Nghiên cứu vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––

HOÀNG THÚY NGÂN

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ
NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ GIA ĐÌNH TẠI HUYỆN QUẢNG UYÊN,
TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THÁI NGUYÊN - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––

HOÀNG THÚY NGÂN

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ
NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ GIA ĐÌNH TẠI HUYỆN QUẢNG UYÊN,
TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN


Huyện uỷ huyện Quảng Uyên, UBND huyện Quảng Uyên, Phòng LĐ-XH
huyện Quảng Uyên, Phòng Thống kê huyện Quảng Uyên, Phòng Nông
nghiệp huyện Quảng Uyên, Các tổ chức hội đoàn thể huyện Quảng Uyên,
UBND các xã Chi Thảo, Hoàng Hải, Độc Lập và các ban ngành đoàn thể và
90 hộ dân đã nhiệt tình ủng hộ và cung cấp cho tôi những thông tin cần thiết
cho luận văn.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè,
những người đã chia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành tốt luận văn của mình.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của
các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi.

Thái Nguyên, ngày

tháng

Tác giả luận văn

Hoàng Thúy Ngân

năm 2017


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT................................................. v
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... vi

địa bàn huyện Quảng Uyên ............................................................................. 35
3.2.1. Khái quát về tình hình của phụ nữ trên địa bàn huyện Quảng Uyên .... 35
3.2.2. Thực trạng vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ
tại huyện ......................................................................................................... 36
3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh
tế hộ gia đình ................................................................................................... 48
3.3.1. Yếu tố chủ quan .................................................................................... 48
3.3.2. Yếu tố khách quan ................................................................................. 49
3.4. Quan điểm và một số giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn
trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng ........ 50
3.4.1. Quan điểm về việc nâng cao vai trò của phụ nữ ................................... 50
3.4.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ nông
thôn trong phát triển kinh tế ............................................................................ 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 58
1. Kết luận ....................................................................................................... 58
2. Đề nghị ........................................................................................................ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 60
PHỤ LỤC ………. ......................................................................................... 62


v
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT

Nghĩa

Chữ viết tắt

1


CNVC

Công nhân viên chức

7

CRC

Công ước về quyền trẻ em

8

CT

Chỉ thị

9

DT

Diện tích

10

ĐVT

Đơn vị tính

11


LHPN

Liên hiệp phụ nữ

17

NN & PTNT

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

18

NQ

Nghị quyết

19

NS

Năng suất

20

NST

Nhiễm sắc thể

21


THPT

Trung học phổ thông

27

TTg

Thủ tướng

28

TW

Trung ương

29

UBND

Ủy ban nhân dân


vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện .......................................... 28
Bảng 3.2: Tổng sản phẩm và cơ cấu sản xuất các ngành trên địa bàn huyện
Quảng Uyên (2014-2016)................................................................ 29
Bảng 3.3: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp theo giá hiện hành giai đoạn
2014-2016........................................................................................ 30

trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt động vật chất,
phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người.
Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra con người
để duy trì và phát triển xã hội. Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có
vai trò sáng tạo nền văn hóa nhân loại. Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước
nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ
nữ. [19]
Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm khoảng 50% dân số cả nước, họ tham gia
vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng
đã và đang ngày càng khẳng định vị thế và vai trò to lớn của mình trong đời sống
kinh tế - xã hội. Trong suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước và
xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của
phụ nữ. Trong công cuộc đổi mới đất nước của Đảng, họ luôn giữ gìn, phát
huy và nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, năng động, ssáng tạo, khắc phục
mọi khó khăn để vươn lên trong học tập, lao động, phấn đấu đạt những thành
tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực. Trong gia đình, người phụ nữ vừa là người
con dâu, người vợ, người mẹ, người thầy của các con, người thầy thuốc của
gia đình. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy sự đóng góp của người phụ nữ lại
chưa được ghi nhận một cách xứng đáng, vẫn còn khoảng cách giữa nam giới
và phụ nữ trong phát triển. Phụ nữ và trẻ em gái nghèo, sống ở vùng sâu,
vùng xa, người tàn tật hay dân tộc thiểu số tiếp tục là những đối tượng chịu
thiệt thòi. Do vậy, bất bình đẳng giới về cơ hội việc làm, tiền lương, thu nhập,
cơ hội thăng tiến giữa nam và nữ, chưa thật sự tạo điều kiện cho phụ nữ vươn


