Truyền thống công nhân mỏ than Vàng Danh - Uông Bí - Quảng Ninh - Pdf 48

TRUYÒN THèNG C¤NG NH¢N Má
C¤NG TY THAN VµNG DANH
(1964 - 2004)
TRUYÒN THèNG C¤NG NH¢N Má

c«ng ty than vµng danh
(1964 - 2004)

Nhµ xuÊt b¶n chÝnh trÞ quèc gia
5 6
Hà Nội - 2004
chỉ đạo biên soạn
Trần Văn Lễ - Bí th Đảng uỷ Công ty
Nguyễn Văn Dậu - Phó Bí th Đảng uỷ,
Giám đốc Công ty
ban su tầm t liệu, biên soạn
PGS, TS. Nguyễn Quý - Viện Lịch sử Đảng
TS. Khổng Đức Thiêm - Viện Lịch sử Đảng
Nguyễn Tĩnh Khảm - Viện Lịch sử Đảng
Trần Thị Vui - Viện Lịch sử Đảng
Trịnh Công Toàn - Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ
Quảng Ninh
Nguyễn Khắc Giao - Nguyên Phó Bí th Đảng uỷ
Công ty than Vàng Danh
Nguyễn Đức Hoạt - Trởng ban Tuyên giáo
Đảng uỷ Công ty than Vàng Danh
Phạm Hữu Xuyên - Phó Văn phòng thi đua
Công ty than Vàng Danh
Nguyễn Tam Hng - Trởng phòng Tin học - Môi trờng
5 6
lời nhà xuất bản

nhiệt tình của các nhà khoa học thuộc Viện Lịch sử Đảng, của các
đồng chí l nh đạo, cán bộ, công nhân Vàng Danh qua các thời kỳã
đ cung cấp nhiều tã liệu, hình ảnh quý, nay cuốn sách đ hoànã
thành và ra mắt bạn đọc đúng vào dịp Công ty than Vàng Danh
kỷ niệm 40 năm ngày thành lập.
Mặc dù các tác giả đ rất cố gắng, Nhà xuất bản Chính trịã
quốc gia cũng đ nỗ lực cao độ trong một thời gian ngắn để hoànã
thành việc biên tập và xuất bản cuốn sách này, nhng chắc chắn
cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong đợc bạn
đọc góp ý, phê bình.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc và chúc
mừng Công ty than Vàng Danh nhân dịp đón nhận danh hiệu
Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới và kỷ niệm 40 năm
ngày thành lập.
Tháng 5 năm 2004
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
5 6
Lời giới thiệu
Mỏ than Vàng Danh đợc thành lập ngày 6 tháng 6
năm 1964 theo Quyết định số 262/BCNNg - KB
2
của Bộ
Công nghiệp nặng. Ngày 16 tháng 10 năm 2001, Mỏ đợc
đổi tên thành Công ty than Vàng Danh theo Quyết định số
405/QĐ-HĐQT của Hội đồng Quản trị Tổng Công ty than
Việt Nam.
Công ty than Vàng Danh là một doanh nghiệp sản
xuất than hầm lò có dây chuyền khép kín, đồng bộ, đ trảiã
qua một chặng đờng phấn đấu gian khổ, nêu cao tinh thần
tự lực tự cờng, phấn đấu đi lên. Những kết quả mà Công

này.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn Truyền thống công nhân
mỏ Công ty than Vàng Danh (1964-2004) với bạn đọc.
Lãnh đạo Công ty than Vàng Danh
5 6
Phần thứ nhất
Mỏ than Vàng Danh
trớc năm 1965
Chơng I
tổng quan về khu Mỏ Vàng Danh
1. Vị trí Mỏ than Vàng Danh
Mỏ than Vàng Danh là một đơn vị kinh tế nằm trên
địa bàn hành chính phờng Vàng Danh, thuộc khu vực
rừng núi Yên Tử - Bảo Đài. Mỏ than Vàng Danh trong
vòng cung Đông Triều, cách thủ đô Hà Nội 165 km, Hải
Phòng 55 km và trung tâm thị x Uông Bí 12 km. Phía bắcã
của Mỏ giáp huyện Sơn Động (Bắc Giang), phía nam giáp
phờng Bắc Sơn, (thị x Uông Bí), phía đông giáp huyệnã
Hoành Bồ và cách thành phố Hạ Long khoảng 50 km, phía
tây là khu danh lam thắng tích Yên Tử.
Ngoài đờng nội bộ nối Mỏ với các cơ sở sản xuất, thị
x Uông Bí và quốc lộ 18, Vàng Danh còn có đã ờng sắt
chuyên dùng để vận chuyển than công suất 1,2 triệu
tấn/năm tới Uông Bí, cảng Điền Công và đa vật t về Mỏ
theo chiều ngợc lại, đa đón công nhân đi làm theo tuyến
xuôi ngợc Uông Bí - Lán Tháp - Vàng Danh.
Phờng Vàng Danh diện tích 53,74 km
2
, có gần 1,2 vạn
nhân khẩu, chủ yếu là gia đình công nhân Mỏ sinh sống.

sản xuất, sinh hoạt và các nhu cầu khác của khu Mỏ là
nguồn nớc tự chảy từ chân núi Bảo Đài có lu lợng khoảng
80m
3
/giờ .
Vàng Danh gần biển, lại tựa lng vào d y núi Yên Tửã
nên mang nhiều đặc trng khí hậu biển cận nhiệt đới, gió
mùa chuyển hớng hàng năm tạo ra ảnh hởng lớn đến toàn
vùng. Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, có gió mùa đông
nam và nam, ma nhiều, nắng gắt, b o tố năm nào cũng có.ã
Mùa lạnh ảnh hởng nặng nhất là gió mùa đông bắc. Nhiệt
độ cao nhất trong khu vực đạt tới 41,5
0
C và thấp nhất là
6,7
0
C - trung bình nhiều năm dao động ở mức 24
0
C. Lợng
ma bình quân hằng năm là 1.846 mm.
Khí hậu nóng ẩm tạo cho bề mặt đồi núi ở Vàng Danh
lớp thảm thực vật phong phú.
Ngời xa còn để lại ở d y núi Yên Tử nhiều công trìnhã
kiến trúc Phật giáo nổi tiếng. Nơi đây, Thiền phái Trúc
Lâm từ thời Trần đ dựng nên nhiều chùa am với các quyã
mô lớn nhỏ khác nhau giữa thâm u của rừng núi.
3. Khoáng sàng và điều kiện khai thác
Khoáng sàng Vàng Danh đợc cấu tạo bởi nham thạch
thời kỳ Giura đệ tam - nguyên đại trung sinh và các trầm
tích đệ tứ thạch kỷ - nguyên đại trung sinh. Nham tầng

