ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ THỊ THƯƠNG CHI
NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ TỒN DƯ MỘT SỐ
KHÁNG SINH, HORMONE TRONG THỨC ĂN VÀ
SẢN PHẨM CHĂN NUÔI TRÊN THỊ TRƯỜNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ THỊ THƯƠNG CHI
NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ TỒN DƯ MỘT SỐ
KHÁNG SINH, HORMONE TRONG THỨC ĂN VÀ
SẢN PHẨM CHĂN NUÔI TRÊN THỊ TRƯỜNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số ngành: 60 62 01 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học:
GS. TS. NGUYÊN DUY HOAN
Nguyên, Viện Chăn nuôi đã giúp đỡ tôi nâng cao năng lực nghiên cứu và hoàn
thành luận văn.
Tôi xin chia sẻ sự thành công với bố mẹ, chồng, anh em trong gia đình
và bạn bè đồng nghiệp đã động viên, đóng góp những ý kiến quý giá cho tôi
hoàn thành chương trình học tập và bản luận văn này.
Hà Nội, ngày 8/9/2017
Đỗ Thị Thương Chi
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... ii
MỤC LỤC ......................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................ v
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ .................................................................................. viii
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................. 1
2. Mục tiêu của đề tài ......................................................................................... 1
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ....................................................... 2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................... 3
1.1. Cơ sở khoa học ............................................................................................ 3
1.1.1. Kháng sinh ............................................................................................... 3
1.1.2. Hormone ................................................................................................. 11
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ............................................... 16
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ......................................................... 16
1.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ........................................................... 18
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU............................................................................................................................................ 23
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BYT
Bộ Y tế
FAO
Food Agriculture Organization
(Tổ chức Nông nghiệp và Thực phẩm thế giới)
IARC
International Cancer Research Institute
(Cơ quan nghiên cứu Quốc Tế về ung thư)
NN&PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
TAHHHC
Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
Việt Nam ................................................................................. 21
Danh mục các thuốc thú y không được phép có tồn dư trong thực
phẩm tại Việt Nam ..................................................................... 22
Tình hình sử dụng thức ăn cho lợn thịt tại các hộ chăn nuôi trên
địa bàn thành phố Hà Nội ........................................................... 32
Bảng 3. 2.
Bảng 3.3.
Bảng 3.4.
Bảng 3.5.
Bảng 3.6.
Bảng 3.7.
Bảng 3.8.
Bảng 3.9.
Bảng 3.10.
Bảng 3.11.
Bảng 3.12.
Tình hình sử dụng thức ăn cho gà thịt tại các hộ chăn nuôi trên địa
bàn thành phố Hà Nội ................................................................. 35
Tình hình sử dụng kháng sinh trong thuốc thú y và biệt dược tại
các hộ chăn nuôi gà thịt trên địa bàn thành phố Hà Nội ............ 38
Tổng hợp tình hình sử dụng kháng sinh trong thuốc thú y và biệt
dược tại các hộ chăn nuôi gà thịt trên địa bàn thành phố Hà
Nội .............................................................................................. 39
Tình hình sử dụng kháng sinh trong thuốc thú y và biệt dược tại
các hộ chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn thành phố Hà Nội
(n=300) ....................................................................................... 42
Tình hình sử dụng thức ăn cho lợn thịt tại các hộ chăn nuôi trên
địa bàn thành phố Hà Nội .......................................................... 33
Biểu đồ 3.3.
Tình hình sử dụng thức ăn cho gà thịt tại các hộ chăn nuôi trên
địa bàn thành phố Hà Nội .......................................................... 36
Biểu đồ 3.4.
Tình hình sử dụng thức ăn cho gà thịt tại các huyện trên địa bàn
thành phố Hà Nội ...................................................................... 36
Biểu đồ 3.5:
Tỷ lệ sử dụng từng loại kháng sinh trong chăn nuôi gà thịt trên
địa bàn thành phố Hà Nội .......................................................... 40
Biểu đồ 3.6.
