MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .............................................5
1.1. Một số khái niệm .............................................................................................5
1.2. Khái quát tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam ........6
1.2.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới .....................................6
1.2.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam ....................................8
1.3. Một số đặc điểm của CNH – ĐTH ở Việt Nam hiện nay ..............................12
1.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH đến đất nông nghiệp .....14
1.4.1. Trên thế giới ...........................................................................................14
1.4.2. Trong nước .............................................................................................17
1.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sóc Sơn ......................................23
1.5.1. Điều kiện tự nhiên ..................................................................................23
1.5.2. Điều kiện kinh tế - xã hội .......................................................................30
Chƣơng 2. MỤC TIÊU - ĐỐI TƢỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU .........................................................................................................34
2.1. Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................34
2.2. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................34
2.3. Nội dung nghiên cứu......................................................................................34
2.3.1. Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn,
thành phố Hà Nội ..............................................................................................34
2.3.2. Nghiên cứu tình hình sử dụng đất nông nghiệp và quá trình CNH – ĐTH
của huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội .............................................................34
2.3.3. Nghiên cứu sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình
CNH - ĐTH khu vực nghiên cứu .....................................................................35
2.3.4. Dự báo sự biến động diện tích đất nông nghiệp sẽ phải chuyển mục đích
sử dụng cho CNH – ĐTH đến 2020. ................................................................35
2.3.5. Đề xuất giải pháp bảo vệ và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất nông
nghiệp. ..............................................................................................................35
nổi bật của các quốc gia đang phát triển vào thập kỉ 50 - 60.
Là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó.
Quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa (CNH - ĐTH) đang diễn ra sôi động trên
khắp cả nước, đặc biệt ở các vùng ngoại thành và ven đô Hà Nội, quá trình này diễn
ra mạnh mẽ gây ra áp lực ngày càng lớn đối với tài nguyên đất nông nghiệp.
Quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất đô thị, đất sử dụng cho các
hoạt động công nghiệp đã tác động đến một bộ phận dân cư cũng như ảnh hưởng
đến chất lượng đất. Nói đến quá trình CNH - ĐTH người ta thường nghĩ ngay đến
mặt lợi nhiều hơn là mặt hại, trước tiên quá trình công nghiệp hóa, phát triển các đô
thị lớn sẽ cung cấp nhiều cơ hội việc làm, lương bổng, dịch vụ xã hội, năng suất lao
động cao hơn. Nó góp phần chuyển hướng phát triển kinh tế và là động lực dịch
chuyển cơ cấu kinh tế ở cả khu vực đô thị và nông thôn. Quá trình này giúp cho sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ lạc hậu sang tiến bộ hơn. Hay nói cách khác, chuyển
một nước nông nghiệp lạc hậu sang công nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay trong quá
trình chuyển đổi ban đầu, mặt trái của các quá trình này tác động rất mạnh mẽ.
Theo thống kê sơ bộ của Bộ Tài nguyên & Môi trường, trong 7 năm qua
(năm 2001-2007), tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi chuyển sang đất phi
nông nghiệp trên 500.000 ha (chiếm hơn 5% đất nông nghiệp đang sử dụng). Đặc
biệt, việc đất nông nghiệp bị thu hồi và chuyển sang mục đích đô thị hóa và công
nghiệp hóa năm sau luôn tăng hơn năm trước. Chỉ tính riêng trong năm 2007, diện
tích đất trồng lúa cả nước đã giảm 125.000 ha. Một con số không nhỏ chút nào khi
mà đất đai đang ngày càng bị suy giảm cả về chất lượng và số lượng.
