Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị truyền thống tại các DNVVN trên địa bàn tây nguyên - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

VƯƠNG THỊ NGA

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
VIỆC VẬN DỤNG CÔNG CỤ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
TRUYỀN THỐNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH


Đà Nẵng - Năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

VƯƠNG THỊ NGA

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
VIỆC VẬN DỤNG CÔNG CỤ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
TRUYỀN THỐNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN

Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH


CHƯƠNG 2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU.....................................................24
2.1. CÂU HỎI VÀ GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU..............................................24
2.1.1. Câu hỏi nghiên cứu.......................................................................24
2.1.2. Xây dựng giả thiết.........................................................................25


2.2. ĐO LƯỜNG CÁC NHÂN TỐ..................................................................30
2.3. THU THẬP DỮ LIỆU...............................................................................34
2.3.1. Thiết kế bảng câu hỏi....................................................................35
2.3.2. Thu thập dữ liệu............................................................................36
2.4. XỬ LÝ SỐ LIỆU......................................................................................37
2.4.1. Thống kê mô tả..............................................................................37
2.4.2. Phương pháp đánh giá thang đo....................................................38
2.4.3. Phân tích nhân tố...........................................................................40
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU......................................................42
3.1. THỰC TRẠNG VẬN DỤNG KTQT TRUYỀN THỐNG TRONG CÁC
DNNVV ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN..............................................................42
3.1.1. Tỷ lệ sử dụng các công cụ KTQT truyền thống............................42
3.1.2. Mức độ sử dụng các công cụ KTQT truyền thống........................48
3.2. LỢI ÍCH VÀ CHI PHÍ CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÁC CÔNG CỤ KTQT..56
3.2.1. Lợi ích của việc áp dụng các công cụ KTQT................................57
3.2.2. Chi phí của việc sử dụng các công cụ KTQT...............................59
3.3. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG
KTQT TẠI CÁC DNVVN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN...................................59
3.3.1. Đánh giá độ tin cậy của các nhân tố..............................................59
3.3.2. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)..................................63
3.3.3. Ảnh hưởng của các nhân tố đến việc vận dụng và mức độ vận
dụng công cụ KTQT truyền thống tại các DNVVN khu vực Tây Nguyên....65
CHƯƠNG 4. HÀM Ý CHÍNH SÁCH...........................................................79
4.1. TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...................................................79

Doanh nghiệp
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và lớn
Thương mại và dịch vụ
Sản xuất


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1.

Tên bảng
Thống kê số lượng DN được khảo sát theo các đặc tính khác

nhau
3.1 Tỷ lệ sử dụng công cụ KTQT truyền thống
3.2 Tỷ lệ sử dụng công cụ tính giá theo đặc tính DN
3.3a Tỷ lệ sử dụng công cụ dự toán theo đặc tính DN
3.3b Tỷ lệ sử dụng công cụ dự toán theo đặc tính DN
3.4 Tỷ lệ sử dụng công cụ đánh giá thành quả theo đặc tính DN
3.5 Tỷ lệ sử dụng công cụ hỗ trợ ra quyết định theo đặc tính DN
Mức độ sử dụng công cụ KTQT truyền thống (của tất cả các
3.6
DN được khảo sát kể cả DN không sử dụng)
So sánh mức độ sử dụng các công cụ KTQT giữa DNVVN
3.7
với DNVVL ở Việt Nam

Trang

3.15b2
Phân cấp quản lý
Kết quả kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha thang đo
3.15b3
Trình độ của nhà quản trị và nhân viên kế toán
Kết quả kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha thang đo
3.15b4
Thái độ của nhà quản trị
Kết quả kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha thang đo
3.15b5
Công nghệ
3.16 Kết quả kiểm định KMO and Bartlett's Test
Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng
3.17
kế toán quản trị của DNNVV ở khu vực Tây Nguyên
Kết quả phân tích hồi quy logistics đối với các nhân tố ảnh
3.18 hưởng đến khả năng vận dụng công cụ tính giá của các

