Giao thông vận tải tỉnh bắc thái trong kháng chiến chống mĩ cứu nước những năm 1965 - 1975 - Pdf 82

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
----------------------------
NGUYỄN VĂN BẮC
GIAO THÔNG VẬN TẢI TỈNH BẮC THÁI
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỨU NƯỚC
NHỮNG NĂM 1965 - 1975 Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.54 L
L
U
U


N
N
H
HS
S



NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: T.S NGUYỄN XUÂN MINH

THÁI NGUYÊN - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
---------------------------------------

NGUYỄN VĂN BẮC
H


C
CS
S
Ĩ
ĨL
L


C
C
H
HS
S



Đảng và những yêu cầu mới đối với ngành giao thông vận tải. ............ 30
2.2. Giữ vững mạch máu giao thông, đảm bảo nhu cầu sản xuất và trực
tiếp chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc
Mĩ, chi viện chiến trường. .................................................................... 35
CHƯƠNG 3. GIAO THÔNG VẬN TẢI TỈNH BẮC THÁI TRONG
THỜI GIAN TỪ 4/1968 - 1975. .......................................... 65
3.1. Sửa chữa, mở rộng, và xây dựng thêm mạng lưới giao thông vận tải,
đáp ứng nhu cầu khôi phục kinh tế phục vụ chiến đấu chống chiến
tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mĩ. .......................................... 65
3.2. Giao thông vận tải tỉnh Bắc Thái phục vụ chi viện chiến trường, góp
phần giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc (1973 - 1975). .......... 81
KẾT LUẬN ................................................................................................ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 93
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước kết thúc thắng lợi, với đỉnh cao là
Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đã chấm dứt tình trạng chiến tranh kéo dài 30
năm trên đất nước ta. Lần đầu tiên sau 117 năm, đất nước ta sạch bóng quân
xâm lược. Bắc - Nam được sum họp một nhà; non sông nối liền một dải.
Thắng lợi này "mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta một trong những
trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa
anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một
chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn
và có tính thời đại sâu sắc".[34, tr.5-6].
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước là thắng lợi của

lợi hoàn toàn.
Góp chung vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, giao
thông vận tải miền Bắc nói chung, giao thông vận tải tỉnh Bắc Thái nói riêng
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong những năm trực tiếp chiến đấu chống
hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, hàng viện trợ của các nước anh
em cho cách mạng nước ta từ Cao Bằng và Lạng Sơn theo các trục đường
giao thông chiến lược, gồm Quốc lộ 3, Quốc lộ 1B, Đường sắt Quán Triều -
Hà Nội, đường sắt Kép - Lưu Xá được trung chuyển qua địa bàn tỉnh Bắc
Thái về Hà Nội rồi toả đi chi viện cho các chiến trường.
Việc nghiên cứu về giao thông vận tải tỉnh Bắc Thái trong kháng chiến
chống Mĩ, cứu nước, những năm 1965 - 1975, không chỉ tái hiện bức tranh về
những năm tháng chiến đấu hào hùng của dân tộc, mà còn góp phần gìn giữ
và phát huy những truyền thống tốt đẹp để xây dựng ngành giao thông vận tải
hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên ngày càng lớn mạnh. Từ đó, chúng ta cũng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong công tác lãnh đạo, chỉ
đạo thực hiện nhiệm vụ giao thông vận tải.
Vì vậy, việc nghiên cứu về giao thông vận tải tỉnh Bắc Thái trong kháng
chiến chống Mĩ cứu nước, những năm 1965 - 1975, không chỉ có ý nghĩa về
khoa học, mà cả về thực tiễn. Đây là nhiệm vụ của nhiều ngành khoa học,
trong đó có khoa học Lịch sử
Thông qua đề tài này, chúng tôi hi vọng góp phần bổ sung, cung cấp
thêm tư liệu phục vụ cho học tập, giảng dạy và nghiên cứu lịch sử địa
phương, đồng thời góp phần giáo dục truyền thống lịch sử cho các thế hệ cán
bộ, công nhân viên ngành giao thông vận tải và nhân dân trong tỉnh.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề:
"Giao thông vận tải tỉnh Bắc Thái trong kháng chiến chống Mĩ, cứu
nước (Những năm 1965 - 1975)", làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Sử học.

