PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUYÊN ĐỀ.
Sau khi là thành viên của WTO, Việt Nam đã có những bước phát triển
mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội và con người. Hoà chung
trong không khí đó của cả nước, các tỉnh thành phố trong cả nước cũng đã
không ngừng đẩy mạnh công cuộc xây dựng phát triển kinh tế, giữ vững những
truyền thống văn hoá của cha ông và từng bước hội nhập, giao lưu văn hoá với
các quốc gia trên thế giới.
Là con em của mảnh đất Hải Hậu Nam Định, em đã đang được sống ở một
nơi với nhiều truyền thống tốt đẹp, với những con người chăm chỉ lao động làm
việc để làm giàu cho quê hương đất nước. Nơi đây còn ghi dấu công ơn của
nhiều vị anh hùng liệt sỹ đánh giặc bảo vệ Tổ quốc. Không những thế Hải Hậu
đã cung cấp cho nhiều vùng nguồn thuỷ hải sản phong phú, cải thiện đời sống
của nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được thì huyện Hải Hậu cũng
là nơi có tình hình an ninh trật tự phức tạp. Nơi đây có dân số đông, tỉ lệ thất
nghiệp còn cao, thành phần dân cư khó kiểm soát nên tình hình tội phạm có
chiều hướng gia tăng cả về số lượng các vụ án xảy ra, số lượng các đối tượng
tham gia phạm tội, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội… Bên cạnh đó,
công tác giải quyết, xét xử các vụ án phạm tội trộm cắp tài sản nói riêng và công
tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này nói chung ở địa phương còn tồn tại
một số vấn đề cần xem xét, giải quyết nhằm đảm bảo nhanh chóng, kịp thời
đúng pháp luật, góp phần ổn định an ninh trên địa bàn, giúp cho người dân và
các cơ quan, tổ chức yên tâm sinh hoạt, lao động sản xuất. Vì những lí do đó, em
đã chọn cho mình chuyên đề thực tập:” Tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa
bàn huyện Hải Hậu và các biên pháp đấu tranh phòng chống loại tộ phạm này”
làm nội dung cho bài báo cáo tổng kết cuối khoá của mình để có thể phần nào
tìm ra được những nguyên nhân và biện pháp để khắc phục tình trạng trộm cắp
tài sản ở địa phương.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các bác cán bộ ở
Viện Kiểm Sát huyện Hải Hậu cùng thầy cô, bạn bè đã giúp em hoàn thành bài
báo cáo kỳ thực tập cuối khoá này!
Nguồn tài liệu:
+ Hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm qua các năm 2006, 2007, 2008.
+ Sổ thụ lý sơ thẩm các vụ án hình sự qua các năm 2006, 2007,
2008.
+ Sổ kết quả xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự qua các năm 2006,
2007, 2008.
+ Sổ theo dõi số án, số quyết định qua các năm 2006, 2007, 2008.
+ Báo cáo tổng kết công tác Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu
qua các năm 2006, 2007, 2008.
+ Thông qua các cuộc trao đổi trò chuyện với các cán bộ trong Viện
kiểm sát.
2. Phương pháp điều tra xã hội học:
Đối với phương pháp này, em sử dụng cách thức chủ yếu là: phỏng vấn,
toạ đàm. Em đã trực tiếp tìm hiểu ý kiến đề xuất từ những người trực tiếp thụ lý,
giải quyết các vụ án trộm cắp tài sản cũng như các đối tượng phạm tội về loại tội
phạm này nhằm củng cố và bổ sung thêm các thông tin đảm bảo tính khách quan
trong chuyên đề thực tập.
3. Phương pháp quan sát:
Ngay từ ngày đầu thực tập tại VKS huyện hải Hậu, em đã được nghiên cứu
các vụ án cũ vả trực tiếp xem xét các vụ án mới tại toà án nhân dân huyện Hải
Hậu theo sự hướng dẫn cuả các cô chú bên VKS, được dự các phiên toà xét xử
các loại tội phạm trộm cắp tài sản, sử dụng trái phép chất ma tuý… mà em đã
được đọc và nghiên cứu hồ sơ. Tại phiên toà có nhiều bị cáo tuổi đời còn rất trẻ,
thậm chí là chưa đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự như các bị cáo sinh năm
1993, 1994,1988.