Từ khi bắt đầu thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư (năm 1991) đến
cuối tháng 12/2010, đã có 261 khu công nghiệp được thành lập, chiếm 71.394 ha
đất, trong đó 45.854 ha có thể sử dụng làm mặt bằng sản xuất, đã đưa 21.095 ha vào
sử dụng với tỷ lệ lấp đầy mới chỉ đạt 46%. Điều đáng nói là rất nhiều diện tích các
khu công nghiệp này đều là đất nông nghiệp, trong khi đất được lấy bị bỏ hoang vì
chưa thể lấp đầy thì cùng với đó có biết bao người nông dân phải rơi vào cảnh thiếu
- Đất trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm;
- Đất rừng sản xuất; rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;
- Đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối;
- Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ
Nông nghiệp đô thị là một ngành sản xuất, chế biến và buôn bán thực phẩm,
chất đốt (thể hiện tính cơ giới hóa cao) dựa trên các vùng đất và mặt nước nằm xen
kẽ, rải rác trong các đô thị và vùng ngoại ô. Theo cách hiểu truyền thống thì “nông
nghiệp đô thị” là nông nghiệp trong các vùng cận thành phố hoặc đang trong quá
trình đô thị hoá. Người ta còn hay gọi với tên gọi khác là nông nghiệp tiền đô thị
hay nông nghiệp ven đô [12].
Có thể hiểu công nghiệp hoá là quá trình biến đổi xã hội đặc trưng bởi kinh
tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp. Nói đơn giản, công nghiệp hoá là quá
trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu
kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ. Quá trình công nghiệp hoá ở cấp độ vi
mô thể hiện việc biến đổi lao động từ lao động thủ công bằng sức người và sức súc
vật sang lao động cơ khí, lao động dựa vào máy móc. Ngày nay là lao động dựa vào
các công nghệ - tin học. Chỉ báo dễ nhận thấy nhất của công nghiệp hoá là cơ cấu
lao động theo ngành kinh tế nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ thay đổi theo
hướng tăng dần tỉ lệ lao động công nghiệp và giảm dần tỉ lệ lao động nông nghiệp.
Một chỉ báo quan trọng khác là các ngành nghề công nghiệp liên tục xuất hiện. Một
chỉ báo nữa là sự gia tăng tỉ trọng sản lượng công nghiệp trong cơ cấu tổng sản
phẩm quốc nội. [16]
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là quá trình
chuyển khu vực nông thôn từ nông nghiệp cổ truyền thành khu vực có nền kinh tế
thị trường phát triển với hệ thống phân công lao động đạt trình độ cao, dựa trên nền
tảng kỹ thuật - công nghệ hiện đại và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu trong khuôn
khổ quá trình CNH - hiện đại hóa toàn bộ nền kinh tế. Đây cũng là quá trình đô thị
hóa, cải biến xã hội nông thôn lên một trình độ văn minh cao hơn, bảo đảm cho mọi
lương thực đối với khoảng ¼ dân số trên thế giới. Năng suất cây trồng giảm, giá
lương thực tăng cao, nguồn dự trữ thấp. Trong khi đó nhu cầu tiêu dùng tăng và
thiên tai đang là nguyên nhân gây nên tình trạng thiếu đói cho hàng triệu người ở
các nước đang phát triển. Theo ước tính của FAO, khoảng 1,5 tỷ người tương
đương ¼ dân số thế giới sống phụ thuộc trực tiếp vào đất, vốn đang bị thoái hoá
mạnh. Trong thời gian dài, thoái hóa đất đang mở rộng trên phạm vi toàn thế giới và
tác động tới hơn 20% diện tích đất nông nghiệp, 30% đất lâm nghiệp và 10% đất
đồng cỏ. Sự xói mòn đất dẫn tới việc giảm năng suất đất đây cũng là nguy cơ mất
an ninh lương thực, phá hoại các nguồn tài nguyên và sinh thái làm mất đa dạng
sinh học và các nguy cơ khác[18].
Việc con người khai thác và sử dụng bừa bãi không có khoa học làm cho đất
nông nghiệp giảm về cả số lượng. Nhiều vùng đất trên thế giới đã trở thành sa mạc
không thể canh tác được, các hệ sinh thái đất khô cằn rất nhạy cảm với việc khai
thác quá mức và sử dụng đất không hợp lý. Nghèo đói, mất ổn định chính trị, phá
rừng, chăn thả quá mức và các hoạt động tưới tiêu nghèo nàn đều đóng góp vào sa
mạc hóa. Tại Châu Phi, phía nam Sahara, với 66% đất đai là sa mạc khô cằn đây là
vùng đất đang gặp rất nhiều nguy cơ. Khoảng 1,2 tỷ người của hơn 110 nước đang
bị đe dọa bởi vấn đề này[40].
Hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị tàn phá, nhiều nhất ở vùng Châu
Mỹ Latinh và Châu Á. Braxin hàng năm mất 1,7 triệu ha rừng, Ấn Độ 1,5 triệu ha
rừng, Inđônêxia 900.000 ha và Thái Lan gần 400.000 ha. Đối với các nước có dân
số đông như Trung Quốc, Ấn Độ... sự suy thoái hóa đất ở, đất rừng đã tác động
đáng kể tới nông nghiệp. Đối với các nước như Campuchia, Lào... nạn phá rừng làm
củi đun, làm nương rẫy, xuất khẩu gỗ, chế biến các sản phẩm từ gỗ phục vụ cho
cuộc sống của cư dân đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng vốn phong phú [39].
Việc tàn phá rừng kéo theo sự hủy diệt của nhiều loài động vật, thực vật và
làm mất tính đa dạng sinh học tự nhiên. Cân bằng sinh thái bị phá vỡ làm hàng triệu
ha đất bị hoang mạc hóa[22].
nghìn ha. Trong cả nước, tỉnh có diện tích đất nông nghiệp lớn nhất là Gia Lai với
49,5 nghìn ha [32].
Trong đất sản xuất nông nghiệp được sử dụng chủ yếu và các mục đích như
trồng cây hàng năm và cây lâu năm. Tính tới ngày 1/1/2007 thì đất trồng cây hàng
năm có diện tích là 13.495,2 nghìn ha, trong đó: đất trồng cây lương thực có hạt là
10.862,7 nghìn ha với sản lượng 39.976,6 nghìn tấn, cây công nghiệp hàng năm là
8.270,2 nghìn ha. Diện tích đất trồng cây lâu năm là 2.632,5 nghìn ha, trong đó diện
tích cây ăn quả là 1.796,6 nghìn ha [32].
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người ở nước ta thuộc loại
thấp khoảng 0,11 ha/người. Tại đồng bằng sông Hồng quân đạt 0,04 ha/người, tại
đồng bằng sông Cửu Long là khoảng 0,15 ha/người [33].
Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, nông nghiệp Việt Nam
đi qua chặng đường dài phát triển đã có những thành tựu nổi bật, nhưng cũng đã có
những sự thay đổi về số lượng cũng như chất lượng đất nông nghiệp.
Thực tế mấy năm trở lại đây, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại. Dễ nhận thấy một
điều là diện tích đất trồng lúa ngày càng bị thu hẹp do quá trình thu hồi đất nông
nghiệp để chuyển sang xây dựng đô thị và các khu công nghiệp.
Tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp năm 2010 của cả nước so với năm
2005 tăng 1.277.600 ha, trong đó tăng chủ yếu ở loại đất sản xuất nông nghiệp, đất
lâm nghiệp, tình hình tăng giảm các loại đất nông nghiệp cụ thể như sau:
Bảng 1.1. Biến động đất nông nghiệp của cả nƣớc
ST
T
Chỉ tiêu
Năm 2010
Đất trồng cây hàng năm
6.437.293
6.370.029
67.264
- Đất trồng lúa
4.127.731
4.165.277
-37.546
1.2
Đất trồng cây lâu năm
3.680.600
3.045.539
635.061
2
Đất lâm nghiệp
2.140.225
2.068.864
71.361
3
Đất nuôi trồng thuỷ sản
690.218
700.061
-9.843
4
Đất làm muối
17.562
14.075
3.487
5
Đất nông nghiệp khác
dụng các chất hữu cơ trong sản xuất, việc triển khai các công trình giao thông,… Sự
suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy thoái các quần thể động, thực vật và chiều
hướng giảm diện tích đất nông nghiệp trên đầu người đã tới mức báo động [11].
