ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM THỊ NGỌC HOÀN
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ CHO
HỌC SINH QUA BÀI “ TRÌNH BÀY MỘT VẤN ĐỀ ”
TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 TẬP 1
TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TỈNH TUYÊN QUANG
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn
Văn – Tiếng Việt
Mã số
: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Mai Diễn
Thái Nguyên – 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
i
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – iiĐHTN
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã động
viên, quan tâm, chia sẻ và tạo điều kiện giúp em hoàn thành tốt luận văn này.
Hà Nam, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Phạm Thị Ngọc Hoàn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ivĐHTN
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................... iv
MỤC LỤC ..................................................................................................... v
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 3
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu .................................................................. 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 6
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................ 7
6. Đóng góp của đề tài .................................................................................... 7
7. Cấu trúc của luận văn .................................................................................. 7
NỘI DUNG .................................................................................................... 9
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BỒI DƢỠNG NĂNG
LỰC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN ................. 9
1.1. Một số vấn đề về dạy học phát triển năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học
sinh ................................................................................................................ 9
1.1.1. Khái niệm năng lực và năng lực giao tiếp khẩu ngữ ............................. 9
Chƣơng 3THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ........................................................ 57
3.1. Mục đích thực nghiệm ........................................................................... 57
3.2. Đối tƣợng và địa bàn thực nghiệm ......................................................... 57
3.3. Phƣơng pháp thực nghiệm ..................................................................... 58
3.4. Nội dung thực nghiệm ........................................................................... 58
3.5. Kết quả thực nghiệm ............................................................................. 59
3.6. KẾT LUẬN CHUNG VỀ THỰC NGHIỆM.......................................... 66
PHẦN KẾT LUẬN ...................................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 75
PHỤ LỤC ...................................................................................................... 1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – viĐHTN
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Kĩ năng nghe, nói ngày càng quan trọng trong thời đại công nghệ
thông tin phát triển hiện nay. Trƣớc đây, ở các cơ quan Nhà nƣớc, thông tin
đƣợc truyền tải chủ yếu bằng văn bản, những sự việc mang tính quốc gia,
quốc tế đều phải thông qua văn bản, nhƣng ngày nay có thể thay thế một phần
bằng lời nói thông qua điện đàm. Lợi ích của phƣơng thức này là có thể
truyền đi những thông tin chính xác và biết ngay đƣợc phản ứng của đối
phƣơng để có cách xử lí kịp thời, do đó hiệu quả công việc đƣợc cải thiện rõ
ràng. Trƣớc những đòi hỏi của xã hội hiện nay, con ngƣời cần phải rèn luyện,
nâng cao năng lực giao tiếp khẩu ngữ để tự tin trong giao tiếp, trở thành con
ngƣời năng động tự tin xử lí mọi vấn đề đặt ra trong cuộc sống hàng ngày.
Việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp khẩu ngữ đƣợc đánh giá là phần nào giúp
cho con ngƣời hòa nhập, biểu lộ trạng thái cảm xúc, ƣớc mơ, niềm hi vọng
thông mang tính định hƣớng cho tƣơng lai, vì vậy bồi dƣỡng năng lực giao
tiếp khẩu ngữ cho học sinh trung học phổ thông nói chung và học sinh lớp 10
nói riêng là việc làm cấp thiết.
