1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ rất xa xưa con người đã ý thức được vai trò quan trọng của răng.
Răng không những quyết định chức năng ăn nhai, nó còn đóng vai trò quan
trọng đối với thẩm mỹ và phát âm của con người. Mất răng cũng được coi là
một tình trạng bệnh lý có ảnh hưởng tại chỗ và toàn thân. Nếu như sâu răng là
nguyên nhân gây mất răng chủ yếu ở người trẻ thì bệnh nha chu là nguyên
nhân chủ yếu gây mất răng ở người già. Mặc dù công tác chăm sóc răng
miệng của nước ta đã được quan tâm nhưng tỷ lệ mất răng còn tương đối cao
vì thế mà chỉ định phục hình cho từng răng mất là rất cần thiết.
Ngày nay do sự hiểu biết về sức khoẻ răng miệng được nâng cao, đời
sống kinh tế của nhân dân cũng khá hơn trước nên nhu cầu điều trị phục
hình lại các răng mất ngày càng nhiều, theo tác giả Võ Thế Quang (1990)
[1]. Người có nhu cầu làm răng giả ở lứa tuổi trên 45 tuổi chiếm tỷ lệ 45%.
Xử trí làm phục hình mất răng có hai loại: Phục hình tháo lắp và Phục hình
cố định. Đứng trước một bệnh nhân mất răng, việc lựa chọn loại phục hình
nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Tuổi, giới, tình trạng các răng còn
lại, tình trạng vùng quanh răng, tình trạng vệ sinh răng miệng, điều kiện kinh
tế của bệnh nhân. Phục hình cố định tạo cho bệnh nhân sự thoải mái, dễ
chịu, dễ thích nghi với việc mang răng giả trong miệng, phục hồi chức năng
ăn nhai và thẩm mỹ tốt.
Phục hình cố định bao gồm các loại: inlay-onlay, chụp răng, răng chốt,
cầu răng, cấy ghép Implant. Phục hình cố định đã được thực hành từ lâu
nhưng còn nhiều vấn đề chưa được đi sâu nghiên cứu như vấn đề chịu lực, chỉ
định cụ thể cho từng trường hợp, viêm nhiễm sau khi lắp cầu chụp, viêm tủy
răng trụ, sâu răng… Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn
tại mà người ta có thể quan sát được là độ khít sát của phục hình. Độ khít sát
2
Có nhiều nguyên nhân gây mất răng, người ta chia làm những loại sau:
- Bệnh lý về răng và quanh răng: sâu răng, bệnh lý tủy răng, cuống răng,
viêm quanh răng, sang chấn khớp cắn.
- Tai nạn sinh hoạt, giao thông.
Theo Tống Minh Sơn, có 72% tổn thương răng cửa do chấn thương [2].
- Do bẩm sinh.
- Nhổ răng do nhu cầu điều trị bệnh (tia xạ, nắn hàm).
1.1.2. Tác hại của mất răng
1.1.2.1. Tại chỗ
Mới mất răng: gây khó nhai, đau khi ăn nhai đè xuống lợi vùng mất răng.
Lâu dài: gây xô lệch các răng kế cận, răng đối diện có hiện tượng Popov
làm biến đổi khớp cắn, biến dạng đường cong sinh lý của cung răng, tạo điều
kiện thuận lợi để hình thành mảng bám răng, cao răng, gây viêm quanh rănglung lay răng [3].
- Tiêu xương hàm, rối loạn chức năng cơ và khớp TDH.
1.1.2.2. Toàn thân
Do rối loạn chức năng nhai gây rối loạn tiêu hóa dẫn tới ảnh hưởng tới
sức khỏe.
4
Ảnh hưởng đến phát âm, làm bênh nhân bị mặc cảm, ngại tiếp xúc xã
hội, ảnh hưởng đến công tác, nghề nghiệp.
Ảnh hưởng tới thẩm mỹ, mất răng gây hóp má, nếu mất răng không cân
đối gây lệch mặt, mất răng cửa gây sập môi, khi mất răng nhiều cả hai hàm
nếu không còn điểm chạm gây thấp tầng mặt dưới, tất cả yếu điểm trên đều
ảnh hưởng đến tâm lý con người làm bệnh nhân ngại giao tiếp.
1.1.3. Phân loại mất răng
Trong một nghiên cứu toán học 1942 Cunmer đã thống kê được hơn
113.000 kiểu mất răng khác nhau ở cả hàm trên và dưới [4], [5].