51
53
52
54
55
57
58
59
59
60
60
61

3.24a
3.24b

Kết quả phân tích hồi quy công cụ tính giá
Tóm tắt mô hình công cụ dự toán
Kết quả phân tích hồi quy công cụ dự toán
Tóm tắt mô hình công cụ đo lường thành quả
Kết quả phân tích hồi quy công cụ đo lường thành quả
Tóm tắt mô hình hỗ trợ ra quyết định
Kết quả phân tích hồi quy công cụ hỗ trợ ra quyết định

72
73
74
75
76
76
77


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam đã không
ngừng thay đổi để hoàn thiện mình và bắt kịp với xu thế thời đại. Nhà nước đã
có rất nhiều chính sách để thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như khuyến
khích các DN trong nước xuất khẩu sang thị trường thế giới. Đặc biệt, việc
chuyển nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đã
thúc đẩy quá trình cổ phần hóa DN cũng như sự đa dạng hóa thành phần kinh
tế diễn ra mạnh mẽ. Sự thay đổi hình thức DN đã làm cho nhu cầu về thông
tin kế toán cũng thay đổi theo, đặc biệt là thông tin về KTQT. Điều này đã

toán quản trị truyền thống tại các DNVVN trên địa bàn Tây Nguyên” làm
luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục tiêu của đề tài
- Làm rõ cơ sở lý luận về các công cụ KTQT truyền thống, các nhân tố
ảnh hưởng đến việc áp dụng các công cụ KTQT truyền thống tại các DN.
- Thông qua kết quả điều tra thực nghiệm, xác định mức độ áp dụng các
công cụ KTQT truyền thống trong các DN trên địa bàn Tây Nguyên, xác định
các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT truyền thống, qua đó đề xuất
các chính sách phù hợp giúp các DNVVN áp dụng tốt các công cụ KTQT
truyền thống.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là việc vận dụng KTQT truyền thống và các nhân
tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT truyền thống trong các DNVVN thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau
trên địa bàn Tây Nguyên.


2
4. Phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát, điều tra dữ liệu sơ cấp bằng bảng câu hỏi và phỏng vấn.
- Phân tích dữ liệu định lượng bằng các thống kê mô tả, phân tích hồi
quy đa biến để xác định nhân tố ảnh hưởng.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu này cung cấp một số gợi ý cho các nhà quản trị DN, các tổ
chức giáo dục quản trị kinh doanh cũng như các nhà hoạch định chính sách ở
Việt Nam. Cụ thể, nhà quản trị DNVVN cần tạo điều kiện cho các công cụ
KTQT truyền thống được sử dụng rộng rãi, đồng thời cần khuyến khích đơn vị
mình sử dụng KTQT nhiều hơn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của
DN. Đối với các tổ chức giáo dục, cần đưa vào giảng dạy nội dung KTQT phù
hợp với DNVVN. Về phía quản lý Nhà nước cần có những chính sách phù hợp

quyết định, nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức”. Trong khi đó, Hilton và
Platt (2001), cho rằng KTQT là một bộ phận trong hệ thống thông tin của một
tổ chức, các nhà quản lý dựa vào thông tin KTQT để hoạch định và kiểm soát
hoạt động của tổ chức.
Theo luật kế toán Việt Nam, KTQT được định nghĩa là “việc thu thập, xử
lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu
quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán (Luật kế
toán số 03/2003/QH11, khoản 3, điều 4).
Nói tóm lại, KTQT là một bộ phận của kế toán, có trách nhiệm đáp ứng
cả nhu cầu thông tin tài chính và phi tài chính của quản lý kinh doanh với mục
đích hỗ trợ tất cả các cấp quản trị trong việc lập kế hoạch, ra quyết định và


4
kiểm soát các hoạt động của một tổ chức, giúp họ đưa ra quyết định tốt hơn
(Drury, 2005).
b. KTQT truyền thống và KTQT hiện đại
Định nghĩa
Cùng với quá trình phát triển kinh tế thế giới, KTQT cũng không ngừng
phát triển và hoàn thiện. Để giúp DN thích ứng với môi trường kinh tế đầy
cạnh tranh và nhanh biến đổi, bên cạnh các công cụ KTQT đã ra đời và tồn tại
từ trước đến nay như tính giá theo phương pháp toàn bộ, tính giá theo phương
pháp trực tiếp, các công cụ dự toán hoạt động hay phân tích điểm hòa vốn thì
nhiều công cụ KTQT mới đã xuất hiện. Dựa vào thời gian ra đời và phát triển
cũng như mục đích vận dụng các công cụ KTQT trong quá trình quản lý DN,
các nhà nghiên cứu đã phân chia các công cụ KTQT thành hai nhóm khác
nhau là KTQT truyền thống và KTQT hiện đại nhưng cho đến thời điểm này
việc phân loại giữa 2 nhóm công cụ này còn mang tính tương đối. Trên cơ sở
một số kết luận từ các nghiên cứu trước đây và một số tài liệu về KTQT, có
thể xem KTQT truyền thống và KTQT hiện đại như sau:

