cấp một dịch vụ tích hợp trọn gói cho khách hàng (one stop shop logistics
8
service). Tuy nhiên không phải lúc nào khách hàng cũng sẵn sàng outsource hết
các hoạt động logistics của mình. Thị trường cho các 3PL người ta gọi là thị trường
3PL hoặc thị trường contract logistics (chỉ các quan hệ hợp đồng dài hạn giữa 3PL
và khách hàng), để phân biệt với các thị trường chuyên biệt như thị trường giao
nhận, thị trường vận tải biển, vận tải đường bộ.
Logistics bên thứ tư (4PL - Fourth Party Logistics) là người tích hợp, gắn kết
các nguồn lực tiềm năng và cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật của mình với các tổ
chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics.
Logistics bên thứ tư chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp
các giải pháp dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải…
chủ động lên kế hoạch kinh doanh hợp lý, thực hiện chiến lược kết hợp nhằm đạt
mục tiêu chung của cả doanh nghiệp.
Logistics đầu ra (Outbound logistics): là các dịch vụ đảm bảo cung cấp
thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi
phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Đầu ra luôn là yếu tố quan
trọng nhất trong tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, vai trò của
logistics đầu ra luôn được các doanh nghiệp đề cao và nghiên cứu thực hiện với
mục đích hướng tới đem lại hiệu quả tối đa cho doanh nghiệp.
Logistics ngược hay Logistics thu hồi (reverse logistics): Ngày nay, với
những yêu cầu ngày càng chặt chẽ về bảo vệ môi trường từ các nhà quản lý và cả
người tiêu dùng đòi hỏi việc quản lý và thu hồi tái chế hoặc tái sử dụng các yếu tố
phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng như rác, phế liệu, phế phẩm,
phụ phẩm… Logistics thu hồi là các dịch vụ được cung ứng đảm bảo hiệu quả cho
quá trình thu hồi trở về các phế liệu, phế phẩm trên để tái chế hoặc xử lý.
1.1.3.3 Phân loại theo đối tượng hàng hóa
Mỗi đối tượng hàng hóa cụ thể sẽ có cách thức bảo quản, vận chuyển quản
lý hàng hóa khác nhau phù hợp với đặc thù của mỗi ngành hàng, loại hàng. Chẳng
hạn:
- Logistics ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG – Fast Moving Consumer
Goods): Với FCMG, yêu cầu quan trọng nhất là đảm bảo thời gian giao hàng.
- Logistics ngành hóa chất (Chemical Logistics) và logistics dầu khí
(Petroleum Logistics) yêu cầu cách thức vận chuyển, bảo quản phải an toàn…
- Logistics ngành ô tô (Automotive Logistics): ngành này đòi hỏi sự liên kết
phối hợp nhịp nhàng giữa các nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng riêng lẻ, đảm bảo
10
tính liên tục giữa các khâu sản xuất, đặc biệt quan trong đó là việc dự trữ trong kho
và phân phối phụ tùng thay thế…
11
tin điện tử để theo dõi, kiểm tra,… Như vậy, người giao nhận vận tải trở thành
người cung cấp dịch vụ logistics.
- Thứ năm, logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương
thức: trước đây, hàng hóa đi theo hình thức hàng lẻ từ nước xuất khẩu sang nước
nhập khẩu và trải qua nhiều phương tiện vận tải khác nhau, vì vậy xác suất rủi ro
mất mát đối với hàng hóa là rất cao, và người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng với
nhiều người vận tải khác nhau mà trách nhiệm của họ chỉ giới hạn trong chặng
đường hay dịch vụ mà họ đảm nhiệm. Tới những năm 60-70 của thế kỷ hai mươi,
cuộc cách mạng container trong ngành vận tải đã đảm bảo an toàn và độ tin cậy
trong vận chuyển hàng hóa, là tiền đề và cơ sở cho sự ra đời và phát triển vận tải
đa phương thức. Khi vận tải đa phương thức ra đời, chủ hàng chỉ phải ký một hợp
đồng duy nhất với người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO-Multimodal
Transport Operator). MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ việc vận
chuyển hàng hóa từ khi nhận hàng cho tới khi giao hàng bằng một chứng từ vận tải
duy nhất cho dù anh ta không phải là người chuyên chở thực tế. Như vậy, MTO ở
đây chính là người cung cấp dịch vụ logistics.
