Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM MAI THANH TÙNG
MỎ THAN VÀNG DANH TRONG THỜI KÌ
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỨU NƢỚC
(NHỮNG NĂM 1965-1975)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS NGUYỄN XUÂN MINH THÁI NGUYÊN - 2009
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta ở hai miền đất nước lần lượt đập
tan các chiến lược chiến tranh, mọi mưu đồ xâm lược của kẻ thù để tiến tới
hoà bình, thống nhất Tổ quốc.
Trong quá trình thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc phải
trực tiếp đương đầu với hai lần giặc Mĩ leo thang phá hoại và làm nghĩa vụ
hậu phương chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng, các ngành, các giới trên toàn miền Bắc đã nỗ lực tham gia
sản xuất với khẩu hiệu " Vì miền Nam ruột thịt ", " Tất cả để đánh thắng giặc
Mĩ xâm lược ". Trên toàn miền Bắc, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đã
xuất hiện nhiều nhà máy, công trường, xí nghiệp đã vượt qua nhiều khó khăn,
tích cực sản xuất, góp phần không nhỏ vào thắng lợi của công cuộc xây dựng
CNXH ở miền Bắc. Với khẩu hiệu "Vừa sản xuất, vừa chiến đấu", công nhân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2
ở các nhà máy, công trường kiên quyết không rời vị trí chiến đấu mỗi khi máy
bay địch xuất hiện, giữ vững nhịp độ sản xuất phục vụ đời sống nhân dân và
nhu cầu của cuộc kháng chiến.
Để thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ vừa chiến đấu, vừa sản xuất đòi
hỏi Đảng và nhân dân ta phải có quyết tâm cao, có tinh thần sáng tạo, vận
dụng linh hoạt cả qui luật chiến tranh cách mạng và qui luật kinh tế xã hội chủ
nghĩa. Hai nhiệm vụ chiến đấu và sản xuất ở miền Bắc có quan hệ khăng khít
với nhau, đồng thời quan hệ với cuộc chiến đấu ở miền Nam. Sản xuất nhằm
phục vụ cho cuộc chiến đấu tại chỗ ở miền Bắc vừa cho cả cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc ở miền Nam. Mặt khác, chiến đấu còn nhằm bảo vệ sản xuất,
bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và phối hợp với cuộc
chiến đấu ở miền Nam.
Từ trong phong trào yêu nước, quân và dân ta ở miền Bắc đã tỏ rõ sức
mạnh của một dân tộc có truyền thống yêu nước, tinh thần lao động cần cù,
chiến đấu dũng cảm, nêu cao tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách
mạng, giành nhiều thắng lợi trong lao động sản xuất và xây dựng đất nước.
Mĩ cứu nước (1954-1975) đã thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu
lịch sử. Đến nay, nhiều công trình nghiên cứu đã được xuất bản có giá trị
khoa học và thực tiễn to lớn.
Trong những thập niên 90 của thế kỉ trước, Trung ương đã thành lập Ban
chỉ đạo tổng kết cuộc chiến tranh, xuất bản cuốn "Tổng kết cuộc kháng chiến
chống Mĩ - Thắng lợi và bài học", 1996; Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam biên
soạn "Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước", Tập 1 - Tập 2, (Nxb Sự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
4
thật, 1991); và "Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam", (Nxb Quân đội
nhân dân, 1997)…
Đề tài về cuộc kháng chiến chống Mĩ nhận được sự quan tâm đặc biệt
của các nhà nghiên cứu. Văn Tiến Dũng biên soạn "Cuộc kháng chiến chống
Mĩ - Bước ngoặt lớn", (Nxb Sự thật, 1989) và "Cuộc kháng chiến chống Mĩ -
Toàn thắng", (Nxb Sự thật, 1991). Những công trình nghiên cứu trên đã cho
thấy sự chỉ đạo kịp thời, đúng đắn về đường lối cách mạng của Đảng ta, đồng
thời ghi lại những dấu mốc lịch sử quan trọng có tính bước ngoặt của cuộc
kháng chiến. Nhà nghiên cứu Hồ Khang biên soạn "Tết Mậu Thân - Bước
ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước", (2005); Phan Ngọc Liên
biên soạn "Hậu phương lớn - Tiền tuyến lớn trong cuộc kháng chiến chống
Mĩ, cứu nước" (1954-1975),(2005)… Những tác phẩm của các nhà nghiên
cứu nêu trên, tuy không đề cập đến hoạt động của Mỏ than Vàng Danh nhưng
là nguồn tài liệu quan trọng để chúng tôi tham khảo khi tìm hiểu, nghiên cứu
về quá trình chiến đấu của lực lượng tự vệ Mỏ than Vàng Danh chống chiến
tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, bảo vệ Mỏ và giữ vững nhịp độ sản xuất.