12
0,07
6,66%
15
0,18
10,33%
35 - 44
3,49
68,66%
1.1.5. Hướng điều trị mất răng
Để phục hình lại các răng đã mất từ lâu người ta đã có hai phương pháp
đó là phục hình tháo lắp và phục hình cố định. Tất cả các loại phục hình đều
nhằm mục đích đáp ứng được chức năng ăn nhai, thẩm mỹ và bảo vệ các răng
còn lại trên cung hàm và không gây hại cho tổ chức quanh răng.
Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển người ta đã tiến hành cấy
ghép Implant.
1.2. PHỤC HÌNH CỐ ĐỊNH
1.2.1. Vài nét lịch sử về phục hình răng cố định
- Phục hình mất răng được thực hành từ rất lâu. Trên một sọ người Eturic
1.2.2.1. Inlay, Onlay, Overlay
Hình 1.1. Inlay, onlay [13]
Inlay là một phục hình răng đặt bên trong thân răng, bao bọc bởi tổ chức
mô răng, còn được gọi là phục hình bên trong thân răng. Inlay thường được
đúc bằng kim loại, sứ hoặc composite... [5]
Trong phục hình răng cố định người ta sử dụng Inlay kim loại để làm
phần giữ cho cầu răng cố định loại ngắt lực.
Các inlay kim loại có thêm các chốt lưu còn được gọi là pinlay.
Onlay là một biến thể của inlay, có phần mặt nhai bao phủ cả mặt nhai
của thân răng.
Ở mặt trong các răng cửa và răng nanh các onlay có các bậc và chốt lưu
còn được gọi là pinledge, hay là biến thể của mão ¾.
1.2.2.2. Chụp răng
Là một chụp có hình dạng thân răng phục hồi toàn phần hoặc một phần
răng trên một răng riêng rẽ sau khi răng này được mài toàn phần hoặc một
phần tuỳ theo loại chụp được chỉ định làm.
8
Chụp toàn diện kim loại [5]
Hình 1.2. Chụp toàn diện kim loại [13]
Loại chụp này bao phủ toàn thể 5 mặt của thân răng. Chụp được
làm bằng kim loại dùng để bao bọc một răng riêng rẽ hay làm phần giữ
cho một cầu răng.
Chỉ định
Dùng để che chở và tái tạo một thân răng bị sâu lớn hoặc vỡ lớn do
chấn thương đến mức độ không còn có thể hàn răng chắc.
Răng bị nhiễm màu mà không trám thẩm mỹ được.
Răng có hình dạng bất thường mà không trám thẩm mỹ được.
10
Răng bị xoay lệch không chỉnh hình được, không trám thẩm mỹ được.
Thân răng bị nứt.
Răng trước có sức nhai mạnh, sẽ không bền nếu làm chụp Jacket.
Dùng để nâng cao khớp cắn.
Chống chỉ định
Răng sống có buồng tuỷ lớn.
Răng trước có kích thước ngoài – trong nhỏ.
Thân răng có chiều cao quá thấp.
Chụp từng phần [5]
Hình 1.4. Chụp từng phần [13]
Loại chụp này làm bằng kim loại bao gồm 3 trong 4 mặt của răng cửa,
răng nanh, 4 trong 5 mặt của các răng cối lớn.
Mặt răng không có kim loại bao bọc thường là mặt ngoài. Mão này
thường được gọi là chụp 3/4 hay chụp 4/5.
Chỉ định
Răng còn tuỷ sống.
Bệnh nhân có mô răng tốt.
Vệ sinh răng miệng tốt.
11
Thân răng phát triển đầy đủ về chiều cao, ngoài trong, gần xa để có
Thân răng bị bể góc mà không trám được.
Thân răng có hình dạng bất thường không trám thẩm mỹ được.
Thân răng bị thiểu sản men, dị trưởng không trám thẩm mỹ được.
Thân răng bị mòn, gãy cạnh cắn.
Răng bị xoay lệch không thẩm mỹ mà không chỉnh hình được hay
trám thẩm mỹ được.
Chống chỉ định
Răng có buồng tuỷ lớn.
Thân răng quá thấp.
Thân răng trước có kích thước ngoài trong nhỏ.
Răng có cingulum quá thấp.
Răng mang móc cho hàm giả tháo lắp.
13
Chụp kim loại phủ sứ [5]
Hình 1.6. Chụp kim loại phủ sứ [13]
Là chụp toàn diện bằng kim loại được bao phủ toàn bộ bên ngoài bằng sứ.
Chỉ định
Răng còn tuỷ sống
Răng cửa:
Răng có buồng tuỷ nhỏ và không quá nhạy cảm.
Răng có chiều cao thân răng trung bình hoặc cao.
Khớp cắn bình thường thì dùng kiểu chụp kim loại phủ sứ.
Khớp cắn sâu thì dùng chụp kim loại cẩn mặt sứ.