1.2.2 Vai trò của Logistics
Kể từ khi xuất hiện cho đến nay, logistics đóng một vai trò quan trọng đối
với nền kinh tế, các doanh nghiệp sản xuất. Không những vậy, với sự phát triển của
khoa học kỹ thuật, ngày nay logistics còn đóng một vai trò quan trọng đối với các
doanh nghiệp giao nhận vận tải trong việc hoàn thiện hơn dịch vụ của mình.
1.2.2.1 Đối với nền kinh tế
Xét dưới góc độ tổng thể, logistics là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần
như toàn bộ quá trình sản xuất lưu thông và phân phối hàng hóa. Hoạt động
logistics tốt hay không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của nền kinh tế - xã
hội. Do đó, logistics đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế mỗi quốc gia
cũng như nền kinh tế toàn cầu.
nhỏ cho các doanh nghiệp sản xuất, dù doanh nghiệp đó ở các nước phát triển hay
kém phát triển. Ví dụ, theo bảng thống kê dưới đây đã minh chứng cho điều đó,
các doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ logistics ở Châu Á Thái Bình Dương trung
bình đã giảm được 12% chi phí logistics so với doanh nghiệp không đi thuê. Hơn
nữa khi thuê ngoài, doanh nghiệp không phải phân tán vốn đầu tư cho hoạt động
logistics như kho bãi, phương tiện vận tải, xếp dỡ trong kho … nhờ đó mà doanh
nghiệp giảm được chi phí cố định là 17% và dành nguồn lực này đầu tư vào sản
xuất chuyên môn của doanh nghiệp mình, hạ giá thành sản phẩm. Về thời gian, nếu
13
như không thuê ngoài dịch vụ logistics, chu kỳ trung bình của một đơn hàng là
13,8 ngày. Nếu doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ logistics, chu kỳ trung bình của
một đơn hàng giảm xuống còn 9,7 ngày. Rõ ràng, với việc thuê ngoài dịch vụ
logistics đã góp phần làm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả quản lý, từ đó tăng khả
năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Bảng 1.1: Lợi ích từ hoạt động thuê ngoài dịch vụ logistics
Tất cả
Lợi ích
Giảm chi phí logistics (%)
Giảm chi phí cố định dành cho
logistics (%)
Chu kỳ trung
các
Bắc
Châu
20
17
25
Từ
14
17,4
12,7
13,8
10,2
(số ngày)
bình của một
Đến
10,3
13,1
10,2
9,7
6,8
đơn hàng
(số ngày)
Nguồn: Capemini, Geogia Institute of Technology, SAP and DHL, The State of
Logistics Outsourcing – 2007 third-party logistics, 2007
Một ví dụ khác, ở Việt Nam theo khảo sát tháng 03/2008 cúa công ty SCM
thì các doanh nghiệp thuê ngoài bình quân giảm chi phí khoảng 13%, giảm chi phí
cố định dành cho logistics là 11%, giảm vòng quay đơn hàng là 6 ngày.
- Hệ thống logistics góp phần giải quyết những vấn đề nảy sinh từ sự phân
công lao động quốc tế do quá trình toàn cầu hóa tạo ra.
nghiệp bán sản phẩm với giá cạnh tranh (price). Thêm vào đó, thông qua dịch vụ
khách hàng, hoạt động logistics gắn kết với hoạt động marketing, hỗ trợ cung cấp
sản phẩm và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng cũng như quá trình thu hồi
phụ liệu và sản phẩm (logistic reserve)
- Dịch vụ logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu
chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh, đặc biệt trong buôn bán và vận tải quốc tế.