Việt Nam hiện nay có khoảng 9,3 triệu ha đất liên quan tới sa mạc hoá,
chiếm 28% tổng diện tích đất trên toàn quốc. Trong đó trên 5 triệu ha đất chưa sử
dụng, khoảng 2 triệu ha đất đang được sử dụng nhưng đã bị thoái hoá nặng và 2
triệu ha đang có nguy cơ thoái hóa cao. Nước ta đã xuất hiện hiện tượng sa mạc hoá
cục bộ tại các giải đất hẹp dọc bờ biển miền Trung [38].
Bên cạnh đó vấn đề ô nhiễm môi trường đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện
nay đang là một trong những vấn đề nghiêm trọng. Các nguyên nhân ô nhiễm đất
nông nghiệp hiện nay gồm những nguyên nhân chủ yếu sau: ô nhiễm đất vì nước
thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, ô nhiễm đất vì chất phế thải bởi các nguồn
chất thải rắn, ô nhiễm đất do sử dụng phân bón hoá học và nông dược trong canh tác
sản xuất nông nghiệp. Thuốc trừ sâu đồng thời với việc diệt các côn trùng gây hại,
còn dẫn đến ngộ độc đất đai ảnh hưởng đến môi trường đất của nước ta hiện nay.
Một ví dụ cụ thể, hai thành phố lớn nhất của nước ta là Hà Nội và Hồ Chí
Minh, nơi có dân cư đông đúc và nhiều các khu công nghiệp lớn thì hầu hết sông
ngòi đều bị ô nhiễm, chất lượng môi trường không khí suy giảm. Phần lớn lượng
nước thải sinh hoạt (khoảng 600.000 m3/ngày, với khoảng 250 tấn rác được thải ra
các sông ở khu vực Hà Nội) và công nghiệp (khoảng 260.000 m3 và chỉ có 10%
được xử lý) đều không được xử lý mà đổ thẳng vào các ao hồ, sau đó chảy ra các
con sông lớn tại vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mê Kông [6], nơi mà được coi
là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất nông nghiệp ở nước ta. Do đó, chất
lượng đất nông nghiệp của nước ta hiện nay đang có nguy cơ bị ô nhiễm.
Đây thực sự là những vấn đề đáng lo ngại và là thách thức lớn với một nước
nông nghiệp như nước ta hiện nay, việc sử dụng đất nông nghiệp, đặc biệt là đất
trồng lúa thiếu thận trọng vào bất cứ việc gì cũng đều lãng phí và gây ra những hậu
quả khó lường.
Tính đến giữa năm 2008, trên phạm vi cả nước đã có gần 200 khu công
nghiệp, phân bố trên địa bàn 52 tỉnh, thành phố với trên 6.000 dự án đầu tư trong,
ngoài nước, thu hút hơn 1.000.000 lao động. Phần lớn diện tích các khu công
nghiệp, khu chế xuất là đất nông nghiệp và lực lượng chủ yếu bổ sung vào đội ngũ
lao động công nghiệp là nông dân [24].
Những năm qua, hệ thống đô thị Việt Nam đang trong quá trình phát triển.
Đến cuối năm 2007, cả nước có trên 700 điểm cư dân đô thị, tăng hơn 40% so với
năm 1995. Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sử tiếp tục được mở mang, nâng
cấp, đáng chú ý là sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu đô thị mới tập trung, trong
đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng toả rộng, tạo thành những nét mới ở nông
thôn [24].