1.3. Nếu nhƣ nghe và đọc là hai kỹ năng quan trọng của hoạt động tiếp
nhận thông tin thì nói và viết là hai kỹ năng quan trọng của hoạt động biểu đạt
thông tin cần đƣợc rèn luyện và phát triển cho học sinh. Từ thực tế giảng dạy,
chúng tôi thấy đƣợc môn Ngữ Văn bậc trung học phổ thông đang dành nhiều
thời lƣợng cho kỹ năng đọc, viết. Chú trọng đến việc nhận diện những đặc
điểm cú pháp dẫn đến việc học sinh ít đƣợc rèn luyện kỹ năng giao tiếp khẩu
ngữ và không nắm vững đƣợc những chức năng cơ bản của giao tiếp khẩu
ngữ. Về lí thuyết, năng lực nói bao gồm hai phƣơng diện: phong cách nói hàng
ngày và phong cách nói trƣớc công chúng. Hiện nay, trọng tâm của chƣơng
trình dạy học nói tập trung vào phƣơng diện nói trƣớc công chúng nhƣ: diễn
2
thuyết, biện luận, báo cáo, tóm tắt… nhƣng nhìn từ góc độ ứng dụng, nhu cầu
rèn luyện phong cách giao tiếp hàng ngày cũng cần đƣợc quan tâm. Học sinh
còn diễn đạt lúng túng, không diễn đạt đúng hoặc không diễn đạt hết những
điều cần nói, cách lập luận thiếu chặt chẽ, thiếu tự tin trong giao tiếp. Tình
trạng này còn phổ biến ở các cấp học. Thêm vào đó, trong xã hội phát triển
nhanh chóng hiện nay, phƣơng thức sử dụng ngôn ngữ luôn không ngừng thay
đổi. Giáo viên đứng trƣớc yêu cầu cập nhật thƣờng xuyên, phát huy vai trò định
hƣớng, tạo điều kiện cho học sinh đƣợc thực hành đều đặn để ngôn ngữ giao
tiếp của các em vừa hiện đại vừa chuẩn mực. Rèn luyện kĩ năng giao tiếp khẩu
ngữ tốt sẽ giúp ngƣời học có đƣợc một công cụ giao tiếp hiệu quả trong cuộc
sống xã hội.
Tuyên Quang là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi Bắc bộ, là địa bàn có
trên 64% ngƣời dân tộc thiểu số sinh sống, nâng cao năng lực sử dụng tiếng
các năng lực giao tiếp cho học sinh. Phƣơng pháp này đã nhanh chóng đƣợc
nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi trong dạy học từ tiểu học đến đại học và trở
thành xu hƣớng phát triển chung của nhiều nƣớc phát triển trên thế giới.
Ở Việt Nam, chúng tôi đã tìm đƣợc một số tài liệu đề cập đến vấn đề bồi
dƣỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ nhƣ cuốn “Một số vấn đề về dạy hội thoại
cho học sinh tiểu học” của tác giả Nguyễn Trí. Ở cuốn sách này, tác giả đã cố
gắng chọn lọc những kiến thức cơ bản, tối thiểu về hội thoại dựa theo chƣơng
trình môn Tiếng Việt tiểu học ban hành năm 2006 và lựa chọn cách trình bày
các kiến thức dựa trên sự phân tích một số dẫn chứng cụ thể để ngƣời mới
tiếp cận lí thuyết hội thoại dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng. Bên cạnh đó, cuốn
sách còn giới thiệu các kiểu bài tập dạy học luyện nói trong bộ sách giáo khoa
Tiếng Việt tiểu học. Bên cạnh cuốn sách này, tác giả Nguyễn Trí còn một số
bài viết “Kinh nghiệm dạy học ngôn bản theo phương hướng giao tiếp ở một
số nước” đã bàn về cơ cấu hệ thống chƣơng trình dạy ngôn ngữ viết và ngôn
ngữ nói cho học sinh tiểu học. Theo tác giả, phƣơng hƣớng dạy học giao tiếp
4
và để giao tiếp đã làm thay đổi nhiều mặt của nội dung chƣơng trình dạy tiếng
mẹ đẻ của một số nƣớc trên thế giới.