+ Khi nghiên cứu đối tượng” Tình hình trộm cắp tài sản ở địa
phương” trong điều kiện hoạt động bình thường, cũng như trong các phiên toà
tại toà án nhân dân huyện Hải Hậu thì phương pháp quan sát cho phép ta ghi lại
nhiều nguồn và có sự so sánh chọn lọc để tìm ra những nguồn chính xác để viết
bài hoàn chỉnh hơn.
Trước hết, đó là Bộ luật hình sự Việt Nam 1999( có hiệu lực từ
08/07/2000). Tội trộm cắp tài sản được quy định tại điều 138 chương . Được sự
hướng dẫn nhiệt tình của các anh chị, cô chú trong cơ quan, sự cho phép được
tiếp cận với một số loại hồ sơ, sổ sách lưu trữ tại cơ quan nên trong chuyên đề
này em đã sử dụng số liệu thông tin của ba năm là 2006, 2007, và 2008.
Ngoài ra để hoàn thành kỳ thực tập và đề tài này, chúng em đã được học
hỏi, giao lưu với các cơ quan liên ngành như cơ quan: Công an, Toà án, Phòng
thi hành án để có những thông tin đầy đủ hơn về các vụ việc liên quan, về nhân
thân người phạm tội, tình hình xu hướng an ninh trật tự trên địa bàn huyện Hải
Hậu. Những thắc mắc của chúng em được các cán bộ ở đây giải đáp rõ ràng, chi
tiết và cụ thể giúp cho sinh viên hiểu và nắm bắt vấn đề một cách thuận lợi,
nhanh chóng. Vì thế chúng em đã được trang bị cho mình những phương pháp
tiếp cận thông tin một cách chính xác, đúng đắn, các phương pháp đó đã giúp
chúng em rất nhiều trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu được những yêu cầu của
kỳ thực tập.
PHẦN III. THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI
TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HẢI HẬU
1. Một số vấn đề kinh tế- xã hội huyện Hải Hậu
Hải Hậu là một huyện ven biển nằm ở phía Đông Nam tỉnh Nam Định, với
diện tích 226km2, có trên 28 vạn dân( trong đó có gần 40% đồng bào theo đạo
Thiên chúa), gồm 35 xã, thị trấn và có trên 32km bờ biển. Là một huyện có vị trí
quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng của tỉnh- một huyện có
nghề truyền thống là trồng lúa, nuôi trồng đánh bắt thuỷ hải sản và làm dịch vụ
du lịch…. Ngoài số dân có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương, hiện tại
Bảng 1: Số liệu các vụ án về tội trộm cắp tài sản năm 2006
Tiêu chí
Số lượng vụ án đã thụ lý
Số lượng vụ án đã giải quyết
Số lượng án tồn
Số lượng vụ án bị kháng cáo
Vụ
12
11
01
01
Số lượng các vụ đồng phạm
04
Số lượng vụ án do người 01
chưa thành niên phạm tội
Số lượng các bị cáo
18
Tỷ lệ phần
Cơ sở so sánh
trăm
100%
91,67%
8,33%
9,09%
+ Các loại tội khác:
34 vụ= 62 bị cáo.
Bảng 2: Số liệu các vụ án về tội trộm cắp tài sản năm 2007
Tỷ lệ
Tiêu chí
Số lượng vụ án đã thụ lý
Số lượng vụ án đã giải quyết
Số lượng án tồn
Số lượng vụ án bị kháng cáo
Số lượng các vụ đồng phạm
Vụ
12
11
01
01
04
Số lượng vụ án do người 01
chưa thành niên phạm tội
Số lượng các bị cáo
18
phần
bình so với lượng án cùng loại trên địa bàn các huyện lân cận( huyện Giao Thuỷ
8 vụ, huyện Xuân Trường 9 vụ, huyện Nghĩa Hưng 7 vụ…).
- Năm 2008: Toà án nhân dân huyện Hải Hậu thụ lý mới 37 vụ án hình
sự( không có án tồn từ năm 2007) với 64 bị cáo trong đó phân loại tội phạm như
sau:
+ Tội cố ý gây thương tích:
2 vụ= 2 bị cáo.
+ Tội hiếp dâm trẻ em:
1 vụ= 1 bị cáo.
+ Tội cướp tài sản:
1 vụ= 4 bị cáo.
+ Tội cưỡng đoạt tài sản:
2 vụ= 2 bị cáo.
+ Tội cướp giật tài sản:
1 vụ= 1 bị cáo.
