BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
…… ***……
NGUYỄN VĂN CƯỜNG
NHẬN XÉT TÌNH TRẠNG MẤT RĂNG TỪNG PHẦN
TRÊN BỆNH NHÂN ĐƯỢC CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ
PHỤC HÌNH THÁO LẮP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
2006-2012
HÀ NỘI -2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
…… ***……
NGUYỄN VĂN CƯỜNG
NHẬN XÉT TÌNH TRẠNG MẤT RĂNG TỪNG PHẦN
TRÊN BỆNH NHÂN ĐƯỢC CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ
PHỤC HÌNH THÁO LẮP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
2006-2012
Người hướng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN THU HẰNG
HÀ NỘI -2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của riêng tôi. Những số liệu, kết quả
là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu
nào khác.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2012
Sinh viên: Nguyễn Văn Cường
LỜI CẢM ƠN
răng cũng được coi là một tình trạng bệnh lý có ảnh hưởng tại chỗ và toàn
thân. Mặc dù công tác chăm sóc răng miệng ở nước ta đã được quan tâm
nhưng tỷ lệ mất răng còn tương đối cao. Điều tra sức khoẻ răng miệng toàn
quốc ở Việt Nam gần đây nhất được tiến hành năm 1999-2000, kết quả về
tình trạng mất răng như sau: số răng mất trung bình một người ở lứa tuổi 35-
44 là 2,10 răng và trên 45 tuổi là 6,64 răng. Điều tra của Viện Răng –Hàm-
Mặt tiến hành năm 2002 trên 3384 đối tượng người lớn ở cả nông thôn và
thành thị cho thấy trên 10% số người bị mất răng ,trong đó mất răng toàn bộ
2 hàm chiếm 1%,toàn bộ hàm trên chiếm 3,3% ,mất răng toàn bộ hàm dưới
chiếm 2,7% ,còn lại là mất răng lẻ tẻ.
Trên thế giới: Theo kết quả điều tra của WHO được tiến hành ở 48%
các nước châu Âu năm 1998,tỷ lệ mất răng ở lứa tuổi 65-75 dao động từ
12,8% - 69,6%; số răng mất trung bình từ 3,8 răng đến 15,1 răng. Tại hội nghị
nha khoa Na Uy năm 2001,Ambjornsen đã báo cáo về tình trạng mất răng ở
Na Uy: Tỷ lệ mất ở lứa tuổi trên 65 là khoảng 50% trong những năm 1970-
1980 ,và khoảng 30% ở cuối thập kỷ 90,trong đó trên 50% những người mất
răng còn dưới 20 răng.
Do chăm sóc sức khoẻ răng miệng ngày càng tốt nên tỷ lệ mất răng nói
chung ngày càng giảm ở các nước phát triển. Tuy nhiên, ở các nước đang phát
triển, trong đó có Việt Nam , tỷ lệ mất răng vẫn còn cao. Vì vậy nhu cầu điều
trị phục hình của nhân dân ta là rất lớn.
Các trường hợp mất răng rất đa dạng, sự đa dạng này phụ thuộc vào: số
lượng răng mất, vị trí mất răng, sống hàm vùng mất răng, tình trạng các răng
còn lại, các bệnh lý răng miệng khác kèm theo vv. Do đó có nhiều phương
pháp phục hình điều trị được áp dụng để phục hồi chức năng và thẩm mỹ như:
1
cầu răng, hàm giả tháo lắp từng phần nền nhựa, hàm khung, hàm toàn bộ,
cấy ghép răng(Implant), hàm giả trên cấy ghép Implant.
Tùy theo từng trường hợp lâm sàng,mất răng từng phần có thể được chỉ
định điều trị bằng phục hình răng cố định hay tháo lắp từng phần .Trong đó
Hậu quả tại chỗ :
- Các răng còn lại hai bên bị xô lệch ,răng đối diện trồi lên.
- Đường cong Spee và khớp cắn thay đổi xấu .
- Bệnh sâu răng , nha chu ,chấn thương khớp cắn phát sinh dẫn đến
mất thêm những răng khác.
- Xương ổ răng nơi răng bị mất tiêu nhanh.
Hậu quả toàn thân :
- Tiêu hóa bị rối loạn do nhai nghiền thức ăn không tốt .
- Các răng còn lại phải dựng nhiều nên mòn nhanh ,nghiêng ngả làm rối
loạn khớp cắn có thể gây hội chứng SADAM hay COSTEN (đau khớp thái
dương hàm và cơ nhai , ù tai ).
- Phát âm thay đổi ,hô hấp bị ảnh hưởng (do lưỡi bị nâng lên ) .