Tác giả Nguyễn Quang Ninh đã bàn đến việc rèn kĩ năng giao tiếp trong
các công trình“Một số vấn đề dạy học ngôn bản nói và viết ở tiểu học theo
hướng giao tiếp” và “Rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt”. Từ lý thuyết hội
thoại, tác giả đã rút ra một số vấn đề quan trọng là để học sinh làm một bài tập
làm văn nói tốt, ngƣời giáo viên cần phải chú ý tới một số điểm sau: phải
chuẩn bị tốt nội dung bài nói, phải tạo đƣợc nhu cầu về hội thoại cho học sinh
và phải tạo đƣợc hoàn cảnh giao tiếp tốt. Tác giả còn đƣa ra một số kinh
nghiệm giao tiếp thƣờng dẫn đến thành công cho mỗi ngƣời khi tham gia giao
tiếp nhƣ bình tĩnh, tự tin, chú ý văn hóa trong lời nói và sử dụng ngữ điệu sao
cho phù hợp với từng thời điểm nói.
chúng tôi quyết định triển khai nghiên cứu đề tài “Bồi dưỡng năng lực giao tiếp
khẩu ngữ cho học sinh qua bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa
Ngữ Văn 10 tập 1 tại một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang”.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những hoạt động bồi dƣỡng năng
lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh của giáo viên đƣợc tiến hành trong bài
học “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập 1.
- Phạm vi nghiên cứu là thực trạng dạy học giao tiếp khẩu ngữ cho học
sinh lớp 10 qua bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10
tập 1 tại một số trƣờng trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Tiếp cận những cơ sở lí luận của vấn đề bồi dƣỡng kĩ năng giao tiếp
khẩu ngữ trong dạy học Ngữ văn.
5.2. Khảo sát thực trạng của việc dạy học giao tiếp khẩu ngữ qua bài
“Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập 1.
6
5.3. Đề xuất giải pháp dạy học giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh lớp 10
qua bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập 1 tại
một số trƣờng trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phƣơng pháp nghiên
cứu sau:
5.1. Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết.
Tổng hợp những công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu, lí luận có
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề nghiên cứu của đề tài.
5.2. Phƣơng pháp khảo sát, điều tra
Tiến hành khảo sát, điều tra thực trạng dạy học giao tiếp khẩu ngữ cho
học sinh lớp 10 môn Ngữ Văn ở một số trƣờng trung học phổ thông tỉnh
tỉnh Tuyên Quang
2.3. Thuyết minh về thiết kế dạy học bài “Trình bày một vấn đề” theo hƣớng bồi
dƣỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ học sinh lớp 10
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm
3.1. Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm sƣ phạm
3.2. Đối tƣợng và địa bàn thực nghiệm
3.3. Phƣơng pháp tiến hành thực nghiệm sƣ phạm
3.4. Nội dung thực hiện
3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm
3.6. Kết luận chung về thực nghiệm
8
NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC
GIAO TIẾP KHẨU NGỮ TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN
1.1. Một số vấn đề về dạy học phát triển năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho
học sinh
Mục tiêu giáo dục phổ thông của nƣớc ta giai đoạn sau 2015 đƣợc phát
biểu nhƣ sau: Chương trình giáo dục phổ thông nhằm tạo ra những con người
Việt Nam phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phát huy cao độ tiềm
năng của bản thân; có những phẩm chất cao đẹp là: yêu gia đình, quê hương
đất nước; nhân ái khoan dung; trung thực, tự trọng, chí công, vô tư; tự lập, tự
tin, tự chủ; có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại;
nghĩa vụ công dân. Đề xuất hình thành 9 năng lực cho học sinh cụ thể là: Tự
học; giải quyết vấn đề; sáng tạo; tự quản lý; giao tiếp; hợp tác; sử dụng công
nghệ thông tin; sử dụng ngôn ngữ; tính toán [10, tr.11]. Chủ trƣơng chuyển
thể đƣợc hiểu theo hai nét nghĩa: “(1) Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có
sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó. (2) Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo
cho con ngƣời có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lƣợng
cao” [37, tr.114].
Hiểu theo nét nghĩa thứ nhất, năng lực là một khả năng có thực, đƣợc
bộc lộ ra thông qua việc thành thạo một hoặc một số kĩ năng nào đó của ngƣời
học. Hiểu theo nét nghĩa thứ hai, năng lực là một một cái gì đó sẵn có ở dạng
tiềm năng của ngƣời học có thể giúp họ giải quyết những tình huống có thực
trong cuộc sống.