+ Tội trộm cắp tài sản:
13 vụ= 23 bị cáo.
+ Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
Kiệm ở xóm 13 xã Hải Đường huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định… Trong đó đáng
quan tâm là các đối tượng là người nghiện ma tuý, có tiền án tiền sự là tương đối
lớn như bị cáo Kim Văn Kiệm. Bị cáo này đã có 4 tiền án về tội trộm cắp tài
sản:
+ Ngày 23/09/1999 bị toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng
tù giam về tội” Trộm cắp tài sản”.
+ Ngày 29/06/2001 bị toà án nhân dân huyện Xuân Trường tỉnh Nam
Định xử phạt 09 tháng tù giam về tội” Trộm cắp tài sản”.
+ Ngày 04/09/2002 bị toà án nhân dân thị xã Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh
xử phạt 30 tháng tù giam về tội” Trộm cắp tài sản”.
+ Ngày 17/08/2005 bị toà án nhân dân huyện Xuân Trường tỉnh Nam
Định xử phạt 30 tháng tù giam về tội” Trộm cắp tài sản”.
Một số vụ án điển hình mà em đã đọc và thu thập được là:
Ví dụ 1:
Họ và tên: Lê Văn Tuấn sinh năm 1971
STQ: xóm 13- xã Hải Đường- huyện Hải Hậu- tỉnh Nam Định.
Quốc tịch: Việt Nam.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: không.
Nghề nghiệp: Làm ruộng. Đoàn, đảng: không.
Văn hoá: 4/12.
Con ông: Lê Văn Lưu sinh năm 1928, con bà: Phạm Thị Nhường sinh năm
1929.
Nhận thấy:
Bị cáo: Lê Văn Tuấn bị Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố về
hành vi phạm tội như sau:
Lê Văn Tuấn là đối tượng nghiên ma tuý. Do không có tiền mua ma tuý sử
dụng nên sáng ngày 05/03/2008, Tuấn mượn tiền của bố đẻ là ông Lê Văn Lưu
cáo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành người công dân lương thiện có ích
cho xã hội.
Đại diện VKS nhân dân huyện Hải Hậu tham gia phiên toà, sau khi xem xét
tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng
nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm
truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như cáo trạng số 23/QĐ- KSĐT
ngày 30/05/2008 và đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm g,p khoản
1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn Tuấn từ 36( ba mươi sáu) đến
42( bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/03/2008.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đại diện VKS đề nghị HĐXX
chấp nhận biên bản trao trả tài sản cho người bị hại của Cơ quan điều tra Công
an huyện Hải Hậu; tịch thu tiêu huỷ 01 bơm tiêm nhựa mà bị cáo đã dùng để sử
dụng ma tuý. Đối với số tiền 4.000đ thu giữ trong người bị cáo,quá trình điều
tra, Cơ quan điều tra xác định số tiền này bị cáo Tuấn không dùng vào việc bất
hợp pháp nên tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào
kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý
kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Xét thấy
Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bằng biên bản bắt giữ người
có hành vi phạm tội quả tang do Công an thị trấn Yên Định lập vào hồi 18 giờ
20 phút ngày 05/03/2008, bằng kết quả điều tra xét hỏi và tranh luận tại phiên
toà, bằng lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu khác đã
lưu trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: hành vi chiếm đoạt chiếc xe đạp trị giá
650.000đồng( sáu trăm năm mươi nghìn đồng) trong thời gian bị cáo đang có
bốn tiền án về tội” Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích của bị cáo Lê Văn
Tuấn đã phạm tội” Trộm cắp tài sản” mà tội phạm và hình phạt được quy định
việc bất hợp pháp. Do đó, không tịch thu sung quỹ nhà nước nhưng vẫn tạm giữ
số tiền này để đảm bảo thi hành án là phù hợp.
Xét cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên.
Quyết định
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn Tuấn phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm g,p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình
sự.
+ Xử phạt Lê Văn Tuấn 36( ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ
ngày 05/03/2008.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 bơm kim tiêm nhựa mà bị cáo đã dùng
để sử dụng ma tuý. Tiếp tục tạm giữ số tiền 4.000đồng( bốn nghìn đồng) của bị
cáo để đảm bảo thi hành án.