8 chỉ đạt 0,15m nhng có chỗ nh vỉa 7 dày tới 20m, rất không
ổn định, giảm dần từ tây sang đông và từ trên xuống dới. Độ
tro hàng hoá tính trung bình theo vỉa dao động từ 13,12%
(vỉa 8a) đến 21,51% (vỉa 4).
Nớc mặt tập trung ở các con suối cắt qua khu Mỏ, lu l-
ợng phụ thuộc vào mùa ma, có tính ăn mòn từ yếu đến
mạnh đối với bê tông. Khi hệ thống lò khai thác đi dới lòng
suối sẽ bị nớc suối thấm qua đới nứt nẻ để chảy vào lò gây
khó khăn cho sản xuất. Nớc dới đất chủ yếu là nớc trong
khe nứt của trầm tích phụ điệp Hồng Gai giữa và Hồng
Gai trên nhng mức độ không lớn, có tính ăn mòn bê tông.
Trong nham tầng của các loại nham thạch cấu tạo thành
khoáng sàng Vàng Danh phân ra làm ba tầng ngậm nớc ở
sát với các tầng có than và các tầng không có than cùng
các trầm tích đệ tử, thạch kỷ. Những nham thạch chứa n-
ớc đó là những lớp sa thạch có độ dầy ở tầng thứ nhất tới
385m và tầng thứ hai tới 160m. ở giữa nham tầng của các
trầm tích có cát và đất cát ngậm nớc. Thời kỳ có ma nhiều
là lúc cung cấp nớc chủ yếu cho các tầng ngậm nớc.
Tại Vàng Danh, ngời Pháp đ tiến hành khai thác cácã
vỉa 2, 3, 4, 5 và 6 thông qua các lò xuyên vỉa đi trên mỗi
tầng than. Những tầng ấy đợc nối với nhau bằng hệ thống
vận tải còn tầng dới cùng thì nối với mặt bằng công nghiệp
của Mỏ.
Ngời Pháp đ đào những lò xuyên vỉa riêng để tạo raã
những tầng vận tải độc lập. Tại vùng suối Uông Thợng,
trên cốt cao +122m đ đào lò xuyên vỉa thấp nhất cắtã
ngang đờng phơng của khoáng sàng. Việc khai thác ở Mỏ
đều thông qua lò xuyên vỉa này. Nó trở thành lò xuyên vỉa
chính với chiều dài 980m (tính đến năm 1937).

trên còn có các công trình kiến trúc: kho chứa thuốc nổ
xây ngầm, đặt bên bờ suối, nhà giao việc cho thợ mỏ, các
công trình lấy nớc (đập và trạm bơm) trên suối, bể chứa n-
ớc dự trữ trên núi, nhà để máy trục của lò thợng, trạm
biến thế điện trên tầng vận chuyển +138. Ngoài ra còn có
nhà của viên đội hiến binh, các cửa hàng, các kho chứa,
nhà điện báo và bu điện, các khu nhà ở và đồn bốt, trại
lính của ngời Pháp.
ở thị trấn Uông Bí thời đó có nhà máy điện, xởng cơ
khí đại tu thiết bị của Mỏ và chế tạo xe goòng, nhà máy
sàng rửa có công suất 100 tấn/giờ. Trên sông Đá Bạc có
cảng Điền Công. Cảng liên lạc với Mỏ bằng tuyến đờng sắt
cỡ 600 mm, dài 18 km. Tại Uông Bí, phân thành các
nhánh chạy vào nhà máy sàng rửa, xởng cơ khí, nhà máy
điện và đềpô xe lửa. Có bốn ga đờng sắt đặt tại cảng Điền
Công, Uông Bí, Lán Tháp và Vàng Danh, qua ba đờng
hầm dài từ 30-50m.
Hoà bình lập lại, trớc khi bắt tay vào việc khôi phục lại
Mỏ Vàng Danh, ta đ tiến hành khảo sát ở những lò còn điã
lại đợc, các lò xuyên vỉa chính có một số đoạn đợc chống
bằng gạch, bằng kim loại. Cột chống các lò cái chất lợng
còn tốt. Đờng ray và tà vẹt trong tất cả các lò đ bị bóc dỡã
hoặc h hỏng. Các lò còn lại đều bị hỏng, nhiều chỗ bị than
đá lấp kín.
Các toà nhà trong khu Mỏ hầu nh chỉ còn bộ khung,
mất nóc hoặc tờng bị sập đổ. Nền bê tông h hại nặng. Các
kết cấu kim loại hoen rỉ. Toàn bộ thiết bị đ đã ợc tháo và
mang đi. Đờng sắt bị bóc, nền đờng bị phá. Cỏ và cây bụi
phủ kín nhiều nơi.
Cảng Điền Công hầu nh không để lại dấu tích. Cầu tầu

than, công suất 600.000tấn/năm.
- Tháng 7-1965, bản Nhiệm vụ thiết kế mở rộng Mỏ
than Vàng Danh lên công suất 1.800.000 tấn/năm đợc lập
xong.
- Năm 1983, thiết kế kỹ thuật Mỏ Vàng Danh (có cả
khu khai thác lộ thiên Uông Thợng), công suất 1.400.000
tấn/năm.
Do tài liệu khảo sát thăm dò bổ sung về địa chất cho
thấy những thay đổi phức tạp, biến động lớn, phay phá,
uốn nếp nhiều, chiều dày vỉa kém ổn định, ngời Pháp đã
khai thác nhiều cùng các nguyên nhân khác khiến cho Mỏ
than Vàng Danh không đầu t đợc theo tiến độ và không
đạt công suất thiết kế. Trớc tình hình ấy, năm 1986 Viện
Quy hoạch thiết kế than đ lập lại luận chứng kinh tế kỹã
thuật cho Mỏ than Vàng Danh với công suất 1.150.000
tấn/năm - trong đó công suất khai thác hầm lò Vàng
Danh- Cánh Gà (phần lò bằng) là 650.000 tấn/năm
1
; Đồng
Vông - Uông Thợng là 500.000 tấn/năm. Từ những năm
1977-2000, Mỏ Vàng Danh đ tập trung đầu tã vào các
hạng mục công trình phục vụ duy trì sản xuất nhằm thay
thế các thiết bị cũ đ lạc hậu, các hạng mục công trình cầnã
thiết phục vụ cho sản xuất hầm lò, khai thác lộ vỉa và
xuất khẩu than theo yêu cầu của thị trờng (các thiết bị bốc
xúc, vận tải trong lò; các thiết bị san gạt, máy xúc, máy
khoan, ô tô phục vụ khai thác lộ thiên và tiêu thụ sản
phẩm; kho b i dây chuyền chế biến than cám 10C phục vụã
xuất khẩu, nhà kho bảo quản gỗ; xe đa đón công nhân và
phun nớc chống bụi). Năm 1998, Mỏ than Vàng Danh là