Theo định hƣớng xây dựng chƣơng trình giáo dục phổ thông mới sau
năm 2015, khái niệm năng lực đƣợc đề cập đến khá nhiều. Các nhà nghiên
10
cứu chia năng lực làm hai loại năng lực: năng lực chung là năng lực cốt lõi và
năng lực chuyên biệt. Đây là loại năng lực mà bất kỳ một học sinh nào cũng
cần đƣợc hình thành và phát triển để có thể đối mặt với những thay đổi và
thách thức khi bƣớc vào cuộc sống thực. Bên cạnh đó là các năng lực chuyên
biệt do các lĩnh vực, môn học cụ thể mang lại. Tuy cách phát biểu về năng lực
có thể khác nhau nhƣng đều thống nhất trong cách hiểu về bản chất của khái
niệm này.
Đánh giá năng lực là đánh giá khả năng thực hiện, vận dụng; thông qua
làm, qua hành động để đo đếm, xác định chứ không chỉ yêu cầu biết và hiểu. Tất
nhiên thực hiện ở đây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ
năng, chứ không phải thực hiện một cách “máy móc”,“mù quáng”.
Trong công trình nghiên cứu: “Đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn
của học sinh theo hướng hình thành năng lực”của nhóm tác giả: Nguyễn Thị
Hồng Vân, Phạm Bích Đào, Nguyễn Tuyết Nga và Nguyễn Thúy Hồng (Viện
nghiên cứu Giáo dục Việt Nam) về mặt lí luận có thể xác định hai cách tiếp
đó con ngƣời bộc lộ và truyền đạt cho nhau những nhận thức, tƣ tƣởng, tình
cảm, thái độ đối với nhau và đối với điều đƣợc truyền đạt. Con ngƣời có thể
dùng nhiều phƣơng tiện để giao tiếp nhƣng ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp
quan trọng nhất.
“Năng lực giao tiếp là một trong những năng lực giúp học sinh có thể
trình bày đƣợc, diễn đạt đƣợc những suy nghĩ, quan điểm, nhu cầu, mong
muốn, cảm xúc của bản thân dƣới hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ
cơ thể một cách phù hợp với đối tƣợng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và văn hóa,
đồng thời biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến ngƣời khác ngay cả khi bất đồng
quan điểm. Năng lực giao tiếp giúp con ngƣời biết đánh giá tình huống và điều
chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả, cởi mở, bày tỏ suy nghĩ cảm
xúc nhƣng không làm hại hay tổn thƣơng cho ngƣời khác” [9, tr. 54].
12
Với tƣ cách là phƣơng tiện giao tiếp, ngôn ngữ có thể tồn tại dƣới hai
dạng nói và viết. Ở giao tiếp khẩu ngữ, ngôn ngữ tồn tại chủ yếu ở dạng nói.
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Khẩu ngữ là ngôn ngữ nói thông thƣờng, dùng
trong cuộc sống hàng ngày, có đặc điểm đối lập với phong cách viết” [37, tr. 89].
Phong cách ngôn ngữ Tiếng Việt có thể chia thành: Phong cách ngôn
ngữ khẩu ngữ và phong cách ngôn ngữ gọt giũa. Khẩu ngữ là ngôn ngữ mà
con ngƣời sử dụng trong giao tiếp bằng lời nói. Khẩu ngữ đƣợc hiểu là cách
sử dụng ngôn ngữ, là công cụ giao tiếp chủ yếu của nhân loại trong các mối
quan hệ tự nhiên và xã hội. Trƣớc khi chữ viết ra đời, loài ngƣời giao tiếp với
nhau bằng lời nói, sau khi chữ viết ra đời, dựa trên cơ sở của lời nói loài
ngƣời sáng tạo ra ngôn ngữ viết.