Ở địa phương, công tác chỉ đạo biên soạn lịch sử Đảng bộ tỉnh và các địa
phương, lịch sử các ngành, nghề, các nhà máy, xí nghiệp... rất được coi trọng.
Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Quảng Ninh biên soạn "Lịch sử phong trào công
nhân khu mỏ than Quảng Ninh", tập III (1820-1975), (1996); "Quảng Ninh
đất và người", (Nxb Lao động - Xã hội, 2005)..
lịch sử truyền thống. Đến nay, đã có 14/14 huyện, thị xã, thành phố biên soạn
và phát hành rộng rãi lịch sử đảng bộ cấp huyện; lịch sử kháng chiến chống
Pháp, chống Mĩ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ban Chấp hành Đảng bộ Thị
xã Uông Bí biên soạn "Lịch sử Đảng bộ Thị xã Uông Bí", tập 1, (2006);
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
6
nhiều xã trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố biên soạn được lịch sử đảng
bộ xã. Đối với các mỏ than trên địa bàn tỉnh cũng rất coi trọng công tác biên
soạn lịch sử ngành, lịch sử truyền thống của đơn vị. Đến nay, các công ti than
Vàng Danh, Núi Béo, Cao Sơn, Đèo Nai, Cọc Sáu, Hòn Gai, Hà Tu, Hà Lầm,
Mạo Khê… lần lượt biên soạn lịch sử ngành. Riêng đối với Mỏ than Vàng
Danh, năm 2004, nhân dịp kỉ niệm 40 năm ngày thành lập đã biên soạn
"Truyền thống công nhân mỏ - Công ty than Vàng Danh", (1964-2004), (Nxb
Chính trị Quốc gia, 2004). Tiếp đó, vào năm 2009, Công ti than Vàng Danh
tiếp tục biên soạn " 45 năm truyền thống công nhân mỏ Công ti Cổ phần than
Vàng Danh - TKV (1964-2009)", (Nxb Chính trị Quốc gia, 2009) trên cơ sở
kế thừa nguyên bản từ cuốn sách trước (2004), được sưu tầm và biên soạn tiếp
giai đoạn 2004-2009. Hai cuốn sách cho đến nay viết về Mỏ than Vàng Danh
được các nhà nghiên cứu biên soạn theo phương pháp lịch sử truyền thống. Việc
Công ti than Vàng Danh xuất bản hai cuốn sách là cơ sở quan trọng để chúng tôi
tham khảo khi nghiên cứu, bổ sung thêm tư liệu để thực hiện đề tài này.
Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào đi sâu
nghiên cứu một cách hệ thống Mỏ than Vàng Danh trong những năm 1965-
1975. Chúng tôi đánh giá rất cao những công trình kể trên và coi đó là những
nguồn tài liệu quý giúp chúng tôi hoàn thành Luận văn này.
3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Hoạt động sản xuất và chiến đấu của Mỏ than Vàng Danh trong thời kì
kháng chiến chống Mĩ cứu nước (những năm 1965-1975).
3.2 Phạm vi nghiên cứu
8
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Luận văn trình bầy một cách cơ bản và hệ thống quá trình thành lập
cũng như từng bước vượt qua những khó khăn ban đầu để ổn định sản xuất
của Mỏ than Vàng Danh.
- Luận văn làm rõ vị trí, tầm quan trọng của mặt trận sản xuất than
cho đất nước, đặc biệt trong hoàn cảnh miền Bắc vừa có hoà bình, vừa
có chiến tranh.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu để nghiên cứu, giảng dạy và học tập
lịch sử địa phương ở các trường chuyên nghiệp và phổ thông.
