Luận văn: MỎ THAN VÀNG DANH TRONG THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỨU NƯỚC (NHỮNG NĂM 1965-1975) - Pdf 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM MAI THANH TÙNG

MỎ THAN VÀNG DANH TRONG THỜI KÌ
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỨU NƢỚC
(NHỮNG NĂM 1965-1975)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS NGUYỄN XUÂN MINH THÁI NGUYÊN - 2009


Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta ở hai miền đất nước lần lượt đập
tan các chiến lược chiến tranh, mọi mưu đồ xâm lược của kẻ thù để tiến tới
hoà bình, thống nhất Tổ quốc.
Trong quá trình thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc phải
trực tiếp đương đầu với hai lần giặc Mĩ leo thang phá hoại và làm nghĩa vụ
hậu phương chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng, các ngành, các giới trên toàn miền Bắc đã nỗ lực tham gia
sản xuất với khẩu hiệu " Vì miền Nam ruột thịt ", " Tất cả để đánh thắng giặc
Mĩ xâm lược ". Trên toàn miền Bắc, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đã
xuất hiện nhiều nhà máy, công trường, xí nghiệp đã vượt qua nhiều khó khăn,
tích cực sản xuất, góp phần không nhỏ vào thắng lợi của công cuộc xây dựng
CNXH ở miền Bắc. Với khẩu hiệu "Vừa sản xuất, vừa chiến đấu", công nhân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2
ở các nhà máy, công trường kiên quyết không rời vị trí chiến đấu mỗi khi máy
bay địch xuất hiện, giữ vững nhịp độ sản xuất phục vụ đời sống nhân dân và
nhu cầu của cuộc kháng chiến.
Để thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ vừa chiến đấu, vừa sản xuất đòi
hỏi Đảng và nhân dân ta phải có quyết tâm cao, có tinh thần sáng tạo, vận
dụng linh hoạt cả qui luật chiến tranh cách mạng và qui luật kinh tế xã hội chủ
nghĩa. Hai nhiệm vụ chiến đấu và sản xuất ở miền Bắc có quan hệ khăng khít
với nhau, đồng thời quan hệ với cuộc chiến đấu ở miền Nam. Sản xuất nhằm
phục vụ cho cuộc chiến đấu tại chỗ ở miền Bắc vừa cho cả cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc ở miền Nam. Mặt khác, chiến đấu còn nhằm bảo vệ sản xuất,
bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và phối hợp với cuộc
chiến đấu ở miền Nam.
Từ trong phong trào yêu nước, quân và dân ta ở miền Bắc đã tỏ rõ sức
mạnh của một dân tộc có truyền thống yêu nước, tinh thần lao động cần cù,
chiến đấu dũng cảm, nêu cao tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách
mạng, giành nhiều thắng lợi trong lao động sản xuất và xây dựng đất nước.