Quá trình đô thị hóa dẫn đến tỉ lệ dân cư thành thị tăng liên tục từ 20% năm
1990 lên gần 30% vào năm 2009 trong khi dân cư nông thôn giảm từ 80% xuống
còn hơn 70% trong cùng thời kỳ này. Tuy nhiên, tốc độ ĐTH diễn ra không đồng
đều: vùng Đông Nam Bộ đạt mức đô thị hóa cao nhất với dân số thành thị chiếm
57,1%, xếp vị trí thứ hai là vùng Đồng bằng Sông Hồng có mức đô thị hóa tương
đối cao với 29,2%. Hiện nay, Việt Nam có 5 thành phố lớn trực thuộc Trung ương
là: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ; đồng thời
Việt Nam có hàng chục thành phố thuộc tỉnh. Điều này chứng tỏ tốc độ CNH –
ĐTH ở Việt Nam đang có xu hướng tăng nhanh[16].
Đô thị hóa diễn ra nhanh chóng kéo theo sự tích tụ dân cư ở thành thị và
giảm diện tích đất ở bình quân đầu người ở thành thị. Thành thị tuy chật chội, đông
đúc nhưng luôn là trung tâm thu hút trí thức đến sinh sống và làm việc. Kết quả
tổng kiểm kê đất đai từ 2001 - 2005 cho thấy, cả nước có 598.428 ha đất ở chiếm
18,51% tổng diện tích đất phi nông nghiệp, chiếm 1,81% tổng diện tích đất tự nhiên
cả nước, tăng 155.250 ha so với năm 2000[12].
Theo Vụ Đăng ký Thống kê đất đai (Bộ Tài nguyên & Môi trường), diện tích
đất ở bình quân đầu người của cả nước hiện nay là 71,99 m2/người. Trong đó vùng
các xí nghiệp hoạt động ở nông thôn) hoạt động như các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh nhằm chuyển giao các thành tựu của công nghệ sinh học (lai tạo giống lúa,
cây trồng và vật nuôi), thủy lợi hóa, cơ giới hóa và hóa học hóa nông nghiệp tại
các vùng nông nghiệp ven đô để tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao
phục vụ cho dân cư đô thị và xuất khẩu.
- Nhật Bản: quá trình công nghiệp hóa cũng bắt đầu bằng thời gian dài
tăng trưởng trong nông nghiệp. Nhật Bản là nước luôn bị giới hạn bởi tài nguyên
đất đai ít và dân số đông. Diện tích đất canh tác bình quân của 1 hộ nông dân
khoảng 0,8 ha. Trong 2 thập kỷ từ 1979 - 1999 quá trình đô thị hóa đã làm đất
nông nghiệp của Nhật Bản bình quân mỗi năm giảm 1% (48,7 nghìn ha/năm) và
diện tích đất nông nghiệp đã giảm từ 5,4 triệu ha xuống còn 4,9 triệu ha. Để đảm
bảo thu nhập cho nông dân bị mất đất nông nghiệp chính phủ Nhật đã đưa ra
đường lối phát triển nông nghiệp để củng cố sản xuất nông nghiệp trong nước và
xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp ra nước ngoài. Đó là tập trung sản xuất một số
loại nông sản có giá trị kinh tế cao, sử dụng ít đất và lao động, thực hiện nông
nghiệp sinh thái để tăng thu nhập cho nông dân. Cải cách phương thức sản xuất lúa
gạo theo hướng hình thành trang trại quy mô lớn, sử dụng khoa học hiện đại để
giảm giá thành sản phẩm và áp dụng hệ thống cơ khí nhỏ phù hợp với canh tác lúa
và hộ nông dân quy mô nhỏ. Tổ chức các mạng lưới xí nghiệp công nghiệp ở nông
thôn để tận dụng nguồn lao động dư thừa.
- Hàn Quốc: tổng diện tích đất canh tác của Hàn Quốc là 2,1 triệu ha, quá
trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đã làm diện tích đất nông nghiệp của Hàn
Quốc mất hàng năm khoảng 1,4%/năm (28,8 nghìn ha/năm) cho phát triển công
nghiệp, du lịch và các hoạt động ngoài nông nghiệp. Để sản xuất nông nghiệp
trong điều kiện đất canh tác vùng ven đô ít, giá công lao động cao, từ đầu những
năm 1990 nông nghiệp Hàn Quốc chuyển sang nông nghiệp công nghệ cao nhờ
ứng dụng thành tựu của công nghệ sinh học, hóa học và điện tử vào nông nghiệp.