3. Án phí hình sự sơ thẩm:
- Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Nghị định số 70- CP
của Chính phủ ngày 12 tháng 06 năm 1997 về án phí, lệ phí toà án buộc bị cáo
Lê Văn Tuấn phải nộp 50.000đồng( năm mươi ngàn đồng) án phí hình sự sơ
thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại được
quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
Ví dụ 2:
Họ và tên: Kim Văn Tưởng sinh năm 1985.
STQ: xóm Trần Hiềng(Đội 3), xã Hải Phú, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Quốc tịch: Việt Nam.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Làm ruộng. Đoàn, Đảng: không.
đến nhà anh rể của Tưởng là Lê Văn Bắc ở xóm 8 xã Hải Phong để ở đó rồi
Tưởng chở Khánh về nhà. Sau đó Tưởng tháo BKS và giá bảo vệ đèn chiếu hậu
cảu chiếc xe ra và cho chị Trần Thị Tinh là hàng xóm của anh Bắc đem xe đi
thay tem, mác và một số đồ nhựa. Ngày 03/09/2008, Tưởng nhờ Cao Huy Lễ ở
thị trấn Yên Định dẫn đến nhà Phạm Hồng Dương ở xóm 1 xã Hải Anh nói dối
là xe của Tưởng bị mất giấy tờ và bán cho Hoàng Văn Khá với giá
1.050.000đồng, Tưởng chia cho Khánh 300.000đồng. Khi mua được xe Khá đã
xin được chiếc biển số xe máy biển số 14P8- 6175 của Đồng Văn Thuận ở xóm
2 Hải Anh gắn vào xe để đi. Ngày 22/09/2008 Cơ quan điều tra Công an huyện
Hải Hậu đã thu hồi chiếc xe trên tại nhà Hoàng Văn Khá. Chị Trần Thị Tinh đã
giao nộp chiếc biển số xe 18S3- 9469 và giá bảo vệ đèn xe cho cơ quan điều tra
để xử lý theo quy định của pháp luật.
Kim Văn Tưởng còn khai nhận trước đó: khoảng 19h ngày 28/08/2008,
Tưởng cùng Đỗ Văn Truyền đến Kiốt số 59 của chị Nguyễn Thị Biển thuộc Tổ
dân phố số 19 thị trấn Thịnh Long trộm cắp tài sản. Tưởng bảo Truyền dừng xe
đứng ngoài cảnh giới còn Tưởng vào Kiốt, thấy không có ai trông coi Tưởng vào
khu vực bếp lục tìm chìa khoá xe và lấy đi một chiếc xe máy nhãn hiệu HonDa
BKS 31- 248U5 trị giá 6.000.000đồng của chị Biển. Khi lấy được xe, Truyền
bảo Tưởng đi lên thành phố Nam Định tiêu thụ nhưng không bán được nên đã
quay về theo hướng đường 55, khi cách thành phố Nam Định khoảng 10km
Truyền bảo Tưởng tháo biển số và gương xe vất xuống mương tiêu nước để
tránh bị phát hiện. Tưởng và Truyền đi đến nhà bạn là Phạm Văn Tá ở xóm 6
Hải Phong nhờ tìm chỗ bán xe. Tá đưa Truyền xuống nhà Đỗ Văn Quyết ở xóm
6 Hải Phong, Truyền nói dối là xe của bố Truyền, giấy tờ và biển số xe đã cắm,
vì cần tiền trả nợ nên bán xe khi nào có tiền xin chuộc lại. Quyết hỏi xe gì, giá
bao nhiêu? Truyền bảo xe Dream, giá 2.500.000đồng, Quyết nhất trí mua và trả
2.300.000đồng. Truyền nhận tiền và chia cho Tưởng 400.000đồng, còn lại
1.900.000đồng Truyền giữ lại ăn tiêu hết. Quá trình điều tra Quyết đã giao nộp
xử tuyên phạt các bị cáo: Kim Văn Tưởng 18- 24 tháng tù, Nguyễn Vũ Khánh 69 tháng tù, thời hạn tính từ 22/09/2008; Đỗ Văn Truyền 6-9 tháng tù cho hưởng
án treo nhưng được khấu trừ 1 tháng 20 ngày, đề nghị áp dụng thời gian thử
thách theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2007, NQ- HĐTP ngày 02/10/2007
của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Đồng thời đại diện VKS cũng
đề nghị xử lý vật chứng của vụ án.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng
cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác.