Thật vậy, một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại
giấy tờ, chứng từ. Theo ước tính của Liên Hiệp Quốc, chi phí giấy tờ cho giao dịch
thương mại trên thế giới hàng năm đã vượt qua 420 tỷ USD. Theo các chuyên gia
15
buôn bán quốc tế, chi phí cho các giấy tờ, chứng từ rườm rà hàng năm chiếm hơn
10% kim ngạch mậu dịch quốc tế, ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động thương
mại quốc tế.
Bằng việc cung cấp các dịch vụ đa dạng trọn gói, logistics đã giúp giảm chi
phí giấy tờ một cách đáng kể, đồng thời, giúp nâng cấp và chuẩn hóa chứng từ,
giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, dẫn đến nâng cao
hiệu quả thương mại quốc tế.
1.2.2.3 Đối với các doanh nghiệp GNVT
- Trước hết, logistics cho phép các nhà kinh doanh dịch vụ GNVT hoàn
thiện hơn dịch vụ của mình.
Có thể thấy rằng ứng dụng logistics giúp các doanh nghiệp GNVT hoàn
thiện dịch vụ của mình theo hai phương diện sau: thứ nhất, các doanh nghiệp kinh
doanh dịch vụ GNVT cũng là một doanh nghiệp bình thường như các doanh
nghiệp khác. Do đó, việc ứng dụng logistics sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu
quả quản lý. Thứ hai, ứng dụng logistics, đặc biệt trong giai đoạn phát triển mạnh
của công nghệ còn giúp các doanh nghiệp GNVT hoàn thiện các dịch vụ GNVT
vốn có của doanh nghiệp mình, đáp ứng các yêu cầu về đúng thời gian (right time),
đúng địa điểm (right place).
của mình thông qua việc cung cấp dịch vụ logistics với tư cách của một công ty
3PL thực thụ. Ví dụ điển hình cho trường hợp này đó là Maersk Logistics, một
công ty cung cấp dịch vụ logistics của Maersk Line, vốn ban đầu là công ty vận tải
biển; APL Logistics (một công ty của APL Line-NOL)…
- Từ hoạt động kinh doanh dịch vụ kho bãi: cũng tương tự như trường hợp
3PL được hình thành từ hoạt động vận tải, chỉ khác họ là những công ty kinh
doanh dịch vụ cho thuê kho bãi.
- Từ hoạt động giao nhận, trung gian môi giới: các công ty giao nhận vận tải
ví dụ như Kuehne-Nagel mở thêm bộ phận contract logistics.
- Từ hoạt động quản lý và khai thác thông tin: là các công ty hoặc nhà cung
cấp công nghệ thông tin.
- Từ chính khách hàng: một số công ty đã phát triển khả năng tổ chức và ứng
dụng logistics đạt trình độ cao. Khi đó, họ chào bán các dịch vụ logistics này cho
các công ty khác.
1.3.2 Hệ thống dịch vụ do các LSP cung cấp
Dịch vụ logistics do các LSP cung cấp ngày càng hiện đại và phong phú,
hướng tới thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh việc cung cấp các
nhóm dịch vụ cơ bản như: giao nhận, vận chuyển lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải
17
quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, kẻ ký mã hiệu,
… các công ty LSP còn tăng khả năng cạnh tranh của mình bằng việc cung cấp các
nhóm dịch vụ mang tính chuyên biệt cao, được thiết kế dành riêng cho từng đối
tượng khách hàng. Các dịch vụ này bao gồm các dịch vụ chủ yếu sau:
- Nhóm dịch vụ thiết kế, hoạch định chiến lược logistics cho các doanh
nghiệp (designing/planning): Ngày nay, sự cạnh tranh không còn diễn ra giữa hoạt
động của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác mà là sự đối đầu giữa chuỗi
cung ứng của doanh nghiệp này với giữa chuỗi cung ứng của doanh nghiệp khác.
Do đó xu hướng xây dựng chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp gia tăng mạnh trong