3
1.2. PHÂN LOẠI MẤT RĂNG
Mất răng được phân làm 2 loại chính đó là mất răng từng phần và mất
răng toàn bộ. Có nhiều cách phân loại mất răng từng phần của nhiều tác
giả khác nhau như: Kennedy, Applegate, Kourliandsky, Bailyn, Skinner
.v.v. Nhưng cách phân loại mất răng của Kennedy là được nhiều người sử
dụng nhất.
1.2.1.Phân loại mất răng của Kennedy
Edward Kennedy đã đưa ra cách phân loại mất răng từng phần đầu
tiên vào năm 1923. Ông phân ra làm 4 loại mất răng từng phần:
-Loại I : Mất răng phía sau 2 bên không còn răng giới hạn xa.
-Loại II : Mất răng phía sau 1 bên không còn răng giới hạn xa.
-Loại III :Mất răng phía sau 1 bên còn răng giới hạn xa.
-Loại IV : Mất răng phía trước ( răng cửa ) đi qua đường giữa.
Ngoài 4 loại trên còn có 2 loại đặc biệt được xếp trong trường hợp mất
răng gần toàn bộ :
Loại V: Mất răng một bên trên một đoạn rất rộng chỉ còn 1,2 răng hàm.
Loại VI: Mất răng hai bên một đoạn rất rộng chỉ còn lại 1,2 răng chia
Năm 1960 Applegate đã bổ xung loại V và VI vào phân loại mất răng
của Kennedy:
-Loại I: Mất răng sau 2 bên không có răng giới hạn xa.
-Loại II: Mất răng sau 1 bên không có răng giới hạn xa.
-Loại III: Mất răng sau 1 bên, có răng giới hạn ở 2 đầu. Nhưng các răng
trụ này không thể gánh chịu toàn thể lực nhai đè lên hàm khung. Có thể do:
+Khoảng mất răng dài.
+Chân răng trụ có hình dáng và chiều dài không phù hợp.
+Xương nâng đỡ bị tiêu nhiều.
5
-Loại IV: Mất răng phía trước, đoạn mất răng đi ngang đường giữa cung
răng, giới hạn 2 đầu bằng 2 răng bên phải và trái của cung hàm. Loại này có thể
mất ít nhất từ 2 răng đến nhiều nhất chỉ còn lại 2 răng hàm ở hai bên.
-Loại V:Mất răng có giới hạn 2 đầu trong đó giới hạn phía trước là
răng cửa bên yếu với chân răng ngắn và nhỏ.
-Loại VI: Mất răng có giới hạn 2 đầu với khoảng mất răng ngắn,
chiều dài và hình dáng chân răng trụ thích hợp cho nâng đỡ.
LOẠI I LOẠI II LOẠI III
LOẠI IV LOẠI V LOẠI VI
1.2.3.Phân loại mất răng của Kourliandsky
Tác giả dựa trên yêu cầu xác định khớp cắn trung tâm (mặt phẳng cắn
xác định với 3 điểm chạm của 2 hàm ).
-Loại I: Mất răng từng phần, 2 hàm còn 3 điểm chạm.
-Loại II: Mất răng từng phần, 2 hàm còn 2 điểm chạm.
-Loại III: Mất răng từng phần, 2 hàm không có răng nào đối diện nhau.
-Loại IV: Mất răng toàn bộ.
Sự phân loại mất răng của Kourliandsky có ý nghĩa gợi ý trong đo
tương quan 2 hàm khi làm hàm khung.
-Các răng mất được thay thế bằng hàm giả có nền hàm bằng nhựa trên
đó có các răng giả và có thể có móc kèm theo ôm vào răng thật. Móc có tác
dụng tăng cường sự lưu giữ của hàm giả.
-Loại hàm giả này có thể chỉ định trong nhiều trường hợp cả những
trường hợp mà không thể làm được răng giả cố định. Các trường hợp hay đư-
ợc chỉ định là: mất răng không còn răng giới hạn xa, mất răng với khoảng dài,
mất nhiều răng, mất vùng răng cửa có tiêu xương ổ răng nhiều.
1.3.1.1 Ưu nhược điểm hàm nhựa
-Ưu điểm:
+Dễ vệ sinh hàm giả và tổ chức răng miệng còn lại của bệnh nhân.
+Tiết kiệm mô răng thật còn lại.
+Dễ sửa chữa: thêm răng, thêm móc, đệm hàm giả.
+Thực hiện đơn giản, kinh phí thấp.
-Nhược điểm:
+Hàm giả có khối lượng lớn nên dễ gây khó chịu cho bệnh nhân.
+Hàm giả có tính xê dịch tạo cảm giác bất ổn.
+Phần lớn hàm giả tựa lên mô xương niêm mạc nên bị lún nhiều khi
ăn nhai làm cho hiệu quả ăn nhai kém và tiêu xương.
+Hàm giả che phủ nhiều tổ chức răng miệng còn lại.