đất mỏ nằm trên đất tổng Bí Giàng thuộc huyện Yên Hng,
tỉnh Quảng Yên - phía đông Đông Triều, có diện tích 1.080
ha.
Năm 1910, De Rédon sang Việt Nam, bắt tay vào khảo
sát khu vực Vàng Danh - Uông Bí. Nhận thấy đây là vùng
mỏ có trữ lợng cao về than đá nên tìm mọi cách để đoạt
quyền khai thác. Năm 1914, những mẻ than khai thác
đầu tiên cho nhiều hứa hẹn, do đó đ thu hút Thống đốcã
Nam Kỳ Blanchard de la Broche và viên Thiếu tớng không
quân Albert Latache hùn đợc tất cả 2.500.000 phrăng để
thành lập Công ty. Ngày 18-4-1916, Công ty Mỏ than
Đông Triều (Société des charbonnages du Dong-Trieu) ra
đời, trụ sở đặt tại Hải Phòng, quản lý ba cơ sở khai thác là
Uông Bí (1.800 công nhân), Vàng Danh khi đó gọi là
Clotilde (8.700 công nhân) và cảng Điền Công.
Theo thống kê đề ngày 23-8-1925 của Công ty Mỏ than
Đông Triều do Ducreux ký, tại Mỏ Vàng Danh (Clotilde),
từ năm 1918 đến 1-8-1925, thực dân Pháp đ khai thác ởã
Vàng Danh 263.200 tấn, cụ thể nh sau :
Năm 1918: 432 tấn Năm 1922: 27.649 tấn
Năm 1919: 5.144 tấn Năm 1923: 41.065 tấn
Năm 1920: 14.247 tấn Năm 1924: 83.211 tấn
Năm 1921: 24.857 tấn Tháng 7-1925 66.595 tấn
1
Những năm kể trên, việc khai thác than ở Vàng Danh
hoàn toàn theo phơng pháp thủ công. Năm 1925, Cảng
Điền Công, Nhà máy điện 500 KW, Trạm Cơ khí Vàng
Danh, đờng xe lửa nội bộ chở xe bù đài có hai đầu tàu đợc
lần lợt hoàn thành, Cảng Điền Công sau này đợc đổi tên là
1

năm 1937 đến 1942 nh sau (tấn):
1937 1938 1939 1940 1941 1942
482.600 458.300 562.600 484.800 383.580 144.200
Nhìn chung sản lợng hằng năm của Vàng Danh - Uông
Bí chiếm 20% tổng sản lợng than toàn Đông Dơng
1
. Giai
đoạn thịnh vợng nhất của Công ty than Đông Triều là 15
năm, kể từ năm 1925 đến năm 1940, sau khi hoàn thành
việc cơ giới hoá, dây chuyền sản xuất đi vào ổn định và
hoàn chỉnh. Công nhân đợc hai mỏ thu hút có lúc lên tới
30.000 ngời (theo báo Bạn dân, số 20, ngày 29-9-1937).
Theo số thẻ phát cho thợ Vàng Danh - Uông Bí đến năm
1944, có 93.000 lợt ngời đến làm việc tại hai Mỏ.
Từ cuối năm 1944, đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới
lần thứ hai ở trong giai đoạn quyết liệt, tàu vào ăn than
giảm đi rõ rệt. Than sản xuất ra không có nơi tiêu thụ, rơi
vào cảnh đình trệ, công nhân bị sa thải hàng loạt. Nạn thổ
phỉ nổi lên cớp phá khu Mỏ Vàng Danh càng làm cho mọi
hoạt động ở đây trở nên tiêu điều. Sau khi Nhật đảo chính
Pháp, thổ phỉ lại hoành hành dữ dội hơn. Ngày nào cũng
xảy ra nạn giết ngời cớp của. Nhà cầm quyền Nhật còn cho
lính tới Vàng Danh vơ vét tài sản do chủ Mỏ ngời Pháp để
lại, tổ chức bán số than tồn đọng. Cuối năm 1944, thực
dân Pháp ngừng khai thác than ở Vàng Danh.
2. Thống trị và bóc lột
Để bảo vệ khu Mỏ, kiểm soát công nhân, chủ Mỏ đ choã
lập hai đồn khố xanh ở Vàng Danh, biên chế một trung đội
do viên quan một ngời Pháp chỉ huy. Các đồn này còn phối
hợp hành động với viên Giám binh ở thị x Quảng Yên.ã