Tỷ lệ sử dụng từng loại kháng sinh trong chăn nuôi gà thịt trên
địa bàn thành phố Hà Nội .......................................................... 45
Biểu đồ 3.7.
Tỷ lệ mẫu thức ăn chăn nuôi lợn thịt có kháng sinh ................ 47
Biểu đồ 3.8.
Sự cảnh báo của tổ chức Y tế thế giới về việc xuất hiện các chủng vi khuẩn
kháng thuốc và sự kháng kháng sinh. Vấn đề này đã trở nên nguy hiểm, cấp bách đòi
hỏi phải có sự nỗ lực tổng hợp nhằm giúp nhân loại tránh khỏi nguy cơ trở lại thời kỳ
chưa có kháng sinh.
Xuất phát từ thực tiễn công việc, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu mức
độ tồn dư một số kháng sinh, hormone trong thức ăn và sản phẩm chăn nuôi trên
thị trường thành phố Hà Nội” để từ đó đưa ra quy luật chung để quản lý đối với các
sản phẩm chăn nuôi đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hà
Nội nói riêng và trên cả nước nói chung.
2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được tình hình sử dụng kháng sinh, hormone trong thức ăn chăn
nuôi; tình hình sử dụng kháng sinh trong phòng và điều trị bệnh cho đàn gà thịt và
lợn thịt; và thực trạng tồn dư kháng sinh, chất cấm trong các sản phẩm thịt gà và thịt
lợn trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Thông tin đến người tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lợn, gà đảm bảo điều
kiện vệ sinh an toàn thực phẩm.
2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Số liệu thu được làm cơ sở định hướng công tác cho các nghiên cứu sau này.
Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu phát triển
tiếp theo.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá được sản phẩm của các cơ sở chăn nuôi lợn
thịt, gà thịt, các cơ sở giết mổ từ đó có thể thông tin đến người tiêu dùng các cơ sở
cung cấp sản phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
Tham mưu cho các cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về sử dụng kháng
sinh, hormone trong chăn nuôi.
Vậy có thể hiểu nôm na kháng sinh là những chất có thể tiêu diệt hoặc kìm
hãm sự phát triển của vi khuẩn.
1.1.1.2. Phân loại kháng sinh
Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và cách sử dụng thuốc, hiện nay người ta
thường phân loại kháng sinh như sau:
4
* Căn cứ vào phổ tác dụng kháng sinh
- Nhóm có phổ tác dụng hẹp, chỉ tác dụng lên một loại hay nhóm vi khuẩn nào
đó như: Penicilin chỉ tác động lên vi khuẩn gram (+), streptomycin tác động lên vi
khuẩn gram (-).
- Nhóm kháng sinh có phổ tác dụng rộng, chúng tác dụng cả vi khuẩn gram
(+) và gram (-), Ricketsia, virus cỡ lớn, đơn bào như tetracyclin.
- Nhóm kháng sinh dùng ngoài hay các thuốc không hoặc ít hấp thu ở đường
tiêu hóa.
- Nhóm kháng sinh chống lao: rifamycin.
- Nhóm kháng sinh chống nấm.
* Dựa vào nguồn gốc:
- Kháng sinh có nguồn gốc tự nhiên, chiết xuất từ vi sinh vật, xạ khuẩn…
- Kháng sinh có nguồn gốc hóa dược hay do con người tổng hợp nên.
* Dựa vào cơ chế tác dụng:
- Nhóm ức chế sự thành lập vách tế bào.
- Nhóm ức chế nhiệm vụ của màng tế bào.
- Nhóm ức chế sự tổng hợp protein.
- Nhóm ức chế sự tổng hợp acid nucleic.
- Nhóm làm tổn thương màng tế bào.
* Căn cứ vào mức độ tác dụng
- Kháng sinh kìm khuẩn; Kháng sinh diệt khuẩn.