- Đài Loan: diện tích đất canh tác của Đài Loan rất nhỏ chỉ khoảng 851,5
Lắng đọng axít thường xảy ra ở các khu vực có mức độ công nghiệp hóa
cao. Hiện nay ở châu Á, các nước như: Trung Quốc, Nhật bản, Ấn Độ, Thái Lan và
Hàn Quốc là các quốc gia có lượng phát thải SO2 và NO2 đáng kể. Theo thời gian,
đất và nước mặt dần bị axit hóa làm cho Al3+ và Mn2+ tăng nhanh gây độc cho các
loại cây trồng, đặc biệt là cây họ đậu và cây ngũ cốc rất mẫn cảm với hàm lượng
Al3+ trong đất. Một nghiên cứu năm 1990 đã đánh giá thiệt hại do lắng đọng axit
đối với sản xuất nông nghiệp ở châu Âu khoảng 30 tỷ USD/năm.
1.4.2. Trong nước
1.4.2.1. Nghiên cứu về phát triển công nghiệp, đô thị và phát triển nông nghiệp,
nông thôn
Ở Việt Nam, quá trình CNH được thực hiện từ những năm 1960, kể từ sau
đổi mới, nền kinh tế càng phát triển thì quá trình CNH - ĐTH diễn ra càng nhanh.
Đến 2008 số dân cư đô thị đã chiếm tới 28% tổng dân cư toàn quốc với khoảng
700 trung tâm đô thị lớn nhỏ. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến hết tháng 7 năm
2007 cả nước đã có 150 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 32,3
ngàn ha. Việc xây dựng các KCN, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội có vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa và có tác động rõ đến
phát triển nông nghiệp và nông thôn như: tạo ra thị trường tiêu thụ nông sản, thúc
đẩy nhanh sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, tạo cơ hội cho việc ứng dụng các
thành tựu trong chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác,... hình thành các khu nông
nghiệp công nghệ cao để tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa đáng kể góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, góp phần chuyển đổi nền nông nghiệp
truyền thống, thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng nông nghiệp
hàng hóa mạnh, có sức cạnh tranh cao trên thị trường nội địa và xuất khẩu [25].
1.4.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa, đô thị hóa đến số lượng,
chất lượng đất và sản xuất nông nghiệp
Theo quy hoạch sử dụng đất đến 2010 của BTNMT, diện tích đất nông
nghiệp sẽ tăng từ 8.973.783 ha (năm 2000) lên 9.363.063 ha (năm 2010). Tuy
thị, khiến 9% số hộ mất 80-100% đất sản xuất, 20% số hộ mất 50-80%.
Theo Quy hoạch và Kế hoạch phát triển đất các KCN tập trung ở vùng kinh
tế trọng điểm Bắc bộ do BTNMT lập đầu năm 2007. Trong giai đoạn 5 năm (2006
- 2010), quỹ đất phát triển các khu công nghiệp ở một số tỉnh là: Hà Tây từ 2.243
ha lên 17.000 ha (cắt thêm 14.757 ha đất cho khu công nghiệp); Bắc Ninh 1.062 ha
lên 7.000 ha; Hưng Yên từ 102 ha lên 4.080 ha; Hải Dương từ 975 ha lên 6.000 ha.
Việc mở rộng chừng đó đất công nghiệp là mất đi chừng đó đất nông nghiệp [20].
Nghiên cứu cơ sở khoa học và các giải pháp kinh tế kỹ thuật nhằm phát
triển nông nghiệp, nông thôn ven đô thành phố Hà Nội, Lê Quốc Doanh cho rằng
quá trình đô thị hoá vừa tạo ra những ảnh hưởng tích cực cho nông nghiệp vừa có
những ảnh hưởng tiêu cực. Tích cực là vì nó tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm,
thu hút lao động dư thừa từ nông nghiệp... Tiêu cực là gia tăng ô nhiễm, ngập úng,
mất đất nông nghiệp, không gian nông thôn bị phá vỡ. Lợi thế của nông nghiệp đô
thị so với những vùng nông nghiệp khác không chỉ là điều kiện tự nhiên, đất đai,
khí hậu mà là khoảng cách với thị trường. Khai thác lợi thế này, nông nghiệp Hà
Nội đang hướng đến việc sản xuất các sản phẩm tươi sống và có khối lượng lớn.