Mĩ cứu nước (1954-1975) đã thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu
lịch sử. Đến nay, nhiều công trình nghiên cứu đã được xuất bản có giá trị
khoa học và thực tiễn to lớn.
Trong những thập niên 90 của thế kỉ trước, Trung ương đã thành lập Ban
chỉ đạo tổng kết cuộc chiến tranh, xuất bản cuốn "Tổng kết cuộc kháng chiến
chống Mĩ - Thắng lợi và bài học", 1996; Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam biên
soạn "Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước", Tập 1 - Tập 2, (Nxb Sự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
4
thật, 1991); và "Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam", (Nxb Quân đội
nhân dân, 1997)…
Đề tài về cuộc kháng chiến chống Mĩ nhận được sự quan tâm đặc biệt
của các nhà nghiên cứu. Văn Tiến Dũng biên soạn "Cuộc kháng chiến chống
Mĩ - Bước ngoặt lớn", (Nxb Sự thật, 1989) và "Cuộc kháng chiến chống Mĩ -
Toàn thắng", (Nxb Sự thật, 1991). Những công trình nghiên cứu trên đã cho
thấy sự chỉ đạo kịp thời, đúng đắn về đường lối cách mạng của Đảng ta, đồng
thời ghi lại những dấu mốc lịch sử quan trọng có tính bước ngoặt của cuộc
kháng chiến. Nhà nghiên cứu Hồ Khang biên soạn "Tết Mậu Thân - Bước
ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước", (2005); Phan Ngọc Liên
biên soạn "Hậu phương lớn - Tiền tuyến lớn trong cuộc kháng chiến chống
Mĩ, cứu nước" (1954-1975),(2005)… Những tác phẩm của các nhà nghiên
cứu nêu trên, tuy không đề cập đến hoạt động của Mỏ than Vàng Danh nhưng
là nguồn tài liệu quan trọng để chúng tôi tham khảo khi tìm hiểu, nghiên cứu
về quá trình chiến đấu của lực lượng tự vệ Mỏ than Vàng Danh chống chiến
tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, bảo vệ Mỏ và giữ vững nhịp độ sản xuất.
Ở địa phương, công tác chỉ đạo biên soạn lịch sử Đảng bộ tỉnh và các địa
phương, lịch sử các ngành, nghề, các nhà máy, xí nghiệp rất được coi trọng.
Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Quảng Ninh biên soạn "Lịch sử phong trào công
nhân khu mỏ than Quảng Ninh", tập III (1820-1975), (1996); "Quảng Ninh
đất và người", (Nxb Lao động - Xã hội, 2005)

lịch sử truyền thống. Đến nay, đã có 14/14 huyện, thị xã, thành phố biên soạn
và phát hành rộng rãi lịch sử đảng bộ cấp huyện; lịch sử kháng chiến chống
Pháp, chống Mĩ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ban Chấp hành Đảng bộ Thị
xã Uông Bí biên soạn "Lịch sử Đảng bộ Thị xã Uông Bí", tập 1, (2006);
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
6
nhiều xã trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố biên soạn được lịch sử đảng
bộ xã. Đối với các mỏ than trên địa bàn tỉnh cũng rất coi trọng công tác biên
soạn lịch sử ngành, lịch sử truyền thống của đơn vị. Đến nay, các công ti than
Vàng Danh, Núi Béo, Cao Sơn, Đèo Nai, Cọc Sáu, Hòn Gai, Hà Tu, Hà Lầm,
Mạo Khê… lần lượt biên soạn lịch sử ngành. Riêng đối với Mỏ than Vàng
Danh, năm 2004, nhân dịp kỉ niệm 40 năm ngày thành lập đã biên soạn
"Truyền thống công nhân mỏ - Công ty than Vàng Danh", (1964-2004), (Nxb
Chính trị Quốc gia, 2004). Tiếp đó, vào năm 2009, Công ti than Vàng Danh
tiếp tục biên soạn " 45 năm truyền thống công nhân mỏ Công ti Cổ phần than
Vàng Danh - TKV (1964-2009)", (Nxb Chính trị Quốc gia, 2009) trên cơ sở
kế thừa nguyên bản từ cuốn sách trước (2004), được sưu tầm và biên soạn tiếp
giai đoạn 2004-2009. Hai cuốn sách cho đến nay viết về Mỏ than Vàng Danh
được các nhà nghiên cứu biên soạn theo phương pháp lịch sử truyền thống. Việc
Công ti than Vàng Danh xuất bản hai cuốn sách là cơ sở quan trọng để chúng tôi
tham khảo khi nghiên cứu, bổ sung thêm tư liệu để thực hiện đề tài này.
Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào đi sâu
nghiên cứu một cách hệ thống Mỏ than Vàng Danh trong những năm 1965-
1975. Chúng tôi đánh giá rất cao những công trình kể trên và coi đó là những
nguồn tài liệu quý giúp chúng tôi hoàn thành Luận văn này.
3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Hoạt động sản xuất và chiến đấu của Mỏ than Vàng Danh trong thời kì
kháng chiến chống Mĩ cứu nước (những năm 1965-1975).
3.2 Phạm vi nghiên cứu