Xét thấy
Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bằng lời khai của những
người bị hại, bằng lời khai của những người làm chứng, bằng biên bản thu giữ
và trao trả tang vật mà cơ quan điều tra đã thực hiện trong quá trình điều tra
cùng các tài liệu khác đã được lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ hồ sơ kết
luận:
Kim Văn Tưởng, Nguyễn Vũ Khánh đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe
môtô BKS 18S3-9469 của gia đình anh Nguyễn Văn Thuận hồi 24giờ ngày
30/08/2008 trị giá 2.000.000đồng. Ngoài ra trước đó, ngày 28/08/2008 Kim Văn
Tưởng cùng Đỗ Văn Truyền trộm cắp xe môtô BKS 31-248U5 trị giá
6.000.000đồng của chị Nguyễn Thị Biển ở tổ dân phố số 19 thị trấn Thịnh Long
bán lấy tiền ăn tiêu hết.
Xét thấy hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện không những xâm
phạm đến tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình
trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử lý nghiêm nhằm trừng trị, giáo
dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét vai trò, vị trí, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy: Các bị cáo đã đồng phạm thực hiện
hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của công dân. Trong vụ án này, bị cáo Kim
Văn Tưởng đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản của công dân là 02 chiếc xe
lại số tiền mà các bị cáo bán tài sản mà có trả lại cho anh Đỗ Văn Quyết nhận
đầy đủ.
Đối với Hoàng Văn Khá mua một chiếc xe máy do bị cáo Kim Văn Tưởng
và bị cáo Nguyễn Vũ Khánh trộm cắp của anh Nguyễn Văn Thuận đem bán với
số tiền 1.050.000đồng. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu hồi chiếc xe
máy và đã trả cho người bị hại và đã thu hồi lại số tiền 1.050.000đồng do các bị
cáo bán tài sản mà có. Xét việc mua bán tài sản giữa anh Hoàng Văn Khá và các
bị cáo là bất hợp pháp, không ngay thẳng. Do đó số tiền 1.050.000đồng cơ quan
điều tra đã thu giữ không thể trả lại cho anh Hoàng Văn Khá mà cần tịch thu
sung quỹ Nhà nước. Chiếc biển số 14P8-6175 không xác định được chủ sở hữu,
không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.
Xét cần buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Quyết định
1. Tuyên bố các bị cáo: Kim Văn Tưởng; Nguyễn Vũ Khánh; Đỗ Văn Truyền
phạm tội” Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 điều 138; điểm g khoản 1 điều 48; điểm p khoản 1 điều 46
Bộ luật hình sự đối với bị cáo Kim Văn Tưởng. Xử phạt Kim Văn Tưởng 18
tháng tù, thời hạn tính từ 22/09/2008;
- Áp dụng khoản 1 điều 138; điểm h, điểm p khoản 1 điều 46; khoản 2 điều
46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Vũ Khánh. Xử phạt Nguyễn Vũ
Khánh 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ 22/09/2008;
- Áp dụng khoản 1 điều 138; điểm h điểm p khoản 1 điều 46; khoản 2 điều
46; điều 60 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn Truyền. Xử phạt Đỗ Văn
Truyền 6 tháng tù giam cho hưởng án treo nhưng được khấu trừ 1 tháng 20 ngày
và đề nghị áp dụng thời gian thử thách theo hướng dẫn tại Nghị quyết số
01/2007/ NQ- HĐTP ngày 02/10/2007 của hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao. Đồng thời đại diện VKS cũng đề nghị xử lý vật chứng của vụ án.
b, Nguyên nhân của tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Hải Hậu.
loại hình dịch vụ mua bán các đồ cũ, cầm đồ… ở một mức độ nào đó, các cơ sở
này đã tiếp tay cho những hành vi trộm cắp bằng cách mua lại những tài sản do
đối tượng trộm cắp được.
PHẦN IV: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ:
1. Một số nhận xét về tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Hải Hậu:
Như vậy, qua những số liệu và phân tích ở trên ta thấy, tình hình tội trộm
cắp tài sản trên địa bàn huyện Hải Hậu diễn ra rất phổ biến và hết sức phức tạp.
Số lượng các vụ án liên tục gia tăng. Trong 3 năm 2006, 2007, 2008 và những
tháng đầu năm 2009 số lượng các vụ án trộm cắp tài sản được thụ lý và giải
quyết tại Toà án nhân dân huyện Hải Hậu đã tăng lên đáng kể.