Nhƣ vậy giao tiếp khẩu ngữ đƣợc hiểu ngắn gọn là quá trình sử dụng lời
nói để trao đổi thông tin, tình cảm với mục đích giao tiếp nhất định, là sự kết
hợp của tri thức lời nói và kĩ năng giao tiếp. Trong giao tiếp khẩu ngữ, bên
cạnh hai kĩ năng cơ bản là nghe, nói còn cần chú ý đối tƣợng, hoàn cảnh, mục
còn phải thú vị, hấp dẫn.
Nguyên tắc thứ hai là dạy học khẩu ngữ phải chú trọng và quán triệt
quy tắc hợp tác. Mục đích của dạy học khẩu ngữ là rèn luyện và nâng cao năng
lực biểu đạt khẩu ngữ cho học sinh. Nếu nhƣ cá nhân độc thoại chỉ cần chuẩn
bị tốt nội dung của lời nói, thì hội thoại phải chú ý đến sự hợp tác và điều tiết
của hai bên. Hợp tác ở đây là trình độ tri thức, năng lực tiếp thu thông tin và
hoàn cảnh xã hội khi đang giao tiếp. Nếu nội dung đàm thoại vƣợt qua phạm vi
kiến thức của đối phƣơng thì rất khó giao tiếp với nhau, lƣợng thông tin trong
một đơn vị thời gian quá nhiều hoặc chủ điểm đề cập đến không phù hợp với
hoàn cảnh xã hội của đối phƣơng thì cũng rất khó để tiến hành giao tiếp. Trong
giao tiếp phải triển khai, phát triển, chuyển đổi theo chủ đề của đối tƣợng giao
tiếp, không nên mỗi ngƣời nói một nội dung khác nhau, không có liên quan với
nhau. Những nguyên nhân trên đã gây ra rất nhiều khó khăn khi giáo viên vận
14
dụng nguyên tắc trong giờ hội thoại. Đây là những điều rất quan trọng mà
giáo viên dạy khẩu ngữ phải chú ý tới.
Nguyên tắc thứ ba là dạy học khẩu ngữ phải có đầy đủ thời gian để luyện
tập: Khẩu ngữ có nhiều đặc điểm khác các kĩ năng khác nhƣ: thời gian ngắn,
vừa nghĩ vừa nói. Từ suy nghĩ chuyển thành lời nói, đặc biệt là biểu đạt ngôn
ngữ đích phải trải qua trình tự rất nhiều khâu để lựa chọn, nếu không có một
thời gian nhất định thì không thể đạt đƣợc hiệu quả. Do đó, trong dạy học giao
tiếp khẩu ngữ, sự luyện tập của học sinh, trong một thời gian nhất định là rất
quan trọng
1.1.4. Kiểm tra, đánh giá trong dạy học giao tiếp khẩu ngữ
Nắm đƣợc khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc là bƣớc đi đầu tiên của việc
dạy học giao tiếp khẩu ngữ, thực hiện thành công ý đồ giao tiếp là thƣớc đo
thể hiện hiệu quả của dạy học giao tiếp khẩu ngữ.
không thể đánh giá một năng lực duy nhất, mà nên đƣợc thiết kế để có một
nhiệm vụ giao tiếp có ý nghĩa cho học sinh khi hoàn thành khóa học để chứng
minh khả năng giao tiếp của họ một cách chất lƣợng và toàn diện, nhằm phản
ánh tốt hơn cá tính, năng lực cũng nhƣ khả năng giao tiếp của học sinh.
1.2. Thực trạng dạy học bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa
Ngữ văn 10 tập 1 tại một số trƣờng trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang
1.2.1. Thực trạng định hƣớng dạy học của một số giáo án, thiết kế bài
“Trình bày một vấn đề” SGK Ngữ văn 10 tập 1
a) Định hƣớng dạy học bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo viên
Ngữ văn 10
Bài học “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo viên Ngữ văn 10 đƣợc
trình bày theo hai mục lớn là: mục tiêu bài học và những điều cần lƣu ý. Sách
giáo viên đã xác định mục tiêu bài học trên phƣơng diện kiến thức và thái độ.