- Luận văn góp phần vào việc giáo dục truyền thống và niềm tự hào quê
hương, đất nước cho thế hệ trẻ, trước hết là các thế hệ công nhân Mỏ.
6. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Luận văn
kết cấu thành 3 chương nội dung:
Chương 1: Mỏ than Vàng Danh trƣớc năm 1965.
Chương 2: Mỏ than Vàng Danh trong thời kì 1965-1968.
Chương 3: Mỏ than Vàng Danh trong thời kì 1968-1975.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
9
Chƣơng 1
MỎ THAN VÀNG DANH TRƢỚC NĂM 1965
1.1 KHÁI QUÁT VỀ MỎ THAN VÀNG DANH TRONG THỜI KÌ PHÁP THUỘC
VÀ TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1894 - 1954)
1.1.1 Mỏ than Vàng Danh trong thời thuộc Pháp (1894-1945)
Mỏ than Vàng Danh là một đơn vị kinh tế nằm trên địa bàn hành chính
phường Vàng Danh thuộc khu vực rừng núi Yên Tử - Bảo Đài. Mỏ than Vàng
2.500.000 phrăng để thành lập công ti. Do vậy, từ năm 1915, quyền khai thác
mỏ đã thuộc về Đờrăngđông. Ngày 18/4/1916 ,Công ti mỏ than Đông Triều
đã ra đời và trụ sở được đặt tại Hải Phòng, trong đó quản lí 3 cơ sở khai thác
là Uông Bí (1.800 công nhân), Vàng Danh khi đó gọi là Clotilde (Clôtinđơ,
8.700 công nhân) và cảng Điền Công.
Theo thống kê đề ngày 23/8/1925 của Công ti Mỏ than Đông Triều do
Đuycơrơ (Ducreux) kí, tại Mỏ Vàng Danh (Clotilde) từ năm 1918 đến
1/8/1925, thực dân Pháp đã khai thác 263.200 tấn, cụ thể như sau:
Đơn vị tính: tấn
1918 1919 1920 1921 1922 1923 1924 Tháng
7/1925
432 5.144 14.247 24.857 27.649 41.065 83.211 66.295
Việc khai thác than ở Vàng Danh hoàn toàn theo phương pháp thủ công.
Năm 1925, cảng Điền Công, Nhà máy điện 500KW, Trạm cơ khí Vàng Danh,
đường xe lửa nội bộ có 2 đầu tầu kéo lần lượt hoàn thành.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
11
Trong những năm 1926 - 1930, để phục vụ cho công cuộc khai thác than,
thực dân Pháp đã xây dựng xong Nhà máy sàng Vàng Danh, Nhà máy cơ khí
Uông Bí, Nhà máy điện 5000KW, đường xe lửa Vàng Danh - Điền Công và
bắt tay vào việc mở rộng Nhà máy cơ khí Uông Bí, xây dựng Nhà máy sửa
chữa đầu tầu, Nhà máy sửa chữa và đóng xe Barchice, Nhà máy đóng và sửa
chữa toa xe, hệ thống bể than bùn, cầu Uông Bí…
Đến năm 1931, sản lượng khai thác than ở khu vực Mỏ đạt 161.000 tấn.
Để tăng hơn nữa khối lượng khai thác, chủ Mỏ cho khôi phục lại phương
pháp bóc nóc các tầng than (dùng phần đất đá phá hoả của tầng lớp trên lấp
tầng dưới đã khai thác xong) để tránh rủi ro cho người đào lò, tiết kiệm vật
liệu. Nhờ cách làm này mà năng suất khai thác đã tăng lên đáng kể. Số vốn
của Công ti than Đông Triều tính đến ngày 1- 3- 1933, tăng đến 28.000.000
Pháp để lại, tổ chức bán số than tồn đọng. Như vậy, đến cuối năm 1944, thực
dân Pháp đã ngừng khai thác than ở Vàng Danh.