Mỏ thờng chỉ cho mở những đờng lò hẹp khiến cho nhiều
1
. Theo Thi Sảnh: Quá trình chuyển biến t tởng từ chủ nghĩa
yêu nớc đến chủ nghĩa Mác-Lênin trong phong trào công nhân
khu mỏ Quảng Ninh thì thợ ngời Thái Bình, Nam Định chiếm
60%, ngời Kiến An 7%, ngời Hà Nam 4,5%, ngời Ninh Bình 3,5%,
Hng Yên và Hải Dơng - mỗi tỉnh 2,5%.
đoạn ngời thợ lò phải trờn bằng cùi tay và đầu gối để bò
qua các mảnh than đá sắc nh dao mới vào đợc nơi cuốc
than. Ngời thợ phải vác gỗ ngợc trong hầm lò có chỗ dốc tới
40
0
hoặc đẩy goòng trong những hầm lò chật hẹp chỉ cao
1,3m, cõng vật liệu trên lng đi bằng đầu gối và hai tay.
Để trả lơng cho công nhân, chủ Mỏ Vàng Danh còn
thâm độc sử dụng loại tiền 8 cạnh đợc làm từ kẽm hòm
mìn. Chính vì thế, tiền này đợc công nhân gọi là tiền mìn,
tiền xiềng xích vì nó không dùng để trao đổi với bên ngoài
khu Mỏ đợc. Muốn tới Uông Bí hay về quê phải xin phép
đổi qua cai thầu và chỉ đợc hởng 80% giá trị thờng dùng
của loại tiền này.
Ngoài loại tiền mìn, chủ Mỏ còn dùng hình thức phát
bông thay tiền buộc ngời thợ chỉ mua đợc hàng của các
nhà thầu do chúng chỉ định với giá cắt cổ. Những tờ bông
này hoàn toàn không có giá trị đối với bên ngoài.
Công nhân Vàng Danh phải ở trong các nếp nhà lụp
xụp làm bằng tre nứa hoặc xây gạch lợp tôn thấp lè tè,
ngủ trên những chiếc giờng cao ba tầng. Cứ ba tầng giờng
hình thành một cặp gồm hai thợ xúc và một thợ vận hành
để khi làm thì chống đợc ba vì, lấy đợc 12 xe than. Thợ vận

2
.
Trong một bài phóng sự đăng trên báo Đông Pháp số
3654 ra ngày 29-9-1937 đ viết:ã
"Một khoảng đất núi mênh mông hàng trăm km mà
không khác gì một khu nhà thu hẹp trong 4 bức tờng. Mỏ
muốn cho ai đến thì ngời đó đợc đến còn nếu không đã có
bọn mật thám riêng của Mỏ ngăn lại và đuổi đi. Từ hôm
xảy ra cuộc đình công của phu Mỏ Vàng Danh, sự canh
mỏ lại càng nghiêm trọng hơn mọi ngày. Các đầu đờng
vào Uông Bí và các chỗ xe song loan
1
đỗ ở Mỏ Vàng Danh
đều có rất đông mật thám của sở mỏ và lính đứng đón để
cấm không cho ngời lạ mặt tới đất Mỏ...
Chúng tôi đã đến đợc đất mỏ, vào tới đợc Vàng Danh
mới trông qua đợc tình hình đã bị 13 ngời vừa cảnh sát,
mật thám, lính áp dẫn đến xe song loan bắt về Uông Bí.
Tại Mỏ Vàng Danh có hơn một vạn phu đều làm dới lò
hầm. Kể cả số vợ con phu nữa thì dân ở Mỏ Vàng Danh tới
bốn, năm vạn ngời.
Phu cuốc than mỗi ngày một ngời lấy cho sở đợc 5 tấn
than; mỗi tấn than bán đợc 25$00
2
. Trừ số tiền chi phí một
cách rất huy hoặc, trừ tiền máy móc hao mòn, mỗi ngày
một ngời phu cũng còn làm lợi cho sở 25$00.
Lơng phu mỏ có ngời đợc trả hậu thì khoảng sáu, bảy
hào, còn phần nhiều chỉ đến số lợng 35 xu một ngày, có ng-
ời chỉ đợc 15 xu mà thôi.

kẻ ăn mày quanh năm kiếm từ cửa này đến cửa khác lúc
nào cũng đủ ăn. Còn những ngời phu ốm đau bị sa thải là
chết đói. ở Uông Bí đã ghi một năm biết bao nhiêu ngời
chết đói, chết đờng trong mình có đeo thẻ làm phu ở sở Mỏ.
Chân tay lúc nào cũng khoẻ mạnh làm quanh năm mà
không mấy ngời phu ăn mặc đợc lành lặn. Ngoài sự kém
ăn kém mặc họ còn phải chịu nhiều nỗi khổ sở trong khi
làm việc. Năm này qua năm khác tình cảnh không thay
đổi".
Cùng với thiên nhiên khắc nghiệt (ruồi vàng, bọ chó,
gió Vàng Danh) và sự bóc lột tàn nhẫn của chủ Mỏ ngời
Pháp nên những ai đ bã ớc chân đến đây, nếu không gửi
lại nắm xơng tàn ở ngay cái tuổi lẽ ra còn đang sung sức
nhất bởi sốt rét, tiêu chảy, sâu quảng, sập lò, điện giật,
xe cán, đánh đập thì cũng bị thân tàn ma dại vì bị bòn
rút đến tận xơng tuỷ, lao động cùng cực. Câu ca ai oán
ngày xa vừa gợi nỗi hờn căm, vừa là nỗi niềm thơng
cảm:
" Ai đi đến chốn Vàng Danh
Má hồng để lại, má xanh đem về".
3. Phong trào công nhân khu Mỏ Vàng Danh
Những điều kiện kinh tế, chính trị, x hội trong khuã
vực cũng nh những chuyển biến của các khu vực xung
quanh đ có tác động đến những ngã ời thợ Mỏ Vàng Danh.
Ngay trong năm 1928, nhờ một số hội viên của Hội Việt
Nam Cách mạng Thanh niên về vùng mỏ vô sản hoá, một
số công nhân đ tìm đã ợc ánh sáng của cách mạng. Lần lợt
ngời thợ đờng sắt Phạm Văn Kiều đợc hội viên Trần Bá D-
ơng giác ngộ, kết nạp rồi đến một số thợ tiện, thợ nguội,
thợ đờng sắt cũng đợc gia nhập vào tổ chức Hội Việt Nam