Nông nghiệp đô thị Hà Nội đang phát triển hình thành các vành đai nông nghiệp
khác nhau, được phân biệt bởi các mức độ đa dạng, khả năng thâm canh, khả năng
thích ứng với những điều kiện mới của quá trình đô thị hoá ở mỗi vùng [12].
Theo Phạm Ngọc Đăng, việc mở rộng không gian đô thị và các khu công
nghiệp sẽ dẫn đến chiếm dụng đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến vấn đề an toàn
lương thực quốc gia nói chung và ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân ngoại
thành nói riêng như: mất đất, mất kế sinh nhai, các ảnh hưởng này có tính lâu dài
và phức tạp. Đô thị hóa dẫn đến tài nguyên đất bị khai thác triệt để, tỷ lệ diện tích
cây xanh và mặt nước trong đô thị bị giảm, gây nên ngập úng cục bộ ở nội thành
cũng như ngoại thành. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng, phát sinh nhiều chất thải
gây ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí và chất thải rắn ngày càng tăng
thêm. Đô thị hóa cũng làm tăng dòng người di dân từ nông thôn ra thành thị làm
nặng. Nguyên nhân là do các làng nghề có quy mô nhỏ hộ gia đình, công nghệ lạc
hậu, thủ công, thiếu đồng bộ do hạn chế về vốn đầu tư và trình độ kỹ thuật.
Các kết quả nghiên cứu của Lê Đức, Lê Văn Khoa cho thấy: trong 21 mẫu
đất phân tích ở khoảng cách dưới 30m của làng nghề tái chế chì xã Chỉ Đạo huyện
Văn Lâm tỉnh Hưng Yên đều có hàm lượng chì lớn hơn 100ppm, vượt quá tiêu
chuẩn cho phép từ 3 - 48 lần. Hàm lượng đồng 24 mẫu phân tích ở khoảng cách
dưới 300m của làng nghề tái chế đồng xã Đại Đồng huyện Văn Lâm tỉnh Hưng
Yên đều vượt quá tiêu chuẩn từ 1,6 - 6,2 lần... Môi trường đất, nước, không khí bị
ô nhiễm đã ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng dân cư, tác động xấu đến cây trồng
vật nuôi, làm tăng sự tích lũy các kim loại nặng trong sản phẩm, ảnh hưởng đến
sức khỏe người tiêu dùng [10].
Các nghiên cứu của Phạm Bình Quyền, Nguyễn Xuân Thành và bộ môn
Thổ nhưỡng - Môi trường đất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN
cũng cho thấy đất đai xung quanh các khu công nghiệp Văn Điển, Hanel - Sài
Đồng, hóa chất Đức Giang… bị ô nhiễm kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn cho
phép do ảnh hưởng của các chất thải công nghiệp, đô thị. Việc ô nhiễm môi trường
đất gây ra do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá mức tại các vùng nông nghiệp
thâm canh cao cũng đã trở thành vấn đề được quan tâm [27].
Trong quá trình nghiên cứu biến động môi trường do thực hiện quy hoạch
phát triển kinh tế xã hội, các biện pháp kiểm soát bảo đảm phát triển bền vững
vùng Đồng bằng sông Hồng, Phan Huy Chi cho rằng trong thời gian qua ở vùng
đồng bằng sông Hồng ô nhiễm kim loại nặng trong đất chỉ diễn ra cục bộ ở xung
quanh các khu công nghiệp cũ, các làng nghề tái chế kim loại, ô nhiễm hóa chất
bảo vệ thực vật xảy ra ở các vùng trồng rau thâm canh cao ngoại thành Hà Nội. Dự
báo đến năm 2010, ô nhiễm NO3 chỉ xuất hiện cục bộ ở vùng thâm canh, chuyên
canh nông nghiệp, không đến mức đe dọa cả vùng, ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực
vật có xu hướng giảm, ô nhiễm kim loại nặng phụ thuộc nhiều vào mức độ đầu tư
đổi mới công nghệ, khắc phục ô nhiễm của các cơ sở sản xuất...[4].