* Cách phân loại hiện đại
6
* Nguồn gốc: Furazolidone thuộc nhóm kháng sinh Nitrofuran là một nhóm
kháng sinh tổng hợp có chứa nhóm 5-nitro, Furazolidone liên kết DNA của vi khuẩn
dẫn đến sự ức chế dần dần của monoamine oxidase.
* Công thức hóa học: C8H7N3O5
* Dược lực học: furazolidone có phổ kháng khuẩn rộng bao phủ phần lớn các
mầm bệnh đường tiêu hóa gồm E.coli, staphylococci, Salmonella, Shigella, Proteus,
Aerobacter aerogenes, Vibrio cholerae và Giardia lamblia. Hoạt tính diệt khuẩn của
furazolidone được dựa trên sự can thiệp của furazolidone vào quá trình nhân bản
DNA và sản xuất protein; hành động kháng khuẩn này giảm thiểu sự phát triển của
các vi khuẩn kháng thuốc.
* Cơ chế tác dụng: Furazolidone và các sản phẩm có gốc tự do liên quan của
furazolidone được cho là liên kết DNA và tạo ra liên kết chéo. DNA của vi khuẩn đặc
biệt nhạy cảm với loại thuốc này, dẫn đến sự đột biến cao (chuyển tiếp và chuyển vị)
trong nhiễm sắc thể vi khuẩn.
* Hấp thu, chuyển hóa và thải trừ
Hấp thụ: Nghiên cứu về thuốc có nhãn hiệu cho thấy furazolidone được hấp
thu tốt sau khi uống.
Chuyển hóa: Furazolidone được chuyển hóa nhanh chóng và rộng rãi; con
đường trao đổi chất ban đầu được xác định bắt đầu bằng việc giảm nitro tới dẫn chất
aminofuran. Hai chất chuyển hóa chính được sản xuất: 3-amino-2-oxazolidone
(AOZ) hoặc beta-hydroxyethylhydrazine (HEH). AOZ chịu trách nhiệm cho sự ức
chế monoamine oxidase. Cai nghiện và loại bỏ thuốc được thực hiện chủ yếu bằng
cách liên hợp với glutathione.
* Tác dụng: Để điều trị đặc hiệu và có triệu chứng tiêu chảy do vi khuẩn hoặc
nguyên sinh và viêm ruột do các sinh vật nhạy cảm.
1.1.1.5. Tồn dư kháng sinh và hậu quả tồn dư kháng sinh
* Nguyên nhân tồn dư kháng sinh trong thực phẩm:
* Hậu quả tồn dư kháng sinh:
Kháng sinh là con dao hai lưỡi vừa có tác dụng chống lại các bệnh truyền nhiễm
8
vừa là cái họa gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, môi trường sống xã hội.
- Ảnh hưởng tới sức khỏe con người:
Sự tồn dư kháng sinh có trong thực phẩm gây nguy hại cho sức khỏe người
tiêu dùng khi tiêu thụ thực phẩm. Nó gây ảnh hưởng ngay lập tức sau khi tiêu thụ sản
phẩm như xảy ra phản ứng quá mẫn cảm đối với người nhạy cảm kháng sinh, gây dị
ứng sau khi tiêu thụ thịt tồn dư kháng sinh.
Nguyễn Duy Thịnh (2016) [52] cho biết: "Hiện tượng thích ứng của vi sinh
vật đối với kháng sinh trong cơ thể con người nếu chưa đủ liều sẽ sinh ra hiện tượng
quen thuốc, hay còn gọi là nhờn thuốc. Khi quen rồi, vi sinh vật này sẽ phát triển và
gây bệnh cho cơ thể, không có thuốc trị. Lúc này, các bác sĩ sẽ phải tìm kiếm những
loại kháng sinh mạnh hơn nhiều so với kháng sinh thông thường để chữa bệnh,
nghiêm trọng hơn nữa là không tìm ra thuốc để chữa".