2
lên là vấn đề đang diễn ra phức tạp. Vì vậy, cần có những chính sách bổ sung
chú trọng vào giải quyết nâng cao vai trò, vị thế của người phụ nữ.
Phụ nữ huyện Quảng Uyên đã và đang có những đóng góp to lớn vào
sự phát triển kinh tế- xã hội của toàn huyện, họ đã nhận thức và phát huy vai

nền văn hóa, giữa các nền văn hóa và thay đổi theo thời gian. Sự khác biệt
này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó
khăn, thuận lợi của các giới tính. [15]
Giới là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội
của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay


5
đổi. Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. "Giới là sản
phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan
hệ nam và nữ. Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo
công bằng trong xã hội.
1.1.1.2. Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới
* Đặc điểm giới:
- Không tự nhiên mà có;
- Học được từ gia đình và xã hội;
- Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền);
- Có thể thay đổi được.
* Nguồn gốc giới
- Trong gia đình, ngay từ khi sinh ra, đứa trẻ đã được đối xử tùy theo
chúng là trai hay gái. Những sự khác nhau đó có thể là: về đồ chơi, quần áo,
tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh chị. Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành
vi của chúng theo giới tính của mình.
- Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt
về giới cho học sinh. Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện
tử, các ngành cần có thể lực tốt. Học sinh nữ được hướng theo các ngành như
may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ.
- Các thể chế xã hội như: chính sách, pháp luật… cũng có ý nghĩa làm
tăng hoặc giảm sự khác biệt về giới (ví dụ ưu tiên nam trong các nghề lái xe,
xây dựng, cảnh sát…)

do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể.


7
* Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của
phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ. Những
lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo
hướng bình đẳng.
* Bình đẳng giới: Theo Trần Thị Vân Anh: Nam giới và nữ giới được
coi trọng như nhau, cùng được công nhận và có vị thế bình đẳng
Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về:
- Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng.
- Các cơ hội để tham gia đóng góp, hưởng lợi trong quá trình phát triển.
- Quyền tự do và chất lượng cuộc sống.
Bên cạnh quy định về những quyền và nghĩa vụ chung, bình đẳng cho
cả nam và nữ, pháp luật còn xác định những đặc quyền chỉ áp dụng cho phụ
nữ nhằm bù đắp cho phụ nữ những thiệt thòi, đặt họ vào vị trí xuất phát ngang
bằng với đàn ông trong các quan hệ xã hội, đảm bảo cho họ có thể tiếp nhận
các cơ hội và thụ hưởng các quyền một cách bình đẳng như nam giới. Đây là
quan điểm bình đẳng giới thực chất. [14]
Luật Bình đẳng giới (2007) tại Điều 5 chỉ rõ: Bình đẳng giới là việc
nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy
năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng
như nhau về thành quả của sự phát triển đó. [13]
1.1.2. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội nông hộ
1.1.2.1. Một số khái niệm
* Vai trò: là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ
được gán cho một địa vị cụ thể mà địa vị là một sự xác định vị trí xã hội trong
một cơ cấu xã hội.