Bên cạnh đó, mức độ nguy hiểm và phức tạp của các vụ án phạm tội trộm
cắp tài sản ngày càng tăng. Điều này được thể hiện ở chỗ các vụ án liên tục xảy
ra, không chỉ vào ban đêm, nơi mà tài sản được cất giữ kín đáo và trông coi cẩn
thận. Một số trường hợp kẻ gian còn vào trộm cắp tài sản của ngay chính người
thân của mình. Địa bàn hoạt động của chúng không chỉ thu hẹp trong phạm vi
thôn xóm mà còn mở rộng trên địa bàn huyện, thậm chí còn ở các địa phương
lân cận. Một vấn đề đáng quan tâm của tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa
bàn huyện Hải Hậu là đặc điểm nhân thân của các đối tượng phạm tội trộm cắp
tài sản. Hầu hết các đối tượng phạm tội trộm cắp là thanh niên, trình độ văn hoá
thấp, không nghề nghiệp, nhiều đối tượng còn là học sinh phổ thông.
Số lượng các vụ án có sự tham gia của nhiều đối tượng(đồng phạm) cũng
tăng. Giữa các đối tượng thường có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ, hành vi
trước một cách chặt chẽ
2. Một số kiến nghị, giải pháp trong việc hạn chế và nâng cao hiệu quả
trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản trên địa bàn
huyện Hải Hậu:
mạnh của pháp luật kết hợp với dư luận quần chúng, tích cực lên án hành vi vi
phạm pháp luật.
Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, trình độ,
phẩm chất đạo đức phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong
nhân dân.
b. Dạy nghề, hướng nghiệp tạo việc làm ổn định và nâng cao đời sống cho nhân
dân:
Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tình trạng tội phạm
trộm cắp tài sản diễn ra phổ biến trên địa bàn huyện Hải Hậu là thiếu việc làm
cho người lao động.
Trong những năm qua, mặc dù tốc độ đô thị hoá ở Hải Hậu diễn ra rất
mạnh, nhiều nhà máy, xí nghiệp được xây dựng, thu hút hàng ngàn người lao
động trong và ngoài địa phương. Tuy nhiên, vẫn có một số lượng lớn người
trong độ tuổi lao động thiếu việc làm đặc biệt là số người trong độ tuổi từ 16 đến
30.
Hải Hậu là địa phương có dân số chủ yếu là làm nghề nông nghiệp. Bản
thân nghề này đã là yếu tố làm cho sức lao động của địa phương dôi dư rất
nhiều. Trong khi đó, khi các nhà máy được xây dựng trên cơ sở chủ yếu là lấy từ
đất nông nghiệp thì số lượng lao động dôi dư tăng lên rất nhiều. Trên thực tế, số
người thiếu việc làm này chủ yếu là những người có trình độ văn hoá thấp, chưa
được đào tạo, hướng nghiệp nên mặc dù các nhà máy, xí nghiệp cần số lượng
lớn lao động nhưng họ lại không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng. Bên cạnh
đó, ý thức chủ quan của họ cũng ảnh hưởng rất lớn, nhiều người trong số họ mặc
dù đang trong độ tuổi lao động nhưng lại không chịu học tập, lười lao động.
Thói quen ăn chơi, đua đòi… đã đẩy nhiều người vào con đường cờ bạc, ma tuý,
mại dâm… dẫn đến tình trạng muốn có tiền ăn chơi, họ không còn con đường
nào khác là trộm cắp của người khác. Nhiều đối tượng sau khi trộm cắp, đi tù về
không có công ăn việc làm lại lao vào con đường cũ và tái phạm.
việc làm cho những đối tượng sau khi ra tù, trại cai nghiện… Đây là những đối
tượng rất dễ tiếp tục vi phạm pháp luật, sa vào tệ nạn xã hội nếu không nhận
được sự quan tâm, giúp đỡ kịp thời của gia đình, xã hội.
c. Áp dụng các biện pháp để thúc đẩy và thực hiện công tác đấu tranh phòng
chống tội phạm được kịp thời:
Trong thời gian qua, thực hiện các quy định của pháp luật cải cách sửa đổi
trong thời gian tới và Chỉ thị của ban cải cách tư pháp Trung ương, các cơ quan
điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án… của Hải Hậu đã có những chuyển biến
tích cực trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Đặc biệt TAND
huyện Hải Hậu đã xét xử nhiều phiên toà mẫu lưu động về tội trộm cắp, ma tuý