Trong đó, mục tiêu thứ hai là phần thái độ giúp học sinh có thái độ mạnh dạn,
16
bình tĩnh và tự tin khi trình bày một vấn đề đã thể hiện mục tiêu nâng cao
năng lực giao tiếp khẩu ngữ một cách rõ rệt. Sau tiết học học sinh sẽ biết cách
thức trình bày một vấn đề và khả năng ứng biến linh hoạt trong giao tiếp hằng
ngày. Tuy nhiên, sách giáo viên đã thiếu về mục tiêu kĩ năng cho học sinh,
phải giúp học sinh nhận ra các tình huống cần trình bày một vấn đề và lập
đƣợc đề cƣơng và trình bày trƣớc tập thể.
Về nội dung, sách giáo viên xác định gồm ba đơn vị kiến thức: Tầm
quan trọng của việc trình bày một vấn đề; Công việc chuẩn bị; Trình bày.
Phần đầu chỉ lƣớt qua để tập trung vào hai phần sau, đặc biệt là phần sau
cùng. Bài học có sự đan xen giữa lí thuyết và luyện tập vậy phƣơng pháp dạy
học là thông qua việc hƣớng dẫn học sinh tiến hành các công việc chuẩn bị và
trực tiếp trình bày một đề tài cụ thể trƣớc lớp mà hình thành cho các em nội
lực giao tiếp khẩu ngữ chƣa đƣợc khai thác sử dụng.
b) Định hƣớng dạy học bài “Trình bày một vấn đề” trong sách “Thiết kế
bài giảng Ngữ Văn 10” Nguyễn Văn Đƣờng (chủ biên)
Về cấu trúc, các giáo án này đã đƣa ra mục tiêu cần đạt của tiết học bao
gồm: kiến thức, kĩ năng, thái độ, trong đó mục tiêu nâng cao năng lực giao
tiếp khẩu ngữ cho học sinh đƣợc chú trọng. Cách thức tiến hành bài học đƣợc
trình bày cụ thể: giáo viên hƣớng dẫn cho học sinh khai thác ngữ liệu, trả lời
câu hỏi, thảo luận nhóm để từ đó rút ra những vấn đề quan trọng của bài học,
trình bày những vấn đề gần gũi trong thực tế đời sống có hiệu quả… đây cũng
là phƣơng pháp dạy học chủ yếu đƣợc sử dụng trong tiết học cung cấp lý
thuyết gắn liền với thực hành. Tiến trình dạy học đƣợc chia thành các hoạt
động cụ thể, giáo án đƣợc chia cột, hoạt động của giáo viên và học sinh bố trí
theo nội dung và phƣơng pháp dạy học. Các ví dụ, bài mẫu đƣợc trích dẫn
phong phú đa dạng. Ngoài ra, có các bài đọc tham khảo sau tiết học.
Về nội dung, các thiết kế đã bám sát chƣơng trình, hệ thống hóa, cụ thể
hóa nội dung kiến thức bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa và
18
sách giáo viên Ngữ văn 10 tập 1. Hệ thống hóa hoạt động dạy học của giáo
viên bằng nhiều hình thức phong phú. Cả học sinh và giáo viên đều hoạt động
liên tục trong suốt 45 phút của giờ học, trong đó giáo viên là ngƣời hƣớng
dẫn, định hƣớng học sinh khám phá, chiếm lĩnh kiến thức bài học. Hệ thống
câu hỏi về hình thức khá đa dạng, về nội dung đã bám sát lí thuyết nhằm củng
cố cho học sinh khắc sâu lí thuyết, nâng cao năng lực sử dụng Tiếng Việt cho
học sinh. Tuy nhiên, các hoạt động, hệ thống câu hỏi về nội dung lí thuyết vẫn
chiếm phần lớn thời gian nên thời gian thực hành giao tiếp cho học sinh trên
lớp và thời gian làm bài tập thực hành còn eo hẹp.
Bài học “Trình bày một vấn đề” giúp ngƣời học có đƣợc những kĩ thuật