Đoàn Khang (2015) [51] cho biết, người tiêu dùng, tiêu thụ các sản phẩm, thực
phẩm từ động vật khó nhận biết được những sản phẩm có tồn dư kháng sinh trong
quá trình chăn nuôi nếu không có chuyên môn. Đặc biệt nguy hiểm đối với những
người có sẵn cơ địa dị ứng với một số loại thuốc (phổ biến nhất là penicillin chiếm
đầu bảng với tỷ lệ sốc phản vệ 1/70.000)”.
Đặng Thị Hoàng Anh và cs (2004) [1] cho biết: Chloramphenicol gây
viêm dây thần kinh thị giác, viêm dây thần kinh ngoại biên, gây mê sảng, tỉ lệ
quái thai cao, gây trạng thái quá mẫn cảm với các biểu hiện ban đỏ, mần đay, phù
mạch và sock phản vệ. Đặc biệt nghiêm trọng hơn chloramphenicol còn gây suy
gan, suy tủy, hậu quả nhẹ của tình trạng này gây thiếu máu, còn nặng gây thiếu
máu bất sản. Ở trẻ em dưới một tuổi gây suy tuần hoàn cấp. Vào năm 1982, Mỹ
đã công bố một trường hợp bị tử vong do thiếu máu bất sản có liên quan đến
trước đây. Sinh vật đề kháng (vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng) có thể chịu được sự tấn
công của các thuốc chống vi khuẩn (như thuốc kháng sinh, thuốc kháng vi rút, thuốc
chống sốt rét) dẫn đến việc áp dụng các phương pháp, thuốc điều trị đặc hiệu sẽ trở
nên không hiệu quả, nhiễm khuẩn kéo dài thậm chí gây tử vong - Theo Bộ Y tế (2013)
[10]. Sự kháng thuốc (AMR) là hệ quả tất yếu của quá trình sử dụng thuốc trong điều
trị và đặc biệt gia tăng khi việc lạm dụng thuốc kháng sinh ngày càng phổ biến hơn.
Bất cứ kháng sinh nào dùng để chữa bệnh cho người và động vật, nếu còn tồn
dư một lượng dù nhỏ nhất cũng có thể gây kháng thuốc của E.coli. Khi E.coli đã
10
kháng thuốc thì nó có thể truyền plasmid kháng thuốc của nó cho các loại vi khuẩn
gây bệnh khác sống trong đường ruột.
Theo Bộ Y tế (2013) [10] Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhận định, chúng ta
đang sống trong kỷ nguyên phụ thuộc kháng sinh và yêu cầu toàn cầu có trách nhiệm
bảo vệ nguồn thuốc kháng sinh quý giá cho thế hệ sau.
Các nghiên cứu của vi khuẩn học trên thế giới đã công nhận sự kháng thuốc
là một động lực gây bệnh quan trọng. Theo Trương Đức Thọ (2004) [36] tình trạng
xuất hiện chủng vi khuẩn đột biến gen đề kháng những thuốc đặc hiệu gây ra nhiều
bệnh lạ, khiến cho người sử dụng kháng sinh gặp nhiều khó khăn.
Tìm hiểu về cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn, Bùi Thị Tho (2003) [35] cho
biết: Khả năng kháng thuốc của vi khuẩn chủ yếu là do khả năng truyền các gen kháng
thuốc, theo chiều ngang giữa các vi khuẩn với nhau trong cùng một thế hệ, hoặc giữa
những loài vi khuẩn với nhau. Có 3 phương thức mà vi khuẩn có thể truyền gen kháng
thuốc theo chiều ngang đó là: Sự biến nạp, tải nạp và tiếp hợp.