Để bảo vệ khu Mỏ cũng như kiểm soát công nhân, bọn chủ mỏ đã cho
lập hai đồn lính khố xanh ở Vàng Danh, biên chế một trung đội do một viên
quan người Pháp chỉ huy. Các đồn này còn phối hợp hành động với viên
Giám binh ở thị xã Quảng Yên. Ngoài ra còn nhiều lính khố xanh và khố đỏ
được sử dụng để canh gác các kho sở, kiểm soát an ninh. Về sau, số này được
thay bằng lính Ân Độ. Một hệ thống mật thám đông đảo với 40 nhân viên đặt
dưới sự chỉ huy của người Pháp và một quản lí người Việt. Các xóm thợ được
chia thành các bang, có nhiều cảnh sát người Việt, do Quản Đằng cầm đầu,
canh giữ lúc nào cũng tỏ ra hung ác, đến mức công nhân mỏ phải truyền tụng
câu ca:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
13
" Ở nhà sợ mẹ sợ cha,
Khi tới Uông Bí sợ dây da ông Quản Đằng "
Tác phẩm Qúa trình chuyển biến tư tưởng từ chủ nghĩa yêu nước đến
chủ nghĩa Mác-Lênin trong phong trào công nhân khu mỏ Quảng Ninh của
nhà nghiên cứu Thi Sảnh đã cho thấy, làm việc tại đây có 60% người thợ đến
từ tỉnh Thái Bình, Nam Định; người đến từ Kiến An khoảng 7%; người Hà
Nam khoảng 4,5%; người Ninh Bình 3,5%; Hưng Yên và Hải Dương - mỗi
tỉnh 2,5%. Với mỏ Uông Bí - Vàng Danh, ngoài nguồn công nhân tại chỗ
thuộc các huyện Yên Hưng, Đông Triều còn có tới 80% được tuyển từ các
tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hoá, Nghệ An. Phần lớn họ là những nông
dân bị bần cùng hoá. Công nhân mỏ phải lao động cật lực từ 10 đến 12 giờ
trong một ngày với đồng lương rẻ mạt. Trong những năm 1914 - 1926, tiền
công của thợ lò chỉ bằng 47% tiền công của thợ cơ khí, tiền công của thợ nhặt
than, đội than, làm đường còn thấp hơn, chỉ bằng 40% so với tiền công của
thợ cơ khí. Để giảm chi phí đến mức tối đa, bọn chủ còn tăng cường sử dụng
cả thợ đàn bà và trẻ em, số lao động này chỉ nhận được 30 - 50% tiền công so
của cai kí hay sự cúp phạt trắng trợn của bọn chủ Mỏ. Mặt khác, do công việc
ở Mỏ quá nặng nhọc, sinh hoạt lại thiếu thốn nên người thợ mỏ không đủ sức
để làm hết số ngày trong một tháng. Bởi vậy, đời sống của họ rất khốn đốn,
phải ăn cá dích thối, mặc bì gai, ở nhà cũi chó, thường xuyên bị các loại bệnh
tật hoành hành. Những chứng bệnh công nhân thường mắc phải là thương
hàn, sốt rét, dịch tả và những chứng bệnh nghề nghiệp như ho ra đờm đen,
khó thở, rối loạn tim đã giết dần giết mòn những người thợ mỏ. Cả khu mỏ
chỉ có một nhà bệnh, một bác sĩ và một y sĩ, thuốc men rất thiếu thốn. Ở Mỏ
Vàng Danh, tỉ lệ thợ mỏ hằng ngày chết rất cao vì bệnh tật, tai nạn lao động,
và bọn chủ mỏ đánh đập. Không người thợ nào ở mỏ sống qua tuổi 60. Hơn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
15
thế nữa, bọn chủ mỏ còn kiềm chế gắt gao người thợ trong giờ làm việc cũng
như những lúc về lán trại. Chúng tạo ra cảnh đám thợ này đối lập với đám thợ
kia, khuyến khích tệ nạn cờ bạc, rượu chè, nhà thổ và tạo điều kiện cho tôn
giáo phát triển. Thợ mỏ không chỉ bị quản lí theo ca kíp mà còn bị quản lí rất
chặt chẽ trong các lán thợ. Ở Vàng Danh, họ phải sống chen chúc trong một
thung lũng hẹp chưa tới 1km
2
.