tải, Hà Nội, 1992) trình bày khái quát quá trình hình thành và phát triển của
ngành giao thông vận tải tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm
1992; rút ra những thành quả về giao thông vận tải của nhân dân các dân tộc
Bắc Kạn, Thái Nguyên.
Cuốn "60 năm truyền thống giao thông vận tải Thái Nguyên" (Uỷ ban
nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Sở Giao thông vận tải, 2005) trình bày quá trình
hình thành, phát triển, đồng thời nêu bật những thành tựu mà các thế hệ
Ngành Giao thông vận tải tỉnh Thái Nguyên đạt được trong cuộc kháng chiến
chống Pháp, chống Mĩ và thời kì cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Cuốn "Lịch sử thanh niên xung phong tỉnh Thái Nguyên 1950 - 1975"
(Nxb Thanh niên) trình bày một cách sinh động về quá trình ra đời của lực
lượng thanh niên xung phong tỉnh Thái Nguyên, cũng như những đóng góp
của họ trên mặt trận giao thông vận tải trong hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mĩ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
Luận văn Thạc sĩ "Giao thông vận tải đường bộ miền Bắc Việt Nam
trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước 1954 - 1975" (Trường Đại học Sư
phạm, Thái Nguyên, 2007) tác giả Kim Ngọc Thu Trang không chỉ nêu rõ tầm
quan trọng của giao thông vận tải trong sản xuất và chiến đấu, mà còn làm rõ
cách tổ chức, chỉ đạo đảm bảo giao thông vận tải đường bộ trong các giai
đoạn phát triển của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đồng thời đi sâu
tìm hiểu các tuyến đường giao thông chiến lược, nhất là tuyến đường vận tải
chiến lược Bắc - Nam
Cuốn lịch sử Đảng bộ, lịch sử quân sự của các huyện, thành cũng đều đề
cập ít nhiều đến mặt trận giao thông vận tải trong những năm có chiến tranh
phá hoại.
Tuy nhiên, theo chúng tôi được biết, cho đến nay chưa có một tài liệu
nào đề cập riêng mang tính chất chuyên khảo về giao thông vận tải tỉnh Bắc

vận tải trong thời kì kháng chiến chống Mĩ.
- Các chỉ thị, nghị quyết, báo cáo tổng kết của Đảng bộ, Uỷ ban hành
chính tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Thái khi hợp nhất và Khu Tự trị Việt
Bắc, được lưu tại Phòng Lịch sử Đảng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ và Trung tâm
Lưu trữ tỉnh Thái Nguyên.
- Các tác phẩm, công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả về giao
thông vận tải trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước.
- Các tài liệu tham khảo liên quan đến nội dung đề tài như sách, báo, tạp
chí, báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề, tài liệu viết tay về giao thông vận tải
của cả nước nói chung, tỉnh Bắc Thái nói riêng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử,
kết hợp với phương pháp lôgíc là chủ yếu. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá để hiểu sâu sắc hơn vai
trò của giao thông vận tải tỉnh Bắc Thái trong kháng chiến chống Mĩ cứu
nước, những năm 1965 - 1975.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Tập hợp, hệ thống các nguồn tư liệu về giao thông vận tải tỉnh Bắc Thái
(cũ) trong những năm trực tiếp kháng chiến chống Mĩ.
- Làm rõ vị trí, vai trò của giao thông vận tải tỉnh Bắc Thái trong chiến
đấu và xây dựng. Trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm xây dựng
Ngành Giao thông vận tải tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên ngày càng lớn mạnh,
đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
- Dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, học tập trong
các nhà trường và phục vụ công tác giáo dục truyền thống.
6. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn

Dưới thời Lê, năm Quang Thuận thứ bẩy (1466), Lê Thánh Tông định lại
bản đồ cả nước, từ 5 đạo được chia làm 12 đạo thừa tuyên, Thái Nguyên là
một trong 12 đạo thừa tuyên và được gọi là Thái Nguyên thừa tuyên. Năm
1467, nhà Lê tiến hành điều tra địa hình, địa giới của các thừa tuyên, hoàn
thành việc lập bản đồ Quốc gia Đại Việt vào năm 1469, khẳng định chặt chẽ
hơn lãnh thổ và biên giới đất nước, đổi Thái Nguyên thừa tuyên thành Ninh
Sóc thừa tuyên, gồm 3 phủ Phú Bình, Thông Hoá, Cao Bằng. Đến đời Hồng
Đức (1483), Ninh Sóc thừa tuyên được đổi thành xứ Thái Nguyên; năm 1533,
xứ Thái Nguyên được đổi thành trấn Thái Nguyên.
Từ thời Lê Trung hưng đến hết thời Nguyễn Gia Long, Thái Nguyên vẫn
gọi là trấn. Năm Vĩnh Trị thứ hai (1677), phủ Cao Bằng được tách khỏi trấn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
Thái Nguyên đặt tên riêng là trấn Cao Bằng. Từ đó, trấn Thái Nguyên còn có
2 phủ Phú Bình và Thông Hoá.
Dưới thời Nguyễn Gia Long, Thái Nguyên thuộc tổng trấn Bắc Thành.
Năm 1831, 1832, Minh Mạng chia cả nước làm 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên.
Trấn Thái Nguyên được đổi thành tỉnh Thái Nguyên, sau đó đất Thái Nguyên
có nhiều biến động. Năm 1835, Minh Mạng tách một số vùng đất thuộc phủ
Phú Bình để lập phủ Tòng Hoá gồm châu Định Hoá, các huyện Phú Lương,
Đại Từ và Văn Lãng; phủ Phú Bình (còn lại) có châu Võ Nhai, các huyện
Đồng Hỷ, Tư Nông (nay là Phú Bình), Phổ Yên và Bình Tuyền (nay thuộc
Vĩnh Phúc); phủ Thông Hoá là vùng đất thuộc tỉnh Bắc Kạn ngày nay, gồm
có châu Bạch Thông (nay là đất huyện Bạch Thông, Chợ Đồn, Chợ Rã tức Ba
Bể (trước năm 2003), huyện Cảm Hoá (nay là đất huyện Na Rì, Phủ Thông và
Ngân Sơn).
Ngày 11/4/1900, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh
Bắc Kạn trên cơ sở toàn bộ phủ Thông Hoá của Thái Nguyên. Để mở rộng địa
giới tỉnh Bắc Kạn, ngày 25/6/1901, Pháp cắt tổng Yên Đĩnh khỏi huyện Phú

Sông Cầu là dòng chảy chính của sông Thái Bình, bắt nguồn từ huyện
Chợ Đồn (Bắc Kạn) ở độ cao trên 1.200m. Sông Cầu chảy qua thị xã Bắc
Kạn, thành phố Thái Nguyên, thị xã Bắc Ninh, thị trấn Phả Lại rồi chảy ra cửa
biển Thái Bình thuộc tỉnh Thái Bình.
Ở thượng lưu, từ nguồn đến Chợ Mới (Bắc Kạn) sông Cầu chảy theo
hướng bắc nam giữa vùng núi 400 - 500m, có ngọn núi cao tới 1326 - 1525m,
nên lòng sông hẹp, lắm thác ghềnh, độ dốc lên tới 10%.
Ở trung lưu, từ Chợ Mới đến Thác Huống (Thái Nguyên) sông Cầu
hướng chảy bắc nam sau thành hướng Tây Bắc - Đông Nam, chảy giữa vùng
đồi cao từ 100 - 300m, độ dốc đáy sông chừng 1%.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
Ở hạ lưu, từ Thác Huống ra cửa Thái Bình. Hướng chảy ở đoạn Thái
Nguyên theo hướng bắc nam, sau đó chuyển theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam trong đồng bằng Bắc Bộ. Độ dốc lòng sông rất nhỏ (0,1%).
Sông Cầu có lưu lượng nước lớn trung bình nhiều năm là 135m
3
/s. Chế
độ nước sông Cầu phù hợp với chế độ mưa, mùa lũ chiếm 75% lượng nước,
mùa khô chỉ chiếm dưới 25% lượng nước cả năm.
Dưới thời thuộc Pháp, sông Cầu là tuyến giao thông chủ yếu và quan
trọng để địch vận chuyển lực lượng, vũ khí, lương thực và phương tiện chiến
tranh từ phía Nam lên phía Bắc tỉnh. Từ thị xã Thái Nguyên theo sông Cầu có
thể tới Đáp Cầu (Bắc Ninh), từ Đáp Cầu đi tiếp xà lan tới phủ Lạng Thương,
Phả Lại, Hải Phòng, hoặc từ Đáp Cầu có thể đi ô tô, tàu hoả về Hà Nội.
Sông Công bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá, thuộc huyện Định Hoá, chảy
qua huyện Đại Từ, xuống dọc phía tây thành phố Thái Nguyên, tạo thành ranh
giới tự nhiên giữa thành phố Thái Nguyên với huyện Phổ Yên và thị xã Sông
Công. Lưu lượng nước của sông Công trong mùa mưa, lũ lên tới 1.880m