các đơn vị kinh doanh khác trong cùng một ngành nghề hoặc thậm chí khác
ngành nghề kinh doanh để nỗ lực tạo ra những cải thiện hoạt động của đơn vị.
Hiểu được các chiến lược của các đơn vị thành công khác hoặc điều tra những
lí do mà đơn vị khác lựa chọn một chiến lược cụ thể sẽ rất hữu ích cho DN
tiếp thu và rút ra kinh nghiệm cho chính DN mình.
So sánh một số điểm khác nhau giữa KTQT truyền thống và KTQT
hiện đại.
Thứ nhất, đó là mối quan hệ với chiến lược của DN. Có thể hiểu rằng
KTQT truyền thống là một bộ phận của KTQT, bao gồm các công cụ, kỹ thuật
được thiết kế để tính toán, đo lường, đánh giá, phân tích và truyền đạt những
thông tin liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực của tổ chức chủ yếu về


6
mặt tài chính ở bên trong DN và không có sự gắn kết với các chiến lược của
DN còn KTQT hiện đại thì đặt trọng tâm vào vấn đề chiến lược của DN và
dựa trên cả thông tin tài chính và phi tài chính, cả quá khứ và định hướng
tương lai, đồng thời những thông tin này có được từ cả bên trong và bên ngoài
DN (Chenhall và Langfield-Smith, 1998; Sulaiman và cộng sự, 2004).
Thứ hai, nếu như KTQT truyền thống chủ yếu nhấn mạnh vai trò của
thông tin tài chính trong việc ra quyết định thì KTQT hiện đại chú trọng hơn
vào thông tin phi tài chính và hướng về các đối tượng bên ngoài DN như đối
thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung cấp...
1.1.2. Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu KTQT
a. Lý thuyết khuếch tán và KTQT
“Khuếch tán là tiến trình mà cái mới (innovation) được truyền đi thông
qua những kênh nhất định theo thời gian trong một nhóm người” (Rogers,
2003, p. 11).
“Cái mới” có thể là một ý tưởng, một công cụ hay một đối tượng được
xem là mới đối với một nhóm người (Rogers, 1983). Có thể ý tưởng hay công

động. Nói cách khác, không thể xây dựng một mô hình KTQT khuôn mẫu áp
dụng cho tất cả các DN mà việc vận dụng KTQT vào DN phải tùy thuộc vào
đặc thù từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đồng thời phải phù
hợp với cơ cấu tổ chức, quy mô DN, trình độ công nghệ sản xuất và chiến
lược tổ chức trong từng giai đoạn. Chẳng hạn như nghiên cứu của Fatma
Ayady & Habib Affes (2014) cho thấy có sự khác nhau trong việc sử dụng các
công cụ KTQT mới giữa các DN. Lý giải cho nguyên nhân này, các tác giả đã
sử dụng lý thuyết ngữ cảnh. Cụ thể, có các nhân tố ngữ cảnh ảnh hưởng đến
việc sử dụng các công cụ KTQT mới như môi trường kinh doanh không chắc
chắn, chiến lược chung về chi phí thống trị, mối quan hệ về vốn với nhà cung
cấp, cấu trúc tổ chức hay quy mô DN.... Điều này có nghĩa là việc xây dựng