8
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Luận văn trình bầy một cách cơ bản và hệ thống quá trình thành lập
cũng như từng bước vượt qua những khó khăn ban đầu để ổn định sản xuất
của Mỏ than Vàng Danh.
- Luận văn làm rõ vị trí, tầm quan trọng của mặt trận sản xuất than
cho đất nước, đặc biệt trong hoàn cảnh miền Bắc vừa có hoà bình, vừa
có chiến tranh.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu để nghiên cứu, giảng dạy và học tập
lịch sử địa phương ở các trường chuyên nghiệp và phổ thông.
- Luận văn góp phần vào việc giáo dục truyền thống và niềm tự hào quê
hương, đất nước cho thế hệ trẻ, trước hết là các thế hệ công nhân Mỏ.
6. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Luận văn
kết cấu thành 3 chương nội dung:
Chương 1: Mỏ than Vàng Danh trƣớc năm 1965.
Chương 2: Mỏ than Vàng Danh trong thời kì 1965-1968.
Chương 3: Mỏ than Vàng Danh trong thời kì 1968-1975.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
9
Chƣơng 1
MỎ THAN VÀNG DANH TRƢỚC NĂM 1965
1.1 KHÁI QUÁT VỀ MỎ THAN VÀNG DANH TRONG THỜI KÌ PHÁP THUỘC
VÀ TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1894 - 1954)
1.1.1 Mỏ than Vàng Danh trong thời thuộc Pháp (1894-1945)
Mỏ than Vàng Danh là một đơn vị kinh tế nằm trên địa bàn hành chính
phường Vàng Danh thuộc khu vực rừng núi Yên Tử - Bảo Đài. Mỏ than Vàng

2.500.000 phrăng để thành lập công ti. Do vậy, từ năm 1915, quyền khai thác
mỏ đã thuộc về Đờrăngđông. Ngày 18/4/1916 ,Công ti mỏ than Đông Triều
đã ra đời và trụ sở được đặt tại Hải Phòng, trong đó quản lí 3 cơ sở khai thác
là Uông Bí (1.800 công nhân), Vàng Danh khi đó gọi là Clotilde (Clôtinđơ,
8.700 công nhân) và cảng Điền Công.
Theo thống kê đề ngày 23/8/1925 của Công ti Mỏ than Đông Triều do
Đuycơrơ (Ducreux) kí, tại Mỏ Vàng Danh (Clotilde) từ năm 1918 đến
1/8/1925, thực dân Pháp đã khai thác 263.200 tấn, cụ thể như sau:
Đơn vị tính: tấn
1918
1919
1920
1921
1922
1923
1924
Tháng
7/1925
432
5.144
14.247
24.857
27.649
41.065
83.211
66.295

Việc khai thác than ở Vàng Danh hoàn toàn theo phương pháp thủ công.
Năm 1925, cảng Điền Công, Nhà máy điện 500KW, Trạm cơ khí Vàng Danh,
đường xe lửa nội bộ có 2 đầu tầu kéo lần lượt hoàn thành.