Trên một bài phóng sự đăng trên báo Đông Pháp số 3654 ra ngày 29-9-
1937, có đoạn viết:
"Một khoảng đất núi mênh mông hàng trăm km mà không khác gì một
khu nhà thu hẹp trong 4 bức tường. Mỏ muốn cho ai đến thì người đó được
đến còn nếu không đã có bọn mật thám riêng của Mỏ ngăn lại và đuổi đi. Từ
hôm xẩy ra cuộc đình công của phu Mỏ Vàng Danh, sự canh mỏ lại càng
nghiêm ngặt hơn mọi ngày. Các đầu đường vào Uông Bí và các chỗ xe song
loan (một loại xe goòng đặc biệt chuyên dùng để chở thợ mỏ đi làm) đỗ ở Mỏ
Vàng Danh đều có rất đông mật thám của sở mỏ và lính đứng đón để cấm
không cho người lạ mặt tới đất Mỏ…" [16, 27].
giác ngộ và vận động được nhiều công nhân ưu tú hiểu biết về chủ nghĩa cộng
sản, sẵn sàng đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Vào dịp kỉ niệm 12
năm Cách mạng tháng Mười Nga (7/11/1929), tại Vàng Danh và nhiều nơi
khác trên đất Mỏ đã xuất hiện nhiều truyền đơn và áp phích cách mạng kêu
gọi công nhân mỏ vùng dậy đấu tranh đánh đổ ách thống trị và bóc lột của đế
quốc Pháp.
Trong hoàn cảnh đấu tranh sôi nổi đó, qua thực tiễn hoạt động, Chi
hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Vàng Danh-Uông Bí đã chuyển thành
Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng, do đồng chí Bùi Đắc Thanh làm Bí thư.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
17
Một thời gian sau, đồng chí Bùi Đắc Thanh nhận nhiệm vụ mới, đồng chí Đỗ
Huy Liêm lên thay.
Tháng 4/1930, Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Vàng Danh-Uông Bí
lại được đổi tên thành Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuối tháng 5/1930, cấp
trên quyết định thành lập Đảng uỷ Mỏ Vàng Danh-Uông Bí với ban lãnh đạo
gồm đồng chí Phạm Văn Ngọ làm Bí thư. Sự kiện này đánh dấu chuyển biến
quan trọng về tổ chức và chỉ đạo của Đảng ở nơi tập trung công nhân, là bước
chuẩn bị thành lập Đảng bộ Đặc khu Mỏ Đông Triều-Hòn Gai-Cẩm Phả.
Do địch khủng bố dữ dội, Đảng uỷ Mỏ Vàng Danh-Uông Bí bị phá vỡ
nhiều lần. Mỗi lần như vậy, Đảng uỷ lại nhanh chóng khôi phục để đi vào
hoạt động và chỉ đạo phong trào. Trong báo cáo của Trung ương Đảng, đến
tháng 10/1930, toàn bộ vùng Mỏ có 64 đảng viên thì mỏ Vàng Danh có 6
đảng viên, Mỏ Uông Bí có 12 đảng viên. Vào dịp kỉ niệm Cách mạng tháng
Mười Nga (7-11-1930), Đảng uỷ Mỏ Vàng Danh-Uông Bí đã có nhiều hoạt
động quan trọng, như tổ chức treo cờ Đảng, rải truyền đơn, dán áp phích kêu
gọi công nhân đấu tranh chống chủ mỏ, đòi không được lưu lương của thợ.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng uỷ, công nhân Uông Bí đã nhất tề nghỉ
việc đấu tranh chống chủ mỏ. Để hỗ trợ cho phong trào, Tỉnh uỷ Hải Phòng
đã cử đồng chí Phạm Văn Kiều chuyển một số tiền cho Đảng uỷ Mỏ Vàng
những tên bản xứ sau đây tham dự: Đỗ Văn Chung, Phạm Văn Mạc, Nguyễn
Đình Nghiệp, Tường (cảnh sát mới ở Mỏ), Thăng, Trần Văn Thành, A Sinh,
Bút, Nền (giám thị), Tâm (nhân viên điện báo), Nguyễn Văn Đức (nhân viên
thư ký), Hùng (cai mỏ).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
19
Tất cả những tên bản xứ trên đây phải chăng đều là cựu binh sỹ hoặc
thiếu sinh quân thuộc loại đáng ngờ vực hoặc bị tình nghi.