8
một hệ thống KTQT hiệu quả phải thích hợp với từng DN, với môi trường
bên trong và bên ngoài mà DN đó đang hoạt động.
Lý thuyết ngữ cảnh được sử dụng trong nghiên cứu này để giải thích
những nhân tố ảnh hưởng đến việc vận KTQT truyền thống của các DN trên
địa bàn Tây Nguyên.
1.2. VẬN DỤNG KTQT Ở CÁC NƯỚC
1.2.1. Vận dụng KTQT ở các nước phát triển
Nghiên cứu của Chenhall và Langfield-Smith (1998) về việc áp dụng 42
công cụ KTQT (gồm cả công cụ KTQT hiện đại và công cụ KTQT truyền
thống) ở Úc, các công cụ này được chia thành 5 nhóm dựa trên chức năng gồm
dự toán tài chính, dự toán hoạt động, tính giá, đánh giá thành quả, hỗ trợ cho
việc ra quyết định. Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các công cụ này được
sử dụng trong các công ty được khảo sát, tuy nhiên, tỉ lệ áp dụng của các công
cụ KTQT truyền thống cao hơn so với các công cụ KTQT hiện đại.
Pistoni và Zoni (2000) đã tiến hành một cuộc khảo sát của 86 tổ chức giáo
dục đại học trong số 16 quốc gia ở châu Âu. Họ phát hiện ra rằng hầu hết các

Lucas và Malcolm Prowle đã chỉ ra những công cụ KTQT không được sử
dụng ở các DNVVN đó là phân tích chi phí biến đổi tiêu chuẩn, phân tích chi
phí liên quan đến việc ra quyết định, công cụ giải quyết những vấn đề rủi ro
và không chắc chắn cũng như một số các công cụ KTQT chiến lược khác...;
đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra một số công cụ không được các DN nhỏ sử
dụng như dự toán theo mẫu, phân tích mối quan hệ chi phí – sản lượng – lợi
nhuận và kế toán trách nhiệm.
1.2.2. Vận dụng KTQT ở các nước đang phát triển
Nghiên cứu về vận dụng KTQT tại các nước đang phát triển cũng khá
phong phú với nhiều kết quả khác nhau. Tại Thái Lan, một khảo sát của
Phadoongsitthi (2003) chỉ ra rằng các DN thuộc khu vực sản xuất và dịch vụ


10
của nước này lựa chọn các công cụ dự toán, lập kế hoạch và đánh giá thành
quả hơn là sử dụng các công cụ như chi phí mục tiêu, phân tích chi phí vòng
đời sản phẩm và ZBB. Kết quả này cũng tương tự đối với một nghiên cứu của
Nimtrakoon (2009) về việc sử dụng công cụ KTQT ở Thái Lan.
Tổng kết lại việc sử dụng KTQT tại các nước đang phát triển (Trung
Quốc, Ấn Độ và Malaysia), Sulaiman và cộng sự (2004) nhận thấy rằng song
song với việc sử dụng các công cụ KTQT mới thì các công cụ KTQT truyền
thống vẫn còn chiếm một vị trí rất lớn trong DN, đặc biệt là công cụ dự toán
ngân sách.
Hay nghiên cứu của Hutaibat (2005) về thực trạng sử dụng các công cụ
KTQT tại các DN công nghiệp ở Jordan cũng chỉ ra rằng các DN này vẫn sử
dụng phần lớn các công cụ KTQT truyền thống hơn là các công cụ mới phát
triển. Một nghiên cứu khác của Leftesi (2008) cũng phát hiện ra hiện trạng sử
dụng các công cụ KTQT ở các DN ở Libya, mặc dù mức độ sử dụng không
cao nhưng vẫn thể hiện được tỷ lệ sử dụng công cụ KTQT truyền thống cao
hơn so với các công cụ KTQT hiện đại.

Scherrer (1996) cho thấy khoảng một nửa trong số các công ty ở Đức áp dụng
công cụ này.
Trong khi đó, Shields và cộng sự (1991) đã làm một so sánh giữa Nhật
Bản và Hoa Kỳ nhận thấy rằng chỉ khoảng 59 đến 67% các công ty Nhật Bản
sử dụng phương pháp tính giá toàn bộ, thấp hơn so với tỷ lệ 65 đến 75% của
các công ty Mỹ. Gần đây hơn, Szychta (2002) thấy rằng 90% các công ty Ba
Lan có vận dụng phương pháp này. Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ vận dụng
cũng tương tự. Ấn Độ chẳng hạn, Joshi (2001) báo cáo rằng gần 50% các
công ty Ấn Độ đã sử dụng và Firth (1996) cũng cho thấy 66% của các công ty
nước ngoài có trụ sở tại Trung Quốc áp dụng công cụ này.