482.600
458.300
562.600
484.800
383.580
144.200
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
12
Nhìn chung, sản lượng khai thác than hằng năm của Mỏ Vàng Danh -
Uông Bí là khá cao, chiếm 20% sản lượng khai thác than trên toàn Đông
Dương. Giai đoạn thịnh vượng nhất của Công ti than Đông Triều là trong
khoảng 15 năm, kể từ năm 1925 đến năm 1940, sau khi hoàn thành việc cơ
giới hoá, dây chuyền sản xuất đi vào ổn định và hoàn chỉnh. Công nhân được
hai mỏ thu hút có lúc lên tới 30.000 người (theo báo Bạn dân, số 20, ngày 29-
9-1937). Theo số thẻ phát cho thợ mỏ Vàng Danh - Uông Bí vào năm 1914 đã
có 93.000 người đến làm việc.
Từ cuối năm 1944, đầu năm 1945, khi Chiến tranh thế giới thứ hai sắp
bước vào giai đoạn kết thúc thì số lượng tầu vào ăn than đã giảm đi rõ rệt. Lúc
này, than sản xuất ra không có nơi tiêu thụ, rơi vào cảnh đình trệ, công nhân
bị sa thải hàng loạt. Cùng với đó là nạn thổ phỉ nổi dậy cướp phá khu Mỏ
Vàng Danh, càng làm cho mọi hoạt động ở đây trở nên tiêu điều, khó khăn.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), thổ phỉ lại hoành hành dữ dội hơn.
Ngày nào ở đây cũng xẩy ra nạn giết người cướp của. Hơn thế nữa, nhà cầm
quyền Nhật còn cho lính tới Vàng Danh vơ vét tài sản do bọn chủ mỏ người
Pháp để lại, tổ chức bán số than tồn đọng. Như vậy, đến cuối năm 1944, thực
dân Pháp đã ngừng khai thác than ở Vàng Danh.
Để bảo vệ khu Mỏ cũng như kiểm soát công nhân, bọn chủ mỏ đã cho
lập hai đồn lính khố xanh ở Vàng Danh, biên chế một trung đội do một viên
quan người Pháp chỉ huy. Các đồn này còn phối hợp hành động với viên
Giám binh ở thị xã Quảng Yên. Ngoài ra còn nhiều lính khố xanh và khố đỏ

ngược trong hầm có chỗ dốc tới 40
0
hoặc đẩy goòng trong những hầm lò chật
hẹp chỉ cao 1,3m, cõng vật liệu trên lưng đi bằng đầu gối và hai tay.
Để trả lương cho công nhân, chủ mỏ Vàng Danh còn thâm độc sử dụng
loại tiền 8 cạnh được làm từ kẽm hòm mìn. Chính vì thế, loại tiền này được
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
14
công nhân gọi là tiền mìn, tiền xiềng xích vì nó không có giá trị sử dụng ở
ngoài khu vực Mỏ. Muốn tới Uông Bí hay về quê, phải xin phép đổi qua cai
thầu và chỉ được hưởng 80% giá trị thường dùng của loại tiền này.
Ngoài loại tiền mìn, chủ Mỏ còn dùng hình thức phát bông thay tiền
buộc, người thợ chỉ mua được hàng của các nhà thầu do chúng chỉ định với
giá cắt cổ. Những tờ bông này hoàn toàn không có giá trị đối với bên ngoài.
Công nhân Vàng Danh phải ở trong những túp nhà lụp xụp làm bàng tre
nứa hoặc xây gạch lợp tôn thấp lè tè, ngủ trên những chiếc giường cao ba
tầng. Cứ ba tầng giường hình thành một cặp gồm hai thợ xúc và một thợ vận
hành để khi làm thì chống được ba vì, lấy được 12 xe than. Thợ vận hành có
quần áo dài, còn thợ xúc chỉ quần đùi, áo may ô đi làm. Công nhân bị cấm tụ
tập quá năm người, giờ cấm không được ra đường phố. Khi làm việc, người
công nhân không được trang bị thiết bị an toàn. Do vậy, nhiều công nhân đã
bị chết do điện giật, xe lửa cán hoặc do sập lò.
Nhiều tài liệu khảo sát cho thấy, với số tiền lương ít ỏi như vậy, nhưng
người thợ không bao giờ được lĩnh đủ bởi sự bòn rút, bớt xén thường xuyên
của cai kí hay sự cúp phạt trắng trợn của bọn chủ Mỏ. Mặt khác, do công việc
ở Mỏ quá nặng nhọc, sinh hoạt lại thiếu thốn nên người thợ mỏ không đủ sức
để làm hết số ngày trong một tháng. Bởi vậy, đời sống của họ rất khốn đốn,
phải ăn cá dích thối, mặc bì gai, ở nhà cũi chó, thường xuyên bị các loại bệnh
tật hoành hành. Những chứng bệnh công nhân thường mắc phải là thương
hàn, sốt rét, dịch tả và những chứng bệnh nghề nghiệp như ho ra đờm đen,