Việt Nam. Cuối tháng 5-1930, cấp trên quyết định
thành lập Đảng uỷ Mỏ Vàng Danh - Uông Bí với Ban
l nh đạo gồm đồng chí Phạm Văn Ngọ làm Bí thã và các
đồng chí Bùi Đắc Thanh, Đỗ Huy Liêm. Sự kiện này
đánh dấu chuyển biến quan trọng về tổ chức và chỉ đạo
của Đảng ở nơi tập trung công nhân; là bớc chuẩn bị cho
việc thành lập Đảng bộ Đặc khu Mỏ Đông Triều - Hòn
1
. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ sinh năm 1912 tại Phù Khê, Từ
Sơn, Bắc Ninh, là nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp từ
năm 17 tuổi. Đợc tôi luyện trong đấu tranh và trởng thành trong
nhà tù đế quốc, năm 26 tuổi đồng chí là Tổng Bí th Ban Chấp
hành Trung ơng Đảng, hy sinh tại Nam Bộ năm 29 tuổi. Nguyễn
Văn Cừ là một chiến sĩ cộng sản, một l nh tụ xuất sắc của Đảngã
ta.
Gai - Cẩm Phả.
Do địch khủng bố dữ dội, Đảng uỷ Mỏ Vàng Danh-
Uông Bí bị địch phá vỡ nhiều lần. Mỗi lần nh vậy, Đảng
uỷ lại đợc nhanh chóng khôi phục để đi vào hoạt động
và chỉ đạo phong trào
1
. Trong báo cáo của Trung ơng
Đảng, đến tháng 10-1930, toàn bộ vùng Mỏ có 64 đảng
viên thì Mỏ Vàng Danh có 6 đảng viên, Mỏ Uông Bí có
12 đảng viên. Vào dịp 7-11-1930, Đảng uỷ Mỏ Vàng
Danh - Uông Bí đ có nhiều hoạt động quan trọng, tổã
chức treo cờ Đảng, rải truyền đơn, dán áp phích, kêu gọi
công nhân đấu tranh chống chủ Mỏ, đòi không đợc lu l-
ơng của thợ.
Hởng ứng lời kêu gọi của Đảng uỷ, công nhân Uông Bí

Nguyễn ái Quốc đ ghi lại lời tuyên bố đanh thép ã của
đồng chí trớc toà án thực dân ở Kiến An: "Tôi có gan
theo Đảng Cộng sản thì tôi cũng có can đảm chịu lấy
trách nhiệm, chúng tôi không xem cách mạng nh một trò
trẻ con"
2
.
Tại Uông Bí, một số công nhân tụ tập nhau lại lập nên
Nhóm nghiên cứu mácxít bí mật, liên hệ với đồng chí Ninh
Văn Phan - một tù cộng sản vừa ở Nhà tù Côn Đảo trở về
và xuống vùng mỏ theo sự phân công của đồng chí Hoàng
Đình Giong
1
.
Trong năm 1935, phong trào cách mạng ở vùng Vàng
Danh trở nên sôi nổi hơn. Trong công văn mật của Sở Mật
thám Hải Phòng ngày 19-11-1935 gửi cho Công sứ Quảng
Yên ghi rõ:
" Tôi hân hạnh báo để ông biết: một thông tín viên báo
2
. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2002, t. 3, tr. 69.
1
. Hồi ký của đồng chí Nguyễn Đình Khôi, viết tay, lu tại Văn
phòng Đảng uỷ Công ty than Vàng Danh. Đồng chí Ninh Văn Phan,
ngời Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, cùng tham gia Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên và là bạn của Hoàng Đình Giong.
cho tôi biết là do sự kích động của tên Đỗ Văn Chung, tổ
trởng tổ thợ lấy dấu ở mỏ Cốtxôtin (Cao Sơn) nên đã có
những cuộc hội họp tổ chức ở Vàng Danh (Quảng Yên).

(lập các ban l nh đạo chung, Ban Phụ trách nhà máy, Banã
Tài chính cứu trợ, xây dựng chơng trình hành động, Điều
lệ thu nạp hội viên, xây dựng Đội tự vệ công hội). Đợc h-
ớng dẫn, ngay lập tức thợ mỏ đấu tranh với chủ đòi tăng l-
ơng và đ giành thắng lợi bã ớc đầu. Báo Đông Pháp cho
biết:
" Ngót một vạn phu Mỏ Vàng Danh đình công dạo vừa
rồi để đòi lơng. Sau cuộc điều đình của các nhà chức trách
chủ Mỏ với các cai phu, cuộc đình công kết thúc.
Chủ đã trả lơng cho phu và khi đã lĩnh lơng rồi thì
quang cảnh tấp nập. Hàng vạn phu làm ở Mỏ đổi thay.
Ngời ta thấy trong Mỏ có phần vắng vẻ bớt hai, ba nghìn
phu ra về với số tiền lơng bỏ vào túi.
Rồi cũng sau ngày ấy sự giữ gìn trật tự trong Mỏ ngời
ta cũng lu ý lắm. Nào là lùng bắt các nhà trong Mỏ xem có
tàng trữ những đồ vật hôm đình công phu đã phá phách
và lợm lặt của các cửa hiệu và nhà của những viên th ký
và giám thị. Cũng vì sự tìm bắt gắt gao ấy mà những đồ
dùng đáng giá và tiền bạc các phu lấy đợc cũng không có
chỗ cất [...]
1
.
1
. Hồi ký của đồng chí Thiện (Ban Tài mậu tỉnh Quảng Ninh)
cho biết chi tiết hơn:
"Cuộc đình công của thợ Mỏ Vàng Danh nổ ra năm 1936 vào
lúc trời cha rét nhng đã qua mùa hè, vào khoảng tháng 8 hoặc
tháng 9.
Công nhân lúc này còn một số đông làm khoán qua tên chủ
thầu là sếp Sâm và sếp Mạnh.

cùng chạy. Anh em kéo ra phá ba cửa hiệu của ba mụ vợ Ký Châu
vì tên này rất đểu cáng, các vợ của nó thầu căngtin, vải, gạo, rợu,
hàng cơm bóc lột phu rất nặng và phá nhà tên bang phố".
5 6
Uông Bí. Lập tức sau đấy ít giờ, một toán lính khố xanh ở
Quảng Yên về Mỏ giữ trật tự. Quan Công sứ Quảng Yên
nói các phu cử đại biểu lên yêu cầu ông chủ nhất trông
lại sự thiệt thòi cho phu nhng ông quả quyết không thể
lĩnh ý của phu đợc. Nếu ngót 200 phu cứ gắng bỏ việc
thì sở Mỏ coi nh đã thôi. ý cơng quyết đã buộc chừng 50
ngời ngay buổi chiều sau giờ đình công đã đi làm và đến
ngày hôm sau 14-10 tất cả đều đi làm việc nh cũ.
Nhân các phu đàn bà ở nhà Sàng đình công, các phu
đàn ông và đàn bà trớc kia bị phạt ở nhà không đợc trả l-
ơng đến kêu với ông Latigua - mật thám Uông Bí vào xem
tình hình trong Mỏ, xin ông can thiệp giúp. Nhờ vậy mà
bọn này đợc chủ trả lơng cho ngay chiều hôm 14-10.
Ngày hôm nay 16-10 và 17-10, chủ Mỏ lại trả lơng cho
các ngời làm công nhật và cho phu mỏ tiền lơng tháng 8.
Kể từ ngày 15-10, sở Mỏ định tặng cho các cai 15% tiền l-
ơng"
1
.
Tháng 11-1936, dới sự l nh đạo của Công hội đỏ Hồngã
Gai, cuộc tổng đình công của thợ mỏ đ ã đạt đợc một thắng
lợi rực rỡ: lần đầu tiên kỷ luật vô sản đã thắng sự kháng
cự của bọn chủ, khiến cho Đông Dơng đã bị rung chuyển
bởi một làn sóng bãi công cha từng thấy xa nay và không
một thuộc địa nào khác của nớc Pháp có thể so sánh nổi
2