Khớp cắn đối đầu thì dùng kiểu chụp cẩn mặt sứ hoặc chụp kim loại
phủ sứ.
Răng hàm:
15
Chỉ định
Thân răng bị huỷ hoại lớn bởi sâu răng.
Thân răng bị gãy vỡ lớn do chấn thương.
Thân răng bị dị trưởng, thiểu sản men ngà nhiều, tuỷ chết, không
trám thẩm mỹ hay dùng chụp jacket được.
Thân răng bị mòn cạnh cắn nhiều.
Thân răng hơi lệch vị trí bình thường mà không chỉnh hình răng hoặc
trám thẩm mỹ được.
Chân răng phát triển bình thường được chữa nội nha tốt.
Mô nha chu lành mạnh.
Có răng sau và khớp cắn thăng bằng.
Chống chỉ định
Chân răng bị tổn thương nhỏ và răng còn tuỷ sống lành mạnh.
Thân răng bị thiểu sản men ngà, mòn ngót cổ răng ít và tuỷ răng còn sống.
Chân răng và mô nha chu bị nhiễm trùng.
Hình thể chân răng quá cong, gãy khúc, quá ngắn, dẹp mỏng.
Mô cứng chân răng mềm yếu hoặc hoá vôi nhiều.
Ống tuỷ quá rộng do sâu răng hay do nội tiêu.
Mặt chân răng nằm quá sâu dưới rãnh lợi.
Mất răng sau chưa phục hình.
16
1.2.2.3. Cầu răng
Hình 1.8. Cầu răng [13]
Tiết diện chân răng rộng, hình bầu dục thuận lợi hơn hình tròn.
Tỷ lệ thân/chân nhỏ hơn hoặc bằng 1.
Chống chỉ định
Bệnh nhân bị đa sâu răng, chất lượng men răng kém.
Khớp cắn không thuận lợi, không có răng bên đối xứng hoặc mất
răng phía trong cầu răng sẽ làm.
Khoảng mất răng quá dài mà không có đủ số răng trụ.
Cầu răng ở vùng cung răng cong mà không đủ răng trụ phía bên đối
kháng cân bằng.
Răng trụ có thân răng ngắn, nhỏ.
Răng nghiêng nhiều.
18
Răng chết tuỷ chưa được chữa nội nha.
Răng có bệnh nha chu hay mô nha chu suy yếu, lợi tụt nhiều, xương
ổ răng tiêu nhiều, tỷ lệ thân/chân răng lớn hơn, lộ vùng chẽ răng.
1.3. ĐƯỜNG HOÀN TẤT
1.3.1. Định nghĩa
Đường hoàn tất là đường mài quanh cùi răng phía lợi, là nơi chấm dứt
phần mài của cùi răng, là nơi mà cạnh chụp răng sẽ ôm khít vào.
Tùy theo loại phục hình, tùy theo tình trạng răng mài, tùy theo vật liệu
phục hình mà người ta chọn đường hoàn tất thích hợp.
1.3.2. Các kiểu đường hoàn tất
Bờ vai
Bờ cong
Đường hoàn tất trên cùi răng có thể được mài dưới lợi, ngang lợi hay
trên lợi tùy theo trường hợp lâm sàng, vị trí đường hoàn tất được làm đúng chỉ
định, đúng kĩ thuật đều tốt như nhau nghĩa là vẫn bảo vệ được răng và mô nha
chu được lành mạnh, phục hình được bền vững.
Chỉ định đường hoàn tất dưới lợi:
- Mô răng yếu, dễ bị sâu răng.
20
- Thân răng có chiều cao quá thấp.
- Phục hình răng trước (mặt ngoài).
- Răng có hình dạng, chiều hướng và vị trí bình thường để việc mài các
mặt đứng không quá nhiều làm hại đến tủy răng.
- Răng có hình dạng, chiều hướng bất thường nhưng đã được lấy tủy và
tái tạo cùi răng tốt.
Chỉ định đường hoàn tất trên lợi:
- Thể trạng nhạy cảm với bệnh nha chu.
- Loại răng đề kháng với sâu răng tốt.
- Thân răng có chiều cao bình thường hay cao.
- Phục hình cho răng trong hay mặt trong các răng trước.
- Thân răng có vùng cổ răng eo thắt nhiều.
- Răng nghiêng mà việc mài đường hoàn tất dưới nướu làm mất nhiều
ngà răng và hại tủy.
- Răng bị tụt lợi đến đường cổ răng và dưới cổ răng.
Chỉ định đường hoàn tất ngang lợi:
- Thực hiện ở mặt bên hay mặt trong của những bệnh nhân trẻ, rãnh lợi
cạn. Loại này cũng được làm cho những mão răng chuyển tiếp.