" Ai đi đến chốn Vàng Danh
Má hồng để lại, má xanh đem về "
Những thủ đoạn cai trị và bóc lột tàn bạo của bọn chủ Mỏ đã buộc người
công nhân không còn con đường lựa chọn nào khác là phải đoàn kết và tổ
chức đấu tranh để giành lấy tự do và quyền sống cho chính mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
16
* Phong trào đấu tranh của công nhân Mỏ than Vàng Danh.
Bước sang đầu thế kỉ XX, những thay đổi nhanh chóng từ tình hình trong
và ngoài nước đã có tác động đến nhận thức của những người thợ mỏ Vàng
Danh. Ngay trong năm 1928, một số hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên về vùng mỏ thực hiện vô sản hoá. Qua đó, một số công nhân đã
tìm được ánh sáng của cách mạng. Tiếp theo người thợ đường sắt Phạm Văn
Kiều được hội viên Trần Bá Dương giác ngộ, kết nạp rồi đến một số thợ tiện,
thợ nguội, thợ đường sắt cũng lần lượt gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên. Trong năm 1929, thông qua giao thông viên, hội viên Phạm Văn
Kiều đã liên hệ được với các đồng chí Đỗ Huy Liêm, Vũ Thị Mai để nhận
nhiệm vụ chuyển thư từ, tài liệu từ Hải Phòng về Vàng Danh.
Tháng 5/1929, đồng chí Nguyễn Văn Cừ và đồng chí Bùi Đắc Thanh về
Mỏ Vàng Danh vừa thực hiện nhiệm vụ vô sản hoá, vừa tiến hành gây dựng
cơ sở cách mạng ở vùng mỏ. Tại đây, đồng chí đã thâm nhập vào hàng ngũ
những người thợ mỏ, cũng làm việc quần quật từ sáng tinh mơ cho đến chiều
tối, nhưng đêm đến vẫn không quên làm công tác tuyên truyền trong công
nhân. Nhờ tác phong cùng ăn, cùng ở, cùng làm rất sâu sát đó, đồng chí đã
giác ngộ và vận động được nhiều công nhân ưu tú hiểu biết về chủ nghĩa cộng
sản, sẵn sàng đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Vào dịp kỉ niệm 12
năm Cách mạng tháng Mười Nga (7/11/1929), tại Vàng Danh và nhiều nơi
khác trên đất Mỏ đã xuất hiện nhiều truyền đơn và áp phích cách mạng kêu
gọi công nhân mỏ vùng dậy đấu tranh đánh đổ ách thống trị và bóc lột của đế
quốc Pháp.