9
rất quan trọng giữa gia đình và xã hội trong mọi thời đại. Qua các chặng
đường lịch sử loài người, vai trò người phụ nữ trong gia đình có những biến
đổi rõ rệt. [9].
Phụ nữ vừa là người công dân, người lao động, vừa là người mẹ và
người thầy đầu tiên của con người; Phụ nữ có vai trò quan trọng trong xây
dựng gia đình cần tạo điều kiện để phụ nữ kết hợp hài hòa giữa nghĩa vụ công
dân và chức năng người mẹ trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng,
tiến bộ, hạnh phúc. [20]
Phụ nữ Việt Nam chiếm 50,8% tổng dân số, 50,6% lực lượng lao động
và khoảng 30% phụ nữ làm chủ hộ gia đình. Trên diễn đàn chính trị tỷ lệ nữ
tham gia Quốc hội (dẫn đầu các nước ASEAN) với 25,76% (nhiệm kỳ 20072011). Trong nhiều ngành như nông nghiệp, giáo dục, y tế, công nghiệp nhẹ,
tài chính, văn hóa, xã hội… phụ nữ cũng luôn chiếm ưu thế. Tỷ lệ nữ được
tiếp cận với dịch vụ y tế trên 85%, tỷ lệ phụ nữ dành thời gian để xem ti vi/
nghe đài là 96,6%, tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sĩ 33,95%; tiến
sĩ 25,69%. Đội ngũ trí thức và lao động kỹ thuật nữ ngày càng tăng lên, họ
đang có mặt ở nhiều vị trí chính trị, kinh tế trọng yếu của đất nước. Đây là
một bước tiến đáng kể về bình đẳng giới, về tạo quyền năng cho phụ nữ trong
xã hội. Phụ nữ đã thực sự đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng và phát
triển đất nước. [15]
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết: Phụ nữ
là người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình. 1/4 số hộ gia đình
trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào
thu nhập của lao động nữ [1]. Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất
nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chế
về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc khó khăn, địa vị trong xã


10

thòi do trình độ phát triển ở những nơi đó chưa cao, thiếu điện, đường, trường,
trạm...và ít được tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng. Do đó nhận
thức của người dân còn chưa cao, còn mang nặng lễ giáo phong kiến, trọng
nam khinh nữ, bất bình đẳng giới. Nguyên nhân xuất phát từ chính những
quan niệm của cộng đồng người DTTS và chính bản thân người phụ nữ trong
gia đình còn thấp. [11]
Theo thống kê mới nhất, nước ta có hơn một triệu trên tổng số hơn
mười ba triệu hội viên Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam là người dân tộc thiểu
số. Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới có những chính sách bảo
đảm quyền được học hành cho phụ nữ và trẻ em gái, trong đó có phụ nữ
DTTS. Đã có rất nhiều phụ nữ DTTS thành đạt và giữ vị trí quan trọng trong
xã hội. Một số tấm gương tiêu biểu như: Bà Tòng Thị Phóng (Bí thư Trung
ương Đảng, Phó chủ tịch Quốc hội), bà Hà Thị Khiết (Uỷ viên Trung ương
Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương)...và còn rất nhiều tấm gương người
phụ nữ DTTS nỗ lực vươn lên trong học tập để thoát nghèo và đóng góp cho
sự phát trển của quê hương. Như : chị Tráng Thị Mai, với ý chí, nghị lực của
mình, chị đã trở thành người dân tộc PuPéo đầu tiên học đại học. Chị là tấm
gương sáng cho đồng bào dân tộc Pu Péo và đồng bào các dân tộc khác nói
chung và là tấm gương cho người phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng cố gắng
vượt lên hoàn cảnh để giúp chính mình và những người khác cùng tiến bộ. Có
thể nhận thấy rằng nâng cao năng lực cho người phụ nữ DTTS có ý nghĩa rất
to lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo.Và việc xóa đói giảm nghèo cũng
có tác động tích cực đối với sự phát triển, tiến bộ và bình đẳng của phụ nữ,
nhất là phụ nữ DTTS. Trong những năm qua, Trung ương Hội Liên Hiệp phụ
nữ Việt Nam đã tập trung nguồn lực, hướng mạnh các hoạt động về cơ sở,