+Một số trường hợp hàm giả cần đặt móc phía trước thẩm mỹ sẽ kém.
-Gần đây với sự phát minh ra nhựa mềm và việc ứng dụng của nó
trong làm hàm giả, hàm giả tháo lắp từng phần nền nhựa đã được cải thiện.
Hàm giả bằng nhựa mềm có ưu điểm dễ tháo lắp hơn và khít hơn trong những
trường hợp các răng thật còn lại nghiêng.
8
1.3.1.2 Chỉ định
-Về kĩ thuật:
-Mất răng xen kẽ khoảng mất răng dài không chỉ định làm PHCD được.
-Mất nhóm răng hàm 1 hoặc 2 bên ,không cũn răng giới hạn xa.
-Mất răng trên bệnh nhân viêm quanh răng nặng,điều trị không hiệu quả .
+ Thẩm mỹ khi dùng cho răng phía trước.
-Nhược điểm :
+ khó thêm răng vào nền hàm cũ,giá thành cao.
+ Có thể gây mùi khó chịu nếu không được vệ sinh thường xuyên,có thể
bị nhiễm màu theo thời gian.
+Có thể gây mòn răng giả và tiêu xương sống hàm gây rối loạn khớp
cắn.
+ Tụt lợi có thể xảy ra do chấn thương do móc dẻo.
Chỉ định:
+ Dị ứng với kim loại.
+ Mong muốn thẩm mĩ cao mà không muốn lộ kim loại.
+ Thay thế cho khoảng mất răng ngắn và loại III kennedy (không mất
răng trước)
+Có phục hình cố định nên không thể mài ổ tựa.
+ Bệnh nhân già với đời sống ngắn.
10
1.3.2 Hàm khung
1.3.2.1 Ưu nhược điểm hàm khung
-Hàm khung là loại hàm giả tháo lắp từng phần có phần chính là một
khung sườn.
-Ưu điểm so với hàm giả tháo lắp từng phần nền nhựa:
+Thể tích ít cồng kềnh hơn nên bệnh nhân dễ chịu khi mang hàm giả,
thời gian thích nghi ngắn hơn so với hàm nhựa.
+Cổ răng và các răng còn lại được giải phóng, giúp duy trì tốt các răng
còn lại.
+Hàm giả ít bị lún khi ăn nhai do có tựa mặt nhai. Hiệu quả ăn nhai
cũng cao hơn.
+Kim loại bóng nên dễ vệ sinh và bền hơn hàm nhựa.
-Nhược điểm: +Kỹ thuật lâm sàng và labo phức tạp hơn.
+Đòi hỏi trang thiết bị labo hiện đại hơn.
Thanh khẩu cái đơn phía sau có hình nửa ô van hẹp, dày nhất ở điểm giữa.
-Loại thanh nối này chỉ được sử dụng trong trường hợp mất ít răng
loại KIII.
-Chống chỉ định dùng thanh khẩu cái đơn trong trường hợp mất răng
loại KI và II và khi mất răng cửa.
* Thanh khẩu cái kép hay thanh trước sau(hình 2):
- Thanh khẩu cái kép là thanh nối chính rất cứng . Nhưng vì thanh này
hẹp nên nó không có tác dụng nâng đỡ hàm khung. Hàm khung được nâng
đỡ chính nhờ các răng còn lại. Do đó loại thanh nối này không nên dùng trừ
khi các răng còn lại có tổ chức vùng quanh răng tốt.
Hình 3: Bản khẩu cái kép
Hình 4: Bản khẩu cái hình chữU
Hình 5: bản khẩu cái
Hình 6: Bản khẩu cái toàn diện
13
-Loại thanh nối này chỉ được lựa chọn sau khi cân nhắc các kiểu thanh
nối khác không dùng được.
* Thanh nối chính hình móng ngựa (chữ U) biến đổi hay bản khẩu
cái trước sau hay bản khẩu cái kép (Hình 3):
- Thanh nối chính tương tự hình móng ngựa và có thêm bản kim loại
nối phía sau. Đây là loại thanh nối cứng và khoẻ có thể được dùng trong hầu
hết các trường hợp mất răng từng phần hàm trên đặc biệt cho trường hợp mất
nhiều răng hoặc có lồi cứng ở khẩu cái.
-Loại thanh nối này có thể được chỉ định trong nhiều trường hợp mất
răng như: mất răng loại KI và II, bệnh nhân có lồi xương ở vòm miệng, bệnh
nhân có mất răng cửa kèm theo.