Ngày 3 và 5 - 11 cũng có hai cuộc họp tại nhà chứa cô đầu.
Tên thông tín viên cho biết là không nắm được mục đích các cuộc họp đó
và vì sao nó được tổ chức rất kín đáo và bí mật " [16, 33].
Bước sang năm 1936, hoạt động đấu tranh có nhiều thuận lợi hơn trước,
các đồng chí như Nguyễn Huy Sán, Nguyễn Văn Hô, Lê Thanh Nghị đã từng
hoạt động ở Vàng Danh sau khi thoát khỏi các nhà tù của đế quốc lần lượt trở
lại khu Mỏ. Các đồng chí Tô Hiệu, Hoàng Văn Nọn, Lương Khánh Thiện
cũng được Xứ uỷ Bắc Kì cử về vận động và khôi phục phong trào cách mạng
ở Vàng Danh - Uông Bí.
Tháng 9 - 1936, Toà soạn báo Le Travail ( Lao động) cử cán bộ về
Mỏ Vàng Danh lập ra tổ chức Công hội, hướng dẫn phương pháp tổ chức đấu
tranh. Nhờ vậy, ngay lập tức thợ mỏ đã đấu tranh với chủ đòi tăng lương và
đã giành được thắng lợi bước đầu. Báo Đông Pháp cho biết:
" Ngót một vạn phu Mỏ Vàng Danh đình công dạo vừa rồi để đòi lương.
Sau cuộc điều đình của các nhà chức trách chủ Mỏ với các cai phu, cuộc đình
công kết thúc.
Chủ đã trả lương cho phu và khi đã lĩnh lương rồi thì quang cảnh tấp
nập. Hàng vạn phu làm ở mỏ đã đổi thay, người ta thấy trong Mỏ có phần
vắng bớt hai, ba nghìn phu với số tiền lương bỏ vào túi.
Rồi cũng sau ngày ấy, sự giữ gìn trật tự trong Mỏ người ta cũng lưu ý
lắm. Nào là lùng bắt các nhà trong Mỏ xem có tàng trữ những đồ vật hôm
đình công phu đã phá phách và lượm lặt của các cửa hiệu và nhà của những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
21
Ngày 21-1-1937, chủ mỏ xin điều đình nhưng ngoan cố không chịu thoả
mãn các yêu sách. Cuộc bãi công tiếp tục. Công sứ Pháp ở Quảng Yên và Án
sát Cung Đình Vận đem theo hai cơ lính vào Vàng Danh vừa dụ dỗ, vừa đe
doạ khủng bố nhưng cuối cùng phải rút về nhiệm sở. Công nhân được bố trí
thường trực đấu tranh theo từng ca kíp. Việc chuẩn bị tiếp tế lương thực và vũ
khí tự vệ được tiến hành chu đáo. Cuối cùng, chủ Mỏ phải đồng ý thi hành
các điều nêu ra, tăng lương cho công nhân 20%. Ngoài các việc ngăn phòng,
làm thêm nhà, phát thuốc, phát giầy và dụng cụ, chúng còn phải bãi bỏ chế độ
thầu khoán. Chủ Mỏ trực tiếp trả lương theo mức thợ chống lò và cuốc than là
1$20/ngày, thợ đẩy xe goòng 0$95/ngày, thợ xúc đội 0$70/ngày. Tên đốc
công người Pháp tuy chưa bị đuổi, nhưng đã bớt hách dịch và đánh đập người
thợ hơn trước.
Đầu tháng 2- 1937, thợ Mỏ Uông Bí - Vàng Danh lại tổ chức đấu tranh
với chủ mỏ đòi được tiếp xúc với phái viên Giuytxtanh Gôđa từ Pháp mới
sang để điều tra về tình cảnh thợ thuyền ở Việt Nam.