quần chúng ở nhiều nơi bị phá vỡ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
18
Ngày 26-01-1931, nhà cầm quyền Pháp mở phiên toà đề hình tại Kiến
An để xét xử 72 đảng viên cộng sản bị bắt và giam giữ trong các đợt khủng bố
cuối năm 1930. Đồng chí Bùi Đắc Thanh - người chiến sĩ cộng sản trung kiên,
đã từng đảm nhiệm trọng trách Bí thư Đảng uỷ Mỏ Vàng Danh-Uông Bí đã
nêu cao tấm gương chiến đấu kiên cường của mình. Trong bài viết bằng tiếng
Pháp ngày 19-02-1931 có nhan đề " Khủng bố trắng ở Đông Dương ", lãnh tụ
Nguyễn Aí Quốc đã ghi lại lời tuyên bố đanh thép của đồng chí trước toà án
thực dân ở Kiến An: "Tôi có gan theo Đảng Cộng sản thì tôi cũng có can đảm
chịu lấy trách nhiệm, chúng tôi không xem cách mạng như một trò trẻ con"
[27, 69].
Tại Uông Bí, một số công nhân đứng ra tổ chức Nhóm nghiên cứu
Macxit bí mật, liên hệ với đồng chí Ninh Văn Phan - một tù cộng sản vừa ở
Nhà tù Côn Đảo trở về và xuống vùng Mỏ theo sự phân công của đồng chí
Hoàng Đình Giong [31, 1].
Trong năm 1935, phong trào cách mạng ở vùng Vàng Danh trở nên sôi
nổi hơn. Trong công văn mật của Sở Mật thám Hải Phòng ngày 19 - 11- 1935
gửi cho Công sứ Quảng Yên ghi rõ:
" Tôi hân hạnh báo để ông biết: một thông tín viên báo cho tôi biết là do
sự kích động của tên Đỗ Văn Chung, tổ trưởng tổ thợ lấy dầu ở mỏ Côtxôtin
(Cao Sơn) nên đã có những cuộc hội họp tổ chức ở Vàng Danh ( Quảng Yên)
Cuộc họp đầu tiên vào ngày 31 - 10 - 1935 tại nhà tên Đỗ Văn Chung có
những tên bản xứ sau đây tham dự: Đỗ Văn Chung, Phạm Văn Mạc, Nguyễn
Đình Nghiệp, Tường (cảnh sát mới ở Mỏ), Thăng, Trần Văn Thành, A Sinh,
Bút, Nền (giám thị), Tâm (nhân viên điện báo), Nguyễn Văn Đức (nhân viên
thư ký), Hùng (cai mỏ).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
19

sản đã thắng sự kháng cự của bọn chủ, khiến cho Đông Dương đã bị rung
chuyển bởi một làn sóng bãi công chưa từng thấy xưa nay và không một thuộc địa
nào của nước Pháp có thể so sánh nổi" (Báo Le Travail, ngày 27-11-1936).
Hoà vào không khí chung đó, công nhân Mỏ than Vàng Danh cũng ráo
riết chuẩn bị cho việc tham gia hưởng ứng cuộc tổng bãi công làm cho chủ
mỏ vô cùng hoảng sợ, phải đồng ý tăng lương đồng loạt 10% giống như ở
Mạo Khê và Uông Bí. Phát huy đà thắng lợi, nhiều hội viên Công hội đã bí
mật đến các lán vận động công nhân đấu tranh, đòi chủ phải thi hành luật làm
8 giờ và cấp thuốc cho thợ khi ốm đau, xây thêm nhà ở và mở trường học cho
con em thợ, không cúp phạt lương vô cớ và đánh đập thợ, lập nghiệp đoàn và
quỹ bảo hiểm cho công nhân già yếu [32, 1].
Các cuốn sách: "ABC Mácxít", "Tư bản hấp hối", "Bệnh ấu trĩ tả
khuynh", "Đời sống thợ thuyền Liên Xô" cũng được bí mật đưa vào khu Mỏ.
Đại diện báo "Tương lai" đặt ở Hải Phòng là Lê Bá Chấn cũng vào Vàng
Danh tìm cách xây dựng các tổ chức nghiệp đoàn, ái hữu nhưng bị bọn chủ
mỏ và mật thám ngăn cản [33, 1].
Ngày 18-1-1937, hơn 9.000 công nhân hầm lò và 300 công nhân nhà
Sàng Vàng Danh lại đứng dậy đấu tranh đòi chủ mỏ phải tăng lương 27% như
thợ mỏ Hòn Gai, bãi bỏ các tên đốc công người Pháp và người Việt hay đánh
đập thợ, phát thuốc mỡ vàng hằng ngày và phát đủ đồ nghề cho thợ không
phải trả tiền.
Trước khí thế mạnh mẽ của cuộc bãi công, bọn chủ mỏ không dám
khủng bố, bọn tay chân cũng bỏ trốn. Một số tên chuyên bóc lột thợ thậm tệ bị
hỏi tội, tài sản bị phá. Hai đốc công gian ác người Việt bị đánh chết.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
21
Ngày 21-1-1937, chủ mỏ xin điều đình nhưng ngoan cố không chịu thoả
mãn các yêu sách. Cuộc bãi công tiếp tục. Công sứ Pháp ở Quảng Yên và Án
sát Cung Đình Vận đem theo hai cơ lính vào Vàng Danh vừa dụ dỗ, vừa đe
doạ khủng bố nhưng cuối cùng phải rút về nhiệm sở. Công nhân được bố trí