Trên cùng một cùi răng có thể chỉ một vị trí đường hoàn tất, có thể hai
hoặc cả ba vị trí đường hoàn tất tùy theo trường hợp.
22
- Theo Nguyễn Thị Kim Ngân (2007) khi nghiên cứu về phục hình
toàn sứ Alumina cho 29 bệnh nhân với 53 chụp đơn, theo dõi sau 6 – 9 tháng
tỷ lệ tồn tại của phục hình là 100% [19].
- Nghiên cứu của Lương Thị Nghĩa Vân (2009) sau 6 tháng theo dõi
đối với chụp sứ - kim loại quý. Trong số 20 bệnh nhân với 38 chụp đơn không
có chụp nào bị nứt vỡ, màu sắc răng giả không thay đổi, màu sắc đường viền
lợi thay đổi không đáng kể, tiếp xúc bên tốt, không có răng trụ nào lung lay,
chức năng ăn nhai tốt, có một răng bị viêm lợi nhẹ, X quang răng trụ không
có răng nào biểu hiện bệnh lý vùng quanh răng hoặc cuống răng [20].
1.4.2. Nghiên cứu trên thế giới
- Valderhaug J, Ellingsen JE and Jokstad A (1993) nghiên cứu dọc 15
năm 102 bệnh nhân với 108 cầu răng. Sau 5 năm, 10 năm và 15 năm số bệnh
nhân khám lại lần lượt là 88, 71, và 55 bệnh nhân. Số lượng mảng bám không
khác nhau giữa răng trụ mang chụp và răng chứng, trong khi chỉ số lợi độ 2 và
3 xuất hiện thường xuyên ở răng mang chụp hơn là răng chứng trong suốt thời
gian theo dõi. Độ sâu trung bình của rãnh lợi/ túi quanh răng tăng nhẹ ở những
răng trụ cầu mang chụp và không thay đổi ở răng chứng. Tổn thương sâu răng
phát hiện ở 3,3%, 10% và 12% bề mặt răng trụ cầu lần lượt vào năm thứ 5,
năm thứ 10 và năm thứ 15 sau điều trị. Không có sự khác nhau có ý nghĩa
thống kê trong sự mất xương giữa răng chứng và răng mang chụp [21].
- Steyern P. và cộng sự (2001) nghiên cứu trên 18 bệnh nhân được
phục hình với 20 cầu răng 3 đơn vị sứ toàn bộ ở vùng răng sau trong 5 năm.
Kết quả là 90% cầu răng không có sai sót ở bất cứ lần khám nào và hoạt động
chức năng tốt sau 5 năm. Không có tổn thương sâu răng hoặc dấu hiệu nào
của viêm lợi hoặc viêm quanh răng nặng ở răng trụ cầu được ghi nhận [22].
23
- Sailer I, Gottner J, Känel (2009) nghiên cứu 53 bệnh nhân với 67 cầu
răng (36 cầu răng sứ toàn phần, 31 cầu răng sứ kim loại) sau 3 năm điều trị.
Tỷ lệ thành công của cả hai nhóm là 100%. Có 25% cầu răng sứ toàn phần và
19,4% cầu răng sứ - kim loại có hiện tượng mẻ sứ nhẹ. Có duy nhất một cầu
sứ toàn phần bị gãy (C: 8,6%; D: 2,8% theo tiêu chuẩn United States Public
Health Service). Có một vài bệnh nhân phàn nàn về sinh học. Cả hai nhóm
cầu răng có giá trị về các thông số sinh học giống nhau: độ sâu rãnh/ túi lợi,
mất bám dính và chảy máu lợi khi thăm khám [27].
- Maged K. Etman (2010), đánh giá 90 chụp răng sau 3 năm phục hình
theo tiêu chuẩn United States Public Health Service. Kết quả là 100% chụp
răng đạt loại A và B về sự nguyên vẹn đường viền chụp, màu sắc, sâu răng
thứ phát và cấu trúc bề mặt (tất cả chụp răng đạt loại B do mòn sứ ở mặt tiếp
khớp). 93,4% chụp răng đạt loại A và B về nứt sứ bề mặt [28].
25
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Những bệnh nhân đã được điều trị bằng phục hình cố định.
- Địa điểm: Trung tâm kĩ thuật cao Viện đào tạo Răng hàm mặt –
Trường Đại học Y Hà Nội và Khoa RHM – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
- Thời gian: Từ 5/2014 – 9/2014.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân vào nghiên cứu
- Tất cả bệnh nhân đã được làm chụp răng toàn phần, cầu răng có phần
giữ là chụp toàn phần đến khám tại Trung tâm kĩ thuật cao Viện Đào tạo