12
nhất là về vùng sâu, vùng xa nơi có đông đảo phụ nữ dân tộc thiểu số sinh
sống nhằm xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững thông qua các hoạt động

nữ đã kìm hãm tài năng sáng tạo của phụ nữ, hạn chế sự cống hiến của họ cho
xã hội và cho gia đình. Việc mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con nhỏ và làm
nội trợ gia đình đè nặng lên đôi vai người phụ nữ. Đây là trở ngại lớn cho họ
tập trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào sản xuất và các hoạt động chính trị, xã
hội. Vì vậy nhiều chị em trở nên không mạnh bạo, không năng động sáng tạo
bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội. Phong tục tập
quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở phụ nữ tham gia vào quá trình phát
triển kinh tế. [4]
* Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ
còn nhiều hạn chế
Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin nghe nhìn và
sách báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ
tiếp cận và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt còn gặp
nhiều khó khăn. Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ dường như
ít có thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hoá tinh thần, học hỏi
nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớn thời gian còn
lại cho công việc gia đình. Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn
và sự hiểu biết xã hội. Phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật là 6%, còn ở nam giới tỷ lệ này là 10%. Theo thông báo của Liên hiệp
quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn 840 triệu người bị mù chữ, trong đó nữ
giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ em không được đi học thì có tới
70% là trẻ em gái. [4]


14
Theo thống kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ ở Việt Nam không qua đào
tạo là rất cao, chiếm tới gần 90% tổng số lao động không qua đào tạo trong cả
nước; chỉ có 0,63 % công nhân kỹ thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu này
của nam giới là 3,46%. Tỷ lệ lao động nữ có trình độ đại học và trên đại học
0,016%, tỷ lệ này ở nam giới là 0,077% (gấp 5 lần so với nữ giới). Điều đó

rằng, phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của nhân loại.
Song, có nhiều nguyên nhân gây cản trở sự tiến bộ của họ trong cuộc sống.
Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác động không tốt khiến cho phụ nữ
đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và
bất bình đẳng. Vì vậy, cần phải tiến tới quyền bình đẳng đối với nữ trên toàn
thế giới. Bình đẳng nam nữ nhằm giải phóng sức lao động xã hội, xây dựng
và củng cố thêm nền văn minh nhân loại. [18]
1.2. Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới
Tại châu Phi, Châu Á và Thái Bình Dương, trung bình một tuần phụ nữ
làm việc nhiều hơn nam giới 12-13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn.
Hầu hết mọi nơi trên thế giới, phụ nữ được trả công thấp hơn nam giới cho
cùng một loại công việc. Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50%-90% thu
nhập của nam giới. [3]
* Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động
Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao. Một số
tài liệu thống kê sau đây sẽ chứng minh cho nhận định đó:
- Bangladesh: có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động
so với 82,5% nam giới. Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ
thành thị (28,9%). Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nhiều
nhất ở độ tuổi 30-49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25-29, 50-54. Đáng chú ý rằng,


16
gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60-64 vẫn tham gia lực lượng lao động,
cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi. Đặc biệt phụ nữ nông
thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lượng lao động. [3]
- Trung Quốc: nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao
nhất từ 20-29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30-39 tuổi, và giảm dần theo các nhóm
tuổi cao hơn. Giống như ở Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ
tuổi 60-64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lượng lao động, con số này cao gấp 2

số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động nữ… Như vậy, mặc dù
đã đạt được những thành quả nhất định nhưng vấn đề bình đẳng về giới vẫn
còn những bất cập mà chúng ta còn phải tiếp tục phấn đấu để đạt được mục
tiêu bình đẳng thật sự. [4]
1.3. Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh
tế ở nước ta hiện nay
Hiện nay trong xu thế hội nhập, Đảng và Nhà nước ta đã và đang cố
gắng giảm thiểu và dần đi đến xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng giới, đặc biệt là
ở vùng đồng bào DTTS. Bảo đảm quyền bình đẳng về kinh tế cho phụ nữ là
một nội dung cực kỳ quan trọng trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới
giai đoạn 2011-2020, tạo cơ sở để phụ nữ có các quyền bình đẳng khác nhất
là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp,
nông thôn ở nước ta hiện nay. Vấn đề này căn bản đã được Nhà nước công bố
trong Hiến pháp, luật pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trước đây,
cũng như nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Nó được coi là
một nội dung cách mạng thực hiện quyền con người - quyền cơ bản, tối
thượng và bất khả xâm phạm của mọi người - mà trong Tuyên ngôn Độc lập
khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status