đơn vị hành chính: 25 xã và 01 thị trấn. Có vị trí địa lý:
- Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên;
- Phía Nam giáp huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội;
- Phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh;
- Phía Tây giáp huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
Huyện có vị trí cửa ngõ của Thủ đô Hà Nội: cửa ngõ phía Bắc theo Quốc lộ
3, cửa ngõ phía Tây theo Quốc lộ 2, cửa ngõ phía đông theo Quốc lộ 18. Đây là địa
bàn có vị trí thuận lợi với hệ thống giao thông đối ngoại phát triển, đặc biệt là cảng
hàng không quốc tế Nội Bài, các trục quốc lộ Hà Nội - Thái Nguyên, Bắc Ninh Hà Nội - Việt Trì, vì vậy có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nhanh nền kinh
tế - xã hội.
1.5.1.2. Địa hình, địa chất
Sóc Sơn là vùng bán sơn địa với 3 loại địa hình chính: vùng đồi gò, vùng
chuyển tiếp và vùng đồng bằng ven sông.
a/ Vùng đồi gò của Sóc Sơn là hệ thống núi thấp và đồi gò, là một phần
kéo dài về phía đông của dãy núi Tam Đảo, có độ cao trung bình 200-300 m so với
mặt nước biển. Đỉnh núi cao nhất là núi Hàm Lợn cao 485m, Cánh Tay với đỉnh
332m, núi đền Sóc với đỉnh 308m, điểm thấp nhất của vùng này là 20m. Địa hình
của vùng đồi gò thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, địa hình ở đây chia cắt
tương đối mạnh, sườn dốc lưu vực ngắn; độ dốc trung bình từ 20-250.
Theo kết quả điều tra phục vụ điều chỉnh quy hoạch rừng Sóc Sơn đối với
khoảng 5.830 ha đất đồi gò cho thấy:
Nếu phân theo độ cao: ở độ cao từ (100-200) m có khoảng 1.100 ha, độ cao
từ (200-300) m có khoảng 670 ha, độ cao trên 300 m có khoảng 500 ha, còn lại ở
độ cao dưới 100 m (khoảng 3.560 ha). Có thể nhận thấy là đất đồi gò ở Sóc Sơn
tập trung chủ yếu ở độ cao dưới 200 m.
Phân theo cấp độ dốc: ở độ dốc dưới 70 có diện tích 2.030 ha, từ 8-150 có
diện tích 1.310 ha, từ 16-250 có diện tích 1.360 ha, từ 26-350 có diện tích 770ha, độ
dốc trên 350 có diện tích 360 ha.
nguồn của Sóc Sơn, với tổng diện tích 172 ha.
- Đất phù sa không được bồi dưới có sản phẩm feralitic (Pf), với tổng diện
tích 1.209 ha, đây cũng là sản phẩm đặc trưng của các khu vực tiếp giáp giữa đồng
bằng với vùng đồi gò. Đất phù sa được hình thành do quá trình bồi lắng phù sa của
các con sông, đã có sự phân hoá theo thời gian, không gian.
Nhìn chung các vùng đất phù sa tương đối bằng phẳng thành phần cơ giới
đất từ thịt trung bình đến thịt nặng; thành phần dinh dưỡng khá, hàm lượng mùn đạt
2 - 3%, đạm 0,15 - 0,20%. Nhóm đất này thích hợp với nhiều loại cây trồng
b/ Đất bạc màu bao gồm 2 loại:
- Đất bạc màu phát triển trên phù sa cũ có sản phẩm feralitic (Ba), đây là loại