12
Việc sử dụng phương pháp tính giá trực tiếp cũng khá là phổ biến. Lukka
và Granlund (1996) cho thấy 42% của các công ty Phần Lan áp dụng tính giá
theo chi phí biến đổi. Tương tự như vậy, Abdel-Kader và Luther (2006) cho
thấy hơn 50% của các công ty của Anh thực hiện công cụ này. Ngược lại ở
các nước đang phát triển, Firth (1996) cho thấy 76% DN Trung Quốc có trụ
sở tại địa phương đã sử dụng; tại Ấn Độ và Thái Lan, Phadoongsitthi (2003)
cho thấy hơn một nửa các DN được khảo sát có sử dụng cách tính giá này.
Dự toán (lập ngân sách)
Lập ngân sách được xem là một hệ thống kiểm soát quan trọng trong hầu
hết các tổ chức (Hansen và Van der Stede, 2003). Chủ để chính của lập ngân
sách là tỷ lệ sử dụng và mục đích sử dụng cơ bản của nó.
Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng mục đích chính của lập ngân sách
là lập kế hoạch thành quả trong tương lai; lập kế hoạch tài chính trong tương
lai; kế hoạch dòng tiền trong tương lai; kế hoạch hoạt động tương lai; và chi
phí kiểm soát (Lyne, 1988;. Amstrong và cộng sự, 1996; Chenhall và
Langfield-Smith, 1998; Sulaiman và cộng sự, 2004; Fruitticher và cộng sự,
2004; Abdel-Kader và Luther, 2006). Lập ngân sách cũng được sử dụng để

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, mặc dù tất cả những yếu kém trong dự toán
ngân sách truyền thống, phần lớn các nghiên cứu đã tìm thấy rằng việc sử
dụng ngân sách truyền thống vẫn còn phổ biến. Ví dụ Hansen và cộng sự
(2003) cho rằng phần lớn các công ty Mỹ vẫn duy trì quá trình lập ngân sách
chính thức. Tương tự như vậy, Dugdale và Lyne (2004) thấy rằng ngân sách
vẫn tồn tại và hoạt động tốt. Họ kết luận rằng việc sử dụng ngân sách truyền
thống hiện nay một khi được kết hợp với việc tăng cường sử dụng các chỉ tiêu
phi tài chính, sự sụp đổ của nó có vẻ khó xảy ra.


14
Đo lường thành quả
Emmanuel và cộng sự (1990) cho rằng đo lường thành quả là một chức
năng quan trọng của KTQT. Đánh giá thành quả cung cấp thông tin cho các
nhà quản trị để hỗ trợ việc đạt được các mục tiêu chiến lược của tổ chức
(Jusoh và Parnell, 2008). Hall (2008) lập luận rằng trong những năm gần đây,
các tổ chức đã tìm cách phát triển toàn diện hơn các hệ thống đo lường thành
quả để cung cấp cho các nhà quản trị và người lao động thông tin hỗ trợ việc
quản trị hoạt động của họ. Ông nói thêm rằng hệ thống đánh giá thành quả
toàn diện bao gồm một tập hợp đa dạng hơn các biện pháp đo lường, và các
biện pháp đo lường phải liên kết đến các chiến lược của công ty. Hệ thống
biện pháp này đo lường cả thành quả tài chính và phi tài chính và do đó các
công cụ sử dụng không chỉ là những công cụ truyền thống mà cả hiện đại như
BSC hay ROI, EVA...
Hỗ trợ ra quyết định
Wu và cộng sự (2007), cho rằng việc ra quyết định hiệu quả là yếu tố
quan trọng nhất trong môi trường cạnh tranh thay đổi nhanh chóng ngày nay.
Các phân tích hỗ trợ ra quyết định có thể được chia thành ngắn hạn và dài
hạn. Abdel-Kader và Luther (2006) lập luận rằng đối với các quyết định
thường xuyên hoặc ngắn hạn, KTQT có thể sử dụng phân tích chi phí - khối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status