Như vậy, khả năng lan tràn của vi khuẩn kháng thuốc là mối đe dọa thực sự
đến sức khỏe và khả năng điều trị bệnh của người cũng như động vật, khi mà sức đề
kháng bị suy giảm, khả năng miễn dịch và tạo thành miễn dịch rất kém (đặc biệt trong
thời gian chuyển mùa). Mặt khác, vi khuẩn có gen kháng thuốc thì khả năng gây bệnh
của chúng lại mạnh lên rất nhiều.
cứu nghi ngờ môi trường là yếu tố làm tăng tính kháng thuốc của vi khuẩn, kết quả nghiên
cứu Yes Millean (2005) [48], tác động của môi trường đến tính kháng thuốc của vi khuẩn
đường ruột E.coli được nuôi cấy từ mẫu phân của công nhân làm vườn phun thuốc
oxytetracyclin. Sau khi phun từ 2-4 tháng, mẫu phân của người đó được mang đi phân
tích thì thấy sức kháng của vi khuẩn E.coli với oxytetracyclin là 12,9%. Vi khuẩn E.coli
phân lập từ mẫu phân của vợ và con người làm vườn đó có sức đề kháng tới 22,7% cùng
thời điểm đó.
1.1.2. Hormone
1.1.2.1. Khái niệm
Quan niệm trước đây: hormone là một chất trung gian hóa học, được bài tiết
bởi các tế bào chuyên biệt nằm trong các tuyến nội tiết và được chuyên chở trong
máu đến các tế bào đáp ứng với nó (tế bào đích) nhằm điều hòa quá trình chuyển hóa
của các tế bào này.
- Quan niệm hiện nay: Hormone có thể là một trong ba chất sau:
12
+ Hormone chung (general hormone): là những hormone theo quan niệm cổ
điển. Ví dụ: các hormone của vùng hạ đồi, tuyến yên, tuyến giáp, tuyến cận giáp,
tuyến tụy, tuyến thượng thận và tuyến sinh dục.
+ Hoạt chất sinh học: là những chất trung gian hóa học do các cơ quan không phải
là tuyến nội tiết chế tiết, được dòng máu phân phối và có tác dụng sinh học trên mô đích.
Ví dụ: gan tiết angiotensinogen (angiotensin I - angiotensin II); thận tiết renin,
erythropoietin, 1,25dihydroxycholecalciferol; tim tiết atrial natriuretic peptid.
+ Hormone địa phương (local hormone): là những chất trung gian hóa học do
các tế bào chế tiết vào dịch gian bào và có tác dụng sinh học tại chỗ. hormone địa
phương có thể tác động theo một trong hai phương thức là cận tiết (paracrine) và tự
tiết (autocrine). Ví dụ: thần kinh phó giao cảm tiết acetylcholin, tế bào S niêm mạc
tá tràng tiết secretin, tế bào T niêm mạc tá - hỗng tràng tiết cholecystokinin.
G.Maghuin - Rogister và cs (2000) [45] đã định nghĩa: Hormone là những chất
quản. Những người có rối loạn hô hấp mãn tính như hen suyễn sử dụng như một thuốc
giãn phế quản để làm cho việc thở dễ dàng hơn. Thuốc phổ biến nhất có sẵn dưới
dạng hydrochloride hydrochloride các muối clenbuterol.
Clenbuterol là loại chất kích thích tuyến thượng thận, điều tiết sinh trưởng
động vật, thúc đẩy quá trình phát triển cơ bắp và tác dụng phân giải lipid. Những con
lợn được trộn thức ăn có chứa Clenbuterol sẽ có tỷ lệ thịt nạc nhiều hơn thịt mỡ. Tại
Trung Quốc người ta đã phát hiện những người chăn nuôi lợn cho chất này vào thức
ăn gia súc để sản xuất thịt lợn siêu nạc.
1.1.2.5. Tồn dư hormone và hậu quả của tồn dư hormone
- Nguyên nhân tồn dư hormone:
Người chăn nuôi đã sử dụng hormone làm chất kích thích tăng trọng để tăng
sản lượng, giảm lượng mỡ, tăng lượng nạc và khi giết thịt lợn có màu đỏ đẹp, giá bán
của các loại thịt này cao. Sử dụng thức ăn tăng trọng thì tốc độ tăng trọng của gà, lợn
có thể tăng lên 3-5%, cho bò vỗ béo và cừu tăng 5-10%, sản lượng trứng tăng 3-6%.