Quốc lộ 1B từ cầu Gia Bẩy (thị xã, nay là thành phố Thái Nguyên) là
đường trục nối liền hai tỉnh Thái Nguyên và Lạng Sơn, đến địa phận Đồng
Đăng (Lạng Sơn) gặp Đường số 4. Quốc lộ 1B chạy qua địa hình kín đáo, có
đoạn qua vùng núi đá với nhiều hang động đoạn từ Mỏ Gà đến La Hiên, Hoá
Thượng, đi qua vùng núi cao rừng rậm kín đáo. Đoạn đường từ Đồng Bẩm
đến cầu Gia Bảy là đồi trọc, đồng ruộng quang đãng, dân cư ở tập trung.
Quốc lộ 19 từ Lưu Xá (Thái Nguyên) qua Hà Châu (Phú Bình) về Hiệp
Hoà (Bắc Giang).
Đường 13A bắt đầu từ Đường số 3 ở ngã ba Bờ Đậu (Phú Lương) qua
Đại Từ, Đèo Khế sang Tuyên Quang gặp Đường số 2 từ Hà Nội lên. Đường
chạy qua sườn đồi núi, xen kẽ đồng ruộng, rừng cây kín đáo và qua các vùng
đông dân cư: Cù Vân - Hà Thượng - Hùng Sơn (thị trấn Đại Từ), Khuôn
Ngàn, Phú Xuyên, Văn Lãng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
Thời Pháp thống trị Việt Nam, đường giao thông được chia làm 3 loại:
- Đường thuộc địa: những tuyến đường quan trọng tầm quốc gia và
xuyên quốc gia đi các nước Đông Dương thuộc Pháp (Indochine, francaise -
gồm Việt Nam, Lào và Campuchia).
- Đường thuộc xứ (trong phạm vi Bắc, Trung, Nam và nối ba miền).
- Đường xâm nhập (vào các vùng giàu tài nguyên) và các đường phụ
thuộc khác
Dưới thời Pháp thuộc, hệ thống đường sá của tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên
đa phần là đường đất, chỉ có một số quốc lộ được rải đá, mặt đường hẹp. Do
hệ thống đường bộ được xây dựng vội vàng và hà tiện, không có chương trình
quy hoạch đồng bộ, nên việc đi lại, vận chuyển vô cùng khó khăn, trở ngại.
Khi thực dân Pháp bắt tay thực hiện chương trình khai thác thuộc địa,
trên địa bàn Bắc Kạn, Thái Nguyên các tuyến đường vào các vùng kinh tế
được mở rộng và nâng cấp. Hệ thống đường goòng, đường sắt được xây dựng.

khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ đó, cùng với nhân dân cả
nước, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc hai tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên bước
vào thời kì xây dựng chế độ mới. Song, trong những ngày đầu sau khi giành
được chính quyền, cùng với cả nước, nhân dân hai tỉnh Bắc Kạn, Thái
Nguyên đã phải đương đầu với 3 thứ giặc (giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt)
đầy nguy hiểm. Do vậy, vấn đề xây dựng, nâng cấp hệ thống đường giao
thông vận tải chưa được đặt thành một nhiệm vụ cấp bách trước mắt. Nhiệm
vụ số một của cách mạng Việt Nam lúc này là phải kháng chiến để bảo vệ
thành quả Cách mạng tháng Tám.
Từ đêm 19/12/1946, hưởng ứng chủ trương của Ban Thường vụ Trung
ương Đảng và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã bùng nổ trước tiên tại Hà
Nội và sau đó lan nhanh khắp cả nước.
Trên địa bàn Bắc Kạn, Thái Nguyên, từ ngày toàn quốc kháng chiến
bùng nổ đến thượng tuần tháng 10/1947, chiến sự vẫn chưa lan tới.Vì vậy,
Bắc Kạn, Thái Nguyên vẫn được coi là một vùng hậu phương an toàn, đồng
bào các tỉnh Hà Đông, Hưng Yên, Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh khác tản cư
lên ngày càng nhiều. Số đồng bào này cư trú rải rác ven Quốc lộ số 3 từ Phổ
Yên đến Phủ Thông, tập trung nhất ở vùng Chợ Mới, thị xã Bắc Kạn. Việc
tiếp nhận đồng bào tản cư, chăm lo đời sống và việc làm cho đồng bào là một
trong những nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng bộ và nhân dân hai tỉnh Bắc
Kạn, Thái Nguyên. Uỷ ban tản cư, tiếp cư của tỉnh và các huyện, xã nhanh
chóng được thành lập, có sự tham gia của các ngành, các giới, chủ yếu là Mặt
trận Việt Minh.
Cuối năm 1946, đầu năm 1947, các cơ quan, công xưởng từ Hà Nội và
các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Mặt trận, Bộ Quốc phòng (Trường
Chinh, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Lương Bằng, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc

trấn Hùng Sơn xuống xã Phúc Thuận (Phổ Yên), Ban phá hoại huyện đã huy
động nhân dân ra đào các hố chữ chi và dựng các chướng ngại vật nhằm cản
xe cơ giới và bước tiến công của địch.
Phá hoại để cản bước tiến của giặc, nhưng phải đảm bảo giao thông của
ta. Cái nghịch lí ấy đã được ngành giao thông vận tải Bắc Kạn, Thái Nguyên
thực hiện đầy sáng tạo. Đường đào hố chữ chi, xe cơ giới của giặc không đi
được nhưng xe thô sơ của ta vẫn đi lại bình thường. Ở những nơi có cầu cống
chúng ta phá hỏng thì làm đường tránh, đường ngầm. Phương tiện qua sông là
phà, bè mảng, cầu phao mà nguyên liệu chính là tre, luồng. Lực lượng chính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
và đông đảo tham gia làm công việc gian khổ này là nhân dân các dân tộc hai
tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên.
Bắc Kạn nằm sâu trong khu căn cứ địa Việt Bắc, địa hình hiểm trở, cách
xa mặt trận, nên trong tư tưởng cán bộ nhân dân còn nhiều biểu hiện chủ
quan. Từ đầu năm 1947, tại thị xã Bắc Kạn và vùng xung quanh, cán bộ, công
nhân các công xưởng, cơ quan Trung ương và nhân dân tản cư tới rất đông.
Mật độ dân cư tăng vọt, chợ búa tấp nập, sinh hoạt văn hoá, văn nghệ đông
vui. Tuyến xe Bắc Kạn, Thái Nguyên vẫn hoạt động. Do tư tưởng "đại hậu
phương chủ nghĩa" nên công tác tiêu thổ kháng chiến ở thị xã Bắc Kạn triển
khai chậm, thiếu triệt để. Cuối tháng 8 năm 1947, Ban phá hoại của thị xã mới
bắt đầu hoạt động, nhưng không triệt để, chỉ mới phá được một số nhà cửa,
đồn bốt cũ ở đồi Hành chính và đồi Quân sự. Điều đó đã gây cho ta những tổn
thất nhất định khi thực sự bước vào chiến đấu.
Ngày 7-10-1947, giặc Pháp huy động khoảng 12.000 quân chia làm 3 bộ
phận mở cuộc tấn công quy mô lớn lên căn cứ địa Việt Bắc nhằm tiêu diệt cơ
quan đầu não kháng chiến và bộ đội chủ lực của ta để nhanh chóng kết thúc
cuộc chiến tranh...
Trước tình hình đó, công tác chuẩn bị đánh địch, sơ tán các cơ quan chủ