phát thuốc mỡ vàng hằng ngày và phát giầy để thợ
chống sâu quảng, phát đủ đồ nghề cho thợ không phải
trả tiền.
Trớc khí thế mạnh mẽ của cuộc b i công, chủ Mỏ khôngã
dám khủng bố, bọn tay chân cũng bỏ trốn. Một số con
buôn bóc lột thợ thậm tệ bị hỏi tội và phá tài sản. Hai đốc
3
. Hồi ký của đồng chí Vũ Đình Dụ, viết tay, lu tại Văn phòng
Đảng uỷ Công ty than Vàng Danh.
1
. Hồi ký của đồng chí Vũ Khắc Ca, viết tay, lu tại Văn phòng
Đảng uỷ Công ty than Vàng Danh.
5 6
công gian ác ngời Việt bị đánh chết.
Ngày 21-1-1937, chủ Mỏ xin điều đình nhng ngoan cố
không chịu thoả m n các yêu sách. Cuộc b i công tiếp tục.ã ã
Công sứ Pháp ở Quảng Yên và án sát Cung Đình Vận đem
theo hai cơ lính vào Vàng Danh vừa dụ dỗ vừa đe doạ
khủng bố nhng cuối cùng phải rút về nhiệm sở. Công nhân
đợc bố trí thờng trực đấu tranh theo từng ca kíp. Việc
chuẩn bị tiếp tế lơng thực và vũ khí tự vệ đợc tiến hành
chu đáo. Lại còn tổ chức nhiều trò vui chơi giải trí trong
khu vực b i công.ã
Cuối cùng chủ Mỏ đồng ý thi hành các điều nêu ra,
tăng lơng 20%. Ngoài các việc ngăn phòng, làm thêm nhà,
phát thuốc, phát giầy và dụng cụ, chúng còn bỏ chế độ
thầu khoán. Chủ Mỏ trực tiếp trả lơng theo mức thợ chống
lò và cuốc than: 1$20/ngày, thợ đẩy xe goòng 0$95/ngày,
thợ xúc đội 0$70/ngày. Tên đốc công ngời Pháp tuy cha bị
đuổi nhng đ bớt hách dịch và đánh đập ngã ời thợ hơn trớc

khi đợc đồng chí Nguyễn Huy Sán giới thiệu với đồng chí Lê
Thanh Nghị và đồng chí Lê Thanh Nghị giới thiệu với đồng chí Tô
Hiệu, đồng chí đợc kết nạp vào Đảng. Tháng 3-1937, chi bộ Đảng
đợc thành lập [Lịch sử Đảng bộ thị xã Uông Bí (1930-2001), tr.20
cho rằng tháng 5-1937]. Thoạt đầu đồng chí Nguyễn Huy Sán
làm Bí th, đảng viên gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Phơng,
Nguyễn Văn Hộ, Bùi Văn Giới, Bùi Văn Giáp, Bùi Văn Thân,
Nguyễn Văn Loát, Nguyễn Văn Củng (tức Lê Trung Đình),
Hoàng Cơng, Nguyễn Thị Bé (tức Bích - vợ đồng chí Nguyễn Huy
Sán), Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Văn Y, Tô Quang Đẩu (chi
nhánh báo Đời nay), Nguyễn Văn Hách (Giáo Sinh).
Đồng chí Đào Lộc ở Hải Phòng về một thời gian ngắn thì bị
bắt, cha tham gia sinh hoạt lần nào. Ngoài ra còn hai đảng viên
cũ không hoạt động nhng vẫn đóng đảng phí đầy đủ và ủng hộ
các chủ trơng của chi bộ là đồng chí Hoàng Đọc (Côn Đảo về) và
đồng chí Huynh-thợ điện ở Uông Bí. Nhà máy cơ khí Uông Bí có
nhiều đảng viên nhất (Nguyễn Văn Phơng, Nguyễn Văn Hộ,
Nguyễn Huy Sán, Hoàng Cơng, Nguyễn Văn Y) rồi đến bộ phận
thầu khoán (Nguyễn Văn Loát, Nguyễn Văn Thân). Đồng chí Bùi
Văn Giới ở Vàng Danh giác ngộ thêm đợc các đồng chí Xuân, Tuy
và Hoàng Quốc Thịnh.
5 6
tiếp đó, chi bộ Đảng ở Vàng Danh - Uông Bí đ nắm vữngã
đợc tinh thần của các chủ trơng và đờng lối của Trung ơng,
nhận thức rõ đợc việc cần hạn chế các hoạt động thuộc về
bề nổi, tập trung vào việc bảo vệ tổ chức.
Từ giữa năm 1937, để chống lại sự thôn tính của Công ty
Pháp mỏ than Bắc Kỳ (Société Francaise des charbonnages
du Tonkin - SFCT) Ban Giám đốc Công ty than Đông
Triều quyết định giữ lơng của công nhân lại và trả theo ba