chính sách giữ lương của công nhân, không trả hằng tháng mà 3 tháng mới trả
một lần. Đây thực chất vẫn là một thủ đoạn quen thuộc của bọn chủ Mỏ, đã
gây ra nhiều khó khăn cho công nhân. Do vậy, hàng ngàn công nhân đã tỏ thái
độ phản đối kịch liệt. Đồng tình với công nhân còn có cai thầu Vũ Xuân
Phương - còn gọi là sếp Sâm. Lợi dụng mối quan hệ họ hàng, đồng chí Vũ
Khắc Ca đã đề nghị Vũ Xuân Phương ủng hộ công nhân tiến hành cuộc bãi
công đòi chủ Mỏ phải trả lương đúng kì hạn và nhận được sự đồng ý. Hơn
thế, cai thầu Vũ Xuân Phương còn hứa thuê cả luật sư, cho vay tiền để mua
gạo dự trữ đề phòng khi chủ Mỏ cắt lương thực khi bãi công xẩy ra.
Tuy vậy, âm mưu bãi công của công nhân Mỏ than Uông Bí - Vàng Danh
đã bị bọn chủ mỏ phát hiện. Sở Cảnh sát Hải Phòng đã nắm được tình hình và
gửi thông báo về cho viên Phó Giám thị Cảnh sát Uông Bí. Trong nội dung
thông báo có đoạn: "Vào ngày 10 tháng này (tháng 7 năm 1937), tức là ngày trả
lương cho các phu mỏ, nếu Sở than Đông Triều không trả hết tháng cho các phu
mỏ đó thì sẽ có khoảng 700 phu làm việc ở mỏ Vàng Danh có thể tổ chức bãi
công. Những phu này đều làm dưới quyền Cai Xuân, họ hàng thân thiết của Vũ
Xuân Phương, tức sếp Sâm. Đã từ nhiều tháng nay, những người phu lò này mới
chỉ nhận được một phần lương của họ. Họ đã tính toán rằng Sở than Đông Triều
đã không trả đủ lương cho họ và tháng 7 là thời gian họ phải nộp thuế vì thế họ
có thể quyết định tổ chức cuộc tổng bãi công để phản đối" [13, 1].
Do sự phối hợp thiếu thống nhất, cuộc bãi công của gần một vạn công
nhân tham gia tới ngày 22-9-1937 mới nổ ra. Mục đích của cuộc bãi công để
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
23
chống lại việc chủ mỏ lưu lương ba tháng mới trả một lần và ép công nhân
phải mua hàng của chủ thầu với giá cao gấp nhiều lần giá thị trường. Mô tả
cuộc đình công này của công nhân Vàng Danh, báo Đông Pháp viết:
"…Trong khi họ đang làm giữ thì ông đồn trưởng và lính ở Uông Bí tới. Đang
hăng, họ không sợ gì súng ống, vây cả ông đồn và ném đá vào lính. Đã được
lệnh của Quan sứ Quảng Yên, dẫu gặp phải sự nguy đến bực nào cũng không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status