Tháng 6 năm 1950, Trung ương chỉ thị cho Liên khu Việt Bắc và hai tỉnh
Bắc Kạn, Thái Nguyên phải gấp rút sửa đường cũ, mở đường mới để phục vụ
cho kế hoạch mở Chiến dịch Biên giới. Việc sửa chữa cầu đường chuẩn bị
cho Chiến dịch được xúc tiến khẩn trương. Để đảm bảo giao thông vận tải đáp
ứng kịp thời yêu cầu vận chuyển lương thực, thực phẩm vũ khí, phục vụ
Chiến dịch Biên giới 1950, Tỉnh uỷ Bắc Kạn, Thái Nguyên phát động "Chiến
dịch sửa chữa, xây dựng cầu, đường lần thứ nhất". Gần 50% cán bộ các cơ
quan dân - chính - đảng và lực lượng vũ trang được tập trung cho chiến dịch
này. Từ tỉnh xuống các xã đều có Ban huy động dân công do một uỷ viên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
thường vụ cấp uỷ phụ trách. Ban chấp hành Tỉnh đoàn Thái Nguyên đã tổ
chức 2 đại đội thanh niên xung phong, huy động trên 300 thanh niên nam, nữ
biên chế thành các trung đội, tiểu đội, làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông ở các
tuyến trọng yếu. Nhân dân và lực lượng vũ trang hai tỉnh Bắc Kạn, Thái
Nguyên cùng các tỉnh bạn vượt qua mọi khó khăn trong sản xuất, đời sống,
hăng hái xung phong đi dân công sửa chữa cầu, đường. Đồng bào vùng cao ở
nhiều nơi trong tỉnh Bắc Kạn vượt đèo, lội suối đi bộ 2, 3 ngày mới tới công
trường thi công, nhưng vẫn đảm bảo tập trung đúng thời gian quy định.
Với tinh thần "Sửa chữa cầu, đường như đánh địch", bằng lao động khẩn
trương và sáng tạo của trên 5000 cán bộ, chiến sĩ, đồng bào các dân tộc trong
tỉnh Bắc Kạn, sau gần 2 tháng (tính đến ngày 19/5/1950), chiến dịch cầu
đường đã thu được thắng lợi. Lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc tỉnh
Bắc Kạn với hàng chục vạn ngày công, đào đắp hàng ngàn khối đất, đá, sửa
chữa và làm mới hàng trăm cầu lớn, nhỏ, khai thông hàng trăm km đường trên
các tuyến giao thông quan trọng, từ Chợ Mới đến đèo Lê A, từ Nà Phặc đến
đèo Cao Bắc, từ thị xã Bắc Kạn vào Chợ Đồn, từ Phủ Thông đi Chợ Rã... Đến
tháng 5-1950, Bắc Kạn đã sửa chữa được 275 km mặt đường, 150 cầu lớn,
nhỏ với chiều dài 1267 mét. [13, tr.162].

vào những nơi ta giấu xe, đặt công xưởng, kho tàng. Trên Quốc lộ 3, đoạn
đường chữ chi ở phía bắc đỉnh đèo Giàng bị địch phá dài tới 4 km. Cả một
triền núi bị cày lên như đất ruộng, đào bới tơi tả, không còn dấu vết đường cũ.
Cùng với địch hoạ, thiên tai cũng gây cho Bắc Kạn, Thái Nguyên nhiều
khó khăn: 11 trận mưa lũ liên tiếp trong năm 1951 đã tàn phá nhiều quãng
đường, nhiều kè cống như đoạn Hà Hiệu, Bành Trạch - Chợ Đồn, cuốn đi các
cầu dã chiến ở Nà Phặc, Nà Cù, thị xã Bắc Kạn, làm sạt lở từng quả đồi
xuống mặt đường. Trước tình hình trên, Tỉnh uỷ Bắc Kạn, Thái Nguyên đã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

21
huy động cán bộ có lúc tới 80% vào công tác sửa chữa cầu, đường, đảm bảo
giao thông.
Để đảm bảo giao thông kịp thời phục vụ các chiến dịch, Thái Nguyên
luôn kiện toàn 2 đại đội thanh niên xung phong thoát ly sản xuất, làm nhiệm
vụ sửa chữa cầu, đường, đủ quân số khoảng 300 người gồm những thanh niên
nam, nữ khoẻ mạnh, hăng hái, tình nguỵện. Hai đại đội này biên chế và sinh
hoạt như bộ đội, chốt dọc Quốc lộ số 3 từ Thái Nguyên đến Bắc Kạn. Đường
13A, đoạn từ Bờ Đậu đi Đèo Khế và các bến phà Thác Oánh, Trại Cau..., cán
bộ, chiến sĩ 2 đại đội thanh niên xung phong của Thái Nguyên đã nêu cao tinh
thần dũng cảm, không ngại hi sinh, gian khổ, bất chấp bom đạn, hoàn thành
tốt nhiệm vụ sửa chữa cầu, đường, tháo gỡ bom, mìn, đảm bảo giao thông.
Tỉnh uỷ Bắc Kạn mở cuộc vận động cán bộ các cấp uỷ Đảng, chính
quyền, đoàn thể quần chúng và cán bộ, đảng viên tham gia "Đoàn thanh niên
xung phong lao động" sửa chữa cầu, đường. Cuộc vận động thu hút được
đông đảo cán bộ, bộ đội và các tầng lớp nhân dân các dân tộc tham gia chiến
dịch "kiến thiết cầu, đường, phà". Các xã dọc đường tổ chức được 216 tổ bảo
vệ. Các cơ quan dân, chính, đảng đều được phân công nhiệm vụ cụ thể sửa
chữa cầu, đường khi máy bay địch đánh phá. Việc tổ chức theo dõi, phát hiện,
rà phá bom nổ chậm được kịp thời, chính xác, đảm bảo an toàn cho dân công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status