nét chính nh sau:
"Dạo này than của khu Mỏ nghe chừng bán cũng
khá mà trong vòng 8 tháng nay phu cha nhận đợc đồng
lơng nào của Mỏ. Bởi vậy vì sự đói thúc giục buổi gạo
châu củi quế này nên họ mới tính đến việc đòi tiền
công... Trớc hôm đình công, các phu mỏ có bàn nhau
nêu lên yêu cầu ông chủ trả lơng để có tiền chi dùng và
gửi về quê quán cho vợ con cha mẹ và đi làm đằng
đẵng hằng năm trời mà ngời nhà chẳng đợc đồng xu
nào.
Các phu có cử ba ngời tới bàn giấy ông chủ nhì.
Ông này lấy làm bất bình về cách hành động của
các đại biểu phu mỏ, bèn giữ họ lại bàn giấy. Ông chủ
còn cho gọi cả những ngời xuống coi các lò có những
đại biểu phu mỏ làm việc lên phòng giấy của ông chủ
nữa.
Sau khi phu bị giữ, các ngời trông coi ở Mỏ tởng rằng
mọi việc đều yên. Không ngờ các phu mỏ nhiều ngời lấy
thế làm bất bình, quyết tính đến việc đình công. Họ làm
1
. Báo cáo ngày 5-7-1937 của Giám thị cảnh sát đặc biệt
Hải Phòng.
5 6
việc rất dữ và làm một cách công khai.
Sau hôm các đại biểu và sếp lò bị thất vọng vì sự
không đợc trả tiền lơng có vài chục ngời phu vào loại giảo
hoạt, bớng bỉnh kéo nhau đi các ngả đờng trong Mỏ ngăn
phu lại khuyên đừng đi làm. Họ đứng giữa đờng diễn
thuyết khuyên các bạn nên đồng lòng hành động để sau
này trách nhiệm không về riêng một ai mà khi có lợi cùng

Tờ báo cho biết, khi thợ đ đi làm đông, nhà cầm quyềnã
Pháp liền bắt tay vào bắt bớ, đem 15 ngời nghi là cầm đầu
về Quảng Yên.
Tờ Bạn dân (số 20, ra ngày 29-9-1937) còn mô tả cuộc b iã
công nổ ra ở Vàng Danh có tới ba vạn ngời tham gia, con số
này có phần thiếu thực tế nhng ghi lại đợc các khẩu hiệu do
cuộc đình công đa ra (trả lơng cho phu mỏ sống, bỏ lệ ba
tháng trả lơng một lần, không đợc ép phu mỏ dùng bông
mua thực phẩm của các hiệu thầu) và kiến nghị:
"Nay chủ đã nhợng bộ chịu trả lơng cho thợ nhng còn
cái lệ ba tháng trả một kỳ kia chủ có chịu bỏ không, còn
cái lệ ép phu mỏ dùng bông mua thực phẩm của các hiệu
1
. Phu Mỏ Vàng Danh bạo động - Báo Đông Pháp - cũng theo
mô tả của bài viết, khi bị chủ mỏ triệt đờng lơng thực, nhiều ngời
đ phá các cửa hàng bán gạo, hiệu tạp hoá. Bọn lã u manh, trộm
cắp nhân cơ hội đ cã ớp phá thêm. Lý giải về vấn đề này, đồng chí
Vũ Khắc Ca cho rằng chi bộ Đảng bị động do việc Vũ Xuân Phơng
tự ý phát động thợ b i công, nhã ng chi bộ đ nhạy bén cho ngã ời
đứng ra vận động hàng vạn thợ quay về không đi làm để đẩy cuộc
b i công tiến lên. Đồng chí Nguyễn Văn Phã ơng đánh giá: "Cuộc
bãi công ở Vàng Danh năm 1937 có tính chất tự phát, không có
sự lãnh đạo của chi bộ. Công nhân Vàng Danh đã bỏ việc, đập
phá, cớp các cửa hiệu buôn. Do manh động không có tổ chức,
theo kiểu vô chính phủ nên bị địch khủng bố, cuộc bãi công này
nhanh chóng bị thất bại".
5 6
chủ thầu kia chủ có chịu không?
Ai cũng phải nhận rằng chính hai cái lẽ ấy là nguyên
nhân của cuộc đình công này. Muốn tránh những cuộc

Đồng chí Nguyễn Thế Rục mất ngày 23-5-1938 tại Hà Nội, đã
Đoàn Thanh niên Dân chủ vùng mỏ Uông Bí - Vàng
Danh với 16 đoàn viên. Ngày 4-5-1939, chi bộ Đảng Vàng
Danh - Uông Bí còn cử đại biểu ra Hà Nội dự đám tang của
chiến sĩ Mặt trận Dân chủ xuất sắc Phan Thanh
1
.
Để chỉ đạo phong trào cách mạng ở cơ sở đợc sát hợp và
hiệu quả hơn, Trung ơng Đảng chủ trơng phân chia Xứ uỷ
Bắc Kỳ thành các Khu uỷ A,B,C,Đ. Khu uỷ B gồm các cơ
sở Đảng thuộc miền duyên hải (Hải Phòng, Hải Dơng,
Kiến An, Quảng Yên) và các Đặc khu uỷ Uông Bí -Vàng
Danh, Hòn Gai- Cẩm Phả do đồng chí Tô Hiệu trực tiếp
làm Bí th Ban Cán sự.
Cuối tháng 5-1939, Ban Cán sự Khu uỷ B cử đồng chí
Tô Quang Đẩu về Uông Bí lập chi nhánh tờ Đời nay
2
, tổ
từng tham gia Đảng Cộng sản Pháp, theo học Trờng đại học Ph-
ơng Đông (Mátxcơva) và Trờng Giáo s đỏ Xvéclốp. Về nớc năm
1930. Là thành viên sáng lập và biên tập viên tờ Le Travail.
Tang lễ đồng chí Nguyễn Thế Rục đợc cử hành vào ngày 25-5-
1938. Trong buổi lễ tang, đồng chí Đặng Xuân Khu (Trờng Chinh)
đọc lời điếu.
1
. Phan Thanh sinh năm 1908 tại Điện Bàn (Quảng Nam),
từng dạy học ở Thanh Hoá và Trờng Thăng Long (Hà Nội) cùng
Võ Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai, tham gia tích cực vào phong
trào Mặt trận Dân chủ, giữ cơng vị Phó Th ký Chi nhánh Đảng Xã
hội Pháp ở Đông Dơng, Tổng Th ký Hội truyền bá Quốc ngữ,