Được sự chỉ đạo trực tiếp của Khu uỷ B, thuộc Xứ uỷ Bắc Kì, sự lăn lộn
với phong trào của các đồng chí cán bộ cách mạng mới thoát khỏi lao tù đế
quốc và thực tiễn của các cuộc đấu tranh, Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương
ở Vàng Danh - Uông Bí được tái thành lập, do đồng chí Nguyễn Huy Sán làm
Bí thư, sau đó là đồng chí Nguyễn Văn Phương. Chi bộ Đảng ở Vàng Danh -
Uông Bí được Khu uỷ B chỉ đạo khá chặt chẽ. Đồng chí Tô Hiệu trực tiếp đến
Uông Bí nhiều lần để nắm tình hình sinh hoạt. Đồng chí Thành Ngọc Quản
(Đào Văn Trường), Trần Quang Huy thường xuyên về cơ sở, đem theo tài liệu
và chỉ thị của cấp trên để hướng dẫn Chi bộ hoạt động. Đồng chí Nguyễn Văn
Hách có nhiệm vụ giữ mạng lưới giao thông ở khu Mỏ và toàn bộ khu vực
Liên tỉnh B. Đồng chí Tô Quang Đẩu sinh hoạt trong Chi bộ với tư cách là đại
diện của báo "Đời nay" nhưng mới sinh hoạt được vài lần thì bị địch bắt. Nhờ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
chống lại việc chủ mỏ lưu lương ba tháng mới trả một lần và ép công nhân
phải mua hàng của chủ thầu với giá cao gấp nhiều lần giá thị trường. Mô tả
cuộc đình công này của công nhân Vàng Danh, báo Đông Pháp viết:
"…Trong khi họ đang làm giữ thì ông đồn trưởng và lính ở Uông Bí tới. Đang
hăng, họ không sợ gì súng ống, vây cả ông đồn và ném đá vào lính. Đã được
lệnh của Quan sứ Quảng Yên, dẫu gặp phải sự nguy đến bực nào cũng không
được bắn súng vào đám đông người nên lính chỉ bắn súng chỉ thiên để doạ
bọn phu làm dữ. Ông chủ mỏ và các người Tây làm ở Mỏ cũng bị phu ném đá
gạch vào nhà, vào người... " [16, 44].
Trước sự uy hiếp mạnh mẽ của công nhân, cuộc đình công đã thu được
kết quả bước đầu. Bọn chủ mỏ đã từng bước phải nhượng bộ, bắt đầu trả
lương cho công nhân, người nhận được 5 đồng, 10 đồng, có người chỉ nhận
được vài ba đồng. Tuy vậy, về căn bản các yêu cầu của công nhân đưa ra vẫn
không được giải quyết thoả đáng. Bọn chủ mỏ cấu kết với cảnh sát địa
phương nhanh chóng đàn áp cuộc bãi công. Lí giải cho nguyên nhân thất bại
của cuộc đình công năm 1937 của công nhân mỏ Vàng Danh, trong hồi kí
của đồng chí Nguyễn Văn Phương - một đảng viên làm việc tại Mỏ ghi rõ:
"Cuộc bãi công ở Vàng Danh năm 1937 có tính chất tự phát, không có sự
lãnh đạo của chi bộ. Công nhân Vàng Danh đã bỏ việc, đập phá, cướp các
cửa hiệu buôn. Do manh động, lại thiếu tổ chức nên bị địch khủng bố, cuộc
bãi công này nhanh chóng bị thất bại."
Bước sang năm 1938, Chi bộ Đảng ở Vàng Danh - Uông Bí đã tiến hành
nhiều hoạt động có ý nghĩa, như cổ động tuyên truyền cho hoạt động của Hội
Truyền bá Quốc ngữ, tham gia cuộc mít tinh ở nhà Đấu xảo Hà Nội nhân kỉ
niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5, dự đám tang chiến sĩ cách mạng Nguyễn
Thế Rục. Tháng 7-1938, Chi bộ đứng ra thành lập Đoàn Thanh niên Dân chủ
vùng mỏ Uông Bí - Vàng Danh với 16 đoàn viên. Ngày 04-05-1939, Chi bộ