* Thanh nối chính hình chữ U hay hình móng ngựa (Hình 4):
- Loại thanh nối này được cấu tạo là bản kim loại mỏng chạy dọc theo
phía trong của các răng hàm, rộng từ 6 - 8mm ở phía trước, bản kim loại th-
ường phủ gót răng thật còn lại và phủ vùng vân khẩu cái ở vòm miệng. Bờ
15
Hình 9: Bản lưỡi Hình 10: Thanh môi
16
* Thanh Lưỡi (Hình7):
- Thanh lưỡi là kiểu thanh nối chính hàm dưới thường được sử dụng
vì cấu trúc đơn giản, thanh lưỡi có hình nửa trái lê với phần dày ở phía dưới.
- Thanh lưỡi chỉ thiết kế được khi khoảng cách giữa phần di động của
sàn miệng (gồm cả phanh lưỡi) và bờ lợi tự do của các răng tối thiểu là 8mm.
- Vì thanh lưỡi có cấu trúc và thiết kế đơn giản nên thanh lưỡi được
chỉ định rộng rãi trừ khi dùng kiểu thanh nối khác có ưu điểm hơn rõ rệt.
Thanh lưỡi được chỉ định cho tất cả các trường hợp mất răng có giới hạn trừ
khi khoảng cách giữa phanh lưỡi sàn miệng và lợi không đủ 8mm.
*Thanh lưỡi kép hay thanh Kennedy (Double lingual bar-Hình 8):
- Thanh lưỡi kép gồm 1 thanh ở phía dưới có hình dáng giống thanh
lưỡi đơn và 1 thanh trên hình bán nguyệt (half - oval) cao khoảng 2-3mm và
chỗ dày nhất khoảng 1mm. Thanh này không chạy thẳng qua mặt trong các
răng cửa mà chui sâu vào khoảng giữa các răng ở các điểm tiếp giáp trên gót
răng. Nếu bệnh nhân có khe răng cửa giữa các răng, thanh trên được thiết kế
đi vòng xuống ở chỗ khe răng để tránh lộ kim loại. Hai thanh lưỡi được nối
với nhau bằng các thanh nối phụ cứng ở 2 đầu của thanh trên. Có 2 tựa được
thiết kế ở 2 đầu thanh trên ở phía gần của mặt nhai răng số 4 và được nối với
thanh nối phụ.
- Thanh lưỡi kép làm tăng hiệu quả giữ gián tiếp ở phía trước với các
tựa đầy đủ vững ở 2 đầu.
- Thanh lưỡi kép còn góp phần ổn định hàm khung bởi các lực tác
động lên hàm khung được phân chia lên các răng mà nó tiếp xúc. Do vậy lực
tác dụng lên từng răng được giảm.
- Thanh lưỡi kép được chỉ định khi cần tăng cường sự lưu giữ gián
tiếp và khi có bệnh quanh răng vì nó có tác dụng nẹp các răng lại. Thanh trên
thanh nối chính: Thanh nối phụ chạy thẳng góc với thanh nối chính nhưng ở
chỗ nối nên hơi tròn tránh sắc góc. Thanh này cũng nằm giữa các răng để
giảm bớt cồng kềnh.
* Thanh nối phụ có vai trò như là thanh tiếp cận của móc thanh
(Bar - type clasp): Thanh tiếp cận của loại móc thanh là thanh nối phụ duy
nhất không cần phải cứng. Nó nâng đỡ vật giữ trực tiếp (móc) ôm vào vùng
lẹm của răng ở phía dưới hơn là ở trên. Thanh nối này nhẵn, thuôn dài từ chỗ
xuất phát đến chỗ tận cùng. Thanh nối phụ này không được chạy qua chỗ lẹm
của tổ chức mềm.
Yên hàm khung
-Yên hàm khung là phần khung kim loại tương ứng với vùng mất răng
và là nơi nền hàm cùng răng giả gắn vào. Stewart xếp yên hàm khung là một
kiểu thanh nối phụ.
- Yên có thể có hình lưới, hình mắt cáo hoặc hình đầu đinh có nền kim
loại (ở hàm trên). Trong trường hợp mất răng loại K I, II, phần yên phải kéo
dài hết chiều dài sống hàm vùng mất răng phủ lồi cùng ở hàm trên. Ở hàm
dưới, yên nên chỉ dài 2/3 chiều dài sống hàm.
- Điểm chặn phía sau ở yên: Phía sau cùng của yên ở vị trí tương ứng
đỉnh sống hàm có 1 điểm chặn hình vuông khoảng 2 mm. Điểm chặn này có
tác dụng không cho khung xoay khi ép nhựa chỗ nền hàm giả .
Tựa
- Bộ phận của hàm khung có tác dụng truyền lực từ hàm khung theo
trục của răng trụ được gọi là tựa.
- Tựa còn có tác dụng duy trì phần lưu giữ của móc ở đúng vị trí tác
dụng của nó. Nếu móc mà không được nâng đỡ nó sẽ không đạt được lưu giữ
như thiết kế.
19