1
.
Tháng 12-1939, đồng chí Tô Hiệu bị địch bắt. Phong
trào cách mạng ở Hải Phòng, Hòn Gai - Cẩm Phả, Vàng
Danh - Uông Bí gặp nhiều khó khăn. Đầu năm 1940, đồng
chí Hoàng Văn Nọn và Trần Quang Huy đợc cử về tăng c-
1
. Theo Hồi ký của đồng chí Hoàng Quốc Thịnh, nguyên Bộ tr-
ởng Bộ Nội thơng: Tháng 11-1939, đồng chí Thịnh bị mật thám
bắt do dán truyền đơn lên toa tàu nhân dịp kỷ niệm Cách mạng
Tháng Mời Nga. Đồng chí Thịnh bị đa đi giam ở Quảng Yên, sau
đó bị đày ở nhà tù Sơn La.
ờng cho Khu uỷ B, lúc đó chỉ còn đồng chí Thành Ngọc
Quản và đồng chí Trần Quang Huy đợc phân công phụ
trách khu vực Quảng Yên, Hải Phòng và hai Đặc khu
Vàng Danh - Uông Bí , Hòn Gai - Cẩm Phả.
Mặc dù địch khủng bố gắt gao, nhng chi bộ Đảng ở
Vàng Danh - Uông Bí vẫn đợc bảo toàn và giữ đợc liên lạc
với Khu uỷ B và Xứ uỷ Bắc Kỳ. Để kỷ niệm ngày Quốc tế
lao động 1-5, và đẩy mạnh phong trào quần chúng, Xứ uỷ
Bắc Kỳ chủ trơng phát động toàn xứ treo cờ đỏ búa liềm,
rải truyền đơn, dán áp phích và tổ chức mít tinh vào ngày
13-5-1940.
Để nắm vững tình hình cơ sở, cuối tháng 5-1940,
đồng chí Trần Quang Huy đ tổ chức cuộc họp tại nhàã
đồng chí Trần Danh Tuyên. Bí th chi bộ Vàng Danh -
Uông Bí Nguyễn Văn Phơng cũng tham dự. Tại hội
nghị, các đại biểu nhấn mạnh cần coi trọng nhiệm vụ
phát triển phong trào Hòn Gai - Cẩm Phả đa thành
trọng tâm công tác, còn Vàng Danh - Uông Bí phải đợc

những cơ sở kinh tế còn lại của Công ty than Đông Triều.
Đờng sá, cầu cống cũng không còn nguyên vẹn. Để cầm
chân địch, anh em công nhân đ hăng hái tham gia tháoã
gỡ đờng ray để cắm cọc rào sông Bến Chụp (Nam Khê),
nhân dân đóng góp tre gỗ đóng bè, rào sông Sinh tại cảng
Điền Công. Nhân dân thôn Đồng Nối đào đờng, đắp ụ cản
xe tăng của địch từ cảng Điền Công, tiến vào phá nhà chủ
Mỏ ở Uông Bí và cầu trên sông Sinh, sông Uông. Lực lợng
vũ trang rút vào hậu cứ Đồng Tranh- Năm Mẫu để bảo
tồn và củng cố lực lợng. Tháng 3-1947, quân Pháp chiếm
lại Uông Bí -Vàng Danh.
Đầu năm 1948, Công ty than Đông Triều cử chủ nhì là
Vuichard và viên kỹ s quan t Peseda trở lại tổ chức khai
thác phục vụ nhu cầu về than cho chiến tranh nhng đến
hết năm, kết toán bị lỗ 100.428$57 do đó đầu năm 1949,
chúng tạm ngừng khai thác. Phải đến tháng 8-1949, Mỏ
mới bắt tay vào việc tiếp tục chuẩn bị khai thác, nhng
công việc chính vẫn là sàng lại số than cũ còn việc sản
xuất mới cha làm đợc vì thiếu dụng cụ và nhân công. Mỗi
ngày Mỏ làm đợc từ 70 đến 100 tấn than.
Số tiền Công ty than Đông Triều nhận đợc từ khoản
bồi thờng chiến tranh theo thông báo là 24.300.000$00
nhng mới đợc lĩnh 6.310.000$00. Dự kiến Công ty sẽ cấp
tốc trang bị dụng cụ để tăng năng lực sản xuất.
Giữa lúc công việc của Công ty than Đông Triều tiến
triển thì kỹ s mỏ Gaide bị ta bắt. Trong công văn của Phủ
Thủ tớng do Chánh Văn phòng Phan Mỹ ký gửi cho Uỷ
ban Kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc (3-6-
1950) khẳng định việc làm này đ phá đã ợc một phần nền
sản xuất than của địch, Uỷ ban Kháng chiến hành chính

để thế chỗ, không qua tập huấn. Vũ khí trang bị chỉ có
một số ít súng trờng và lựu đạn.
Tuy nhiên, do làm ăn thua lỗ triền miên và tình hình
chiến sự bất lợi cho việc khai thác than, đến ngày 30-11-
1950, toàn bộ hai Mỏ Vàng Danh và Uông Bí thuộc Công
ty than Đông Triều ngừng khai thác hoàn toàn. Báo cáo
của Ty Công an Quảng Yên ngày 8-12-1950 ghi rõ: Sau
khi tháo xong máy móc chuyển về Hải Phòng, bọn Tây ở
Mỏ Uông Bí tiếp tục cho dỡ nốt các tấm kim khí, tôn kẽm
trong các xởng, đồng thời cho gỡ cả đờng xe lửa từ Mỏ
Vàng Danh đến Điền Công và hiện đã tháo gần đến Lán
Tháp. Ngày 12-11-1950, chúng cho các cai lò vào Vàng
Danh dùng mìn làm sụp các lò chính, lấy gỗ đá ghép kín
các lò ngách rồi thanh toán hết lơng bổng cho thợ. Chủ Mỏ
cho biết còn chờ xem diễn biến của tình thế và sự điều
đình với phía quân sự nên vẫn tạm đóng cửa. Các thợ ai
muốn đi lính cho Pháp và Bảo Đại thì tuỳ. Lần lợt
Descousse, Vuichard, Gerolamy, Richier, Hientz rời về Hải
Phòng. Quân Pháp rút bỏ hai vị trí là đồn Cao Su và nhà
sàng Lavoir trong Vàng Danh để về tăng cờng cho Uông
Bí và Lán Tháp.
Ngợc lại với tình hình suy sụp của kỹ nghệ, địch hoạt
động và tăng cờng càn quét, tuần tiễu ở Uông Bí và sục
sạo vào các cánh rừng Lans Cuir, Năm Mẫu, Khe Tranh
nhiều hơn. Các thủ đoạn rình bắt cán bộ, củng cố hậu cứ
đợc địch thi hành ráo riết.
Từ đầu năm 1951, ta mở Chiến dịch Đông Bắc trên đ-
ờng 18 (còn gọi là Chiến dịch Hoàng Hoa Thám), sử dụng
7 trung đoàn đánh vào phòng tuyến của địch từ Phả Lại
đến Uông Bí nhằm đánh r một lực lã ợng của địch, phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status