Những steroit đồng hóa như diethylstibestrol, dexamethason… làm tăng trọng nhanh
hơn từ 15-20%, hiệu quả lợi dụng thức ăn tốt hơn từ 10-15%. Nếu cho lợn ăn
metyltestosteron với liều 84-452,9mg/con/ngày sẽ làm tăng độ mọng của thịt và tăng
trọng nhanh (Phạm Khắc Hiếu, 2007) [21].
Một nguyên nhân nữa là do ý thức và trình độ của người chăn nuôi. Qua nghiên
cứu của các nhà khoa học cho biết: Điều cần thiết nhất là phải ngừng ngay việc cung
cấp hormone (chất tăng trọng) trước 7 ngày khi bắt đầu giết thịt gia súc. Trong thời
gian này lượng hormone sẽ bị thải trừ ra ngoài và dư lượng hormone trong thịt sẽ
không còn đáng kể, ít nguy hiểm đến sức khỏe con người. Thế nhưng điều khuyến
cáo đó đã ít được các nhà chăn nuôi áp dụng, vì vậy dẫn đến tình trạng tồn dư hormone
nhiều trong thực phẩm (Phạm Khắc Hiếu, 2007) [21].
14
Không chỉ do các nhà chăn nuôi mà cả những nhà sản xuất, Lã Văn Kính
(2006) [27] cho biết: trong thức ăn gia súc có đến 47 mẫu, chiếm 9% dương tính với
được ghi nhận ở Italia vào những năm 1980. Trong khoảng vài chục năm gần đây, tỷ
lệ vô sinh chiếm 20% các cặp vợ chồng trong tuổi sinh sản. Các nguyên nhân vô sinh
do nữ chiếm 40% các trường hợp, do nam 30%, 20% là nguyên nhân do cả hai vợ
chồng, 10% các cặp vợ chồng không tìm thấy nguyên nhân vô sinh. Trong các năm
1992, đã có những nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng hormone tồn dư trong thịt
lợn có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản tinh trùng của nam giới.
Zhang Y và Wu Y (2002) [50] cho thấy: chất clenbuterol dùng trong chăn nuôi
làm tăng chuyển hóa chất béo sang thịt nạc, khi người ăn thịt của những gia súc còn
tồn dư chất này gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe như làm rối loạn hệ thống sinh sản
và các rối loạn nội tiết tố.
+ Tác động gây ngộ độc cấp tính
Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (2009) [23] thì Mitchell GA và Dunnavan G
cho biết trong nghiên cứu sử dụng thuốc β -agonist bất hợp pháp tại Mỹ đã gây ra
triệu chứng của ngộ độc cấp tính trên người sau khi ăn phải gan, kể cả thịt có nhiễm
clenbuterol, một dạng β -agonist, nhưng không có ca nào tử vong; Brambilla
G
và cs nghiên cứu dược lý lâm sàng của clenbuterol gây ngộ độc người tiêu dùng ở
Italia cho thấy: clenbuterol gây tích tụ trong gan của những con bò, gây ngộ độc 15
người sau khi ăn thịt bò khoảng từ 0,5-3h có các triệu chứng như: khó thở, đánh
trống ngực, đau đầu, gây tăng đường huyết vừa phải và hạ kali máu, các dấu hiệu
này biến mất sau 3 - 5 ngày; tạp chí Sustainable đã đưa tin về tác động gây độc cấp
tính của các β -agonist đã được đề cập đến rất nhiều vụ ngộ độc trên người sau khi
tiêu thụ gan kể cả thịt có nhiễm chất clenbuterol. Các triệu chứng ngộ độc như run
cơ, tim nhanh, hồi hộp, thần kinh bị kích thích có thể kéo dài nhiều giờ cho đến
nhiều ngày.
Đặc biệt đối với phụ nữ mang thai sử dụng lâu dài hay ăn các thực phẩm tạo
nạc từ salbutamol cũng có nguy cơ làm tăng các dị tật thai nhi (quái thai).
Tuy chưa có nghiên cứu tầm cỡ trên cơ thể người, nhưng theo Trung tâm Chất