Thạc sĩ báo chí học sử dụng chi tiết trong phóng sự truyền hình của chương trình thời sự 19h00 đài truyền hình việt nam - Pdf 48

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chi tiết là bộ phận nhỏ nhất nhưng có vai trò quan trọng cấu thành nên
tác phẩm báo chí. Mỗi chi tiết đều chứa đựng những giá trị thông tin phản ánh
về sự kiện, vấn đề và quan điểm, tư tưởng của nhà báo. Chi tiết góp phần tạo
nên sức lôi cuốn, hấp dẫn của tác phẩm báo chí. Lựa chọn được những chi tiết
phù hợp, chi tiết giá trị để đưa vào tác phẩm sẽ làm tăng sức nặng biểu đạt
thông tin và giá trị tư tưởng của các phẩm.
Phóng sự truyền hình là một thể loại thuộc nhóm chính luận nghệ thuật,
phản ánh những sự kiện, con người, tình huống, vấn đề, hoàn cảnh điển hình
trong quá trình phát sinh, phát triển đồng thời thẩm định hiện thực đó qua cái
tôi trần thuật vừa tỉnh táo lý trí, vừa cảm xúc với bút pháp giàu chất văn học
bằng phương tiện kỹ thuật truyền hình. Đây là thể loại báo chí có sức nặng
thông tin để tạo ra hiệu lực và hiệu quả tác động lớn đối với xã hội. Với thế
mạnh hình ảnh trực quan nên những chi tiết trong phóng sự truyền hình
thường ngay lập tức gây ấn tượng và cảm xúc trong công chúng.
Đối với chương trình Thời sự 19h00 của Đài Truyền hình Việt Nam, các
phóng sự có vai trò quan trọng và được sử dụng thường xuyên. Với thời
lượng chương trình thời sự có hạn nên các phóng sự có thời lượng ngắn,
thông thường từ 2,5 đến 3 phút. Do đó yêu cầu lựa chọn những chi tiết phù
hợp, chi tiết “đắt” rồi xâu chuỗi, sắp xếp chúng bằng nghệ thuật sắp xếp hình
ảnh và sử dụng lời bình là yêu cầu quan trọng với các nhà báo.
Trong các công trình nghiên cứu khoa học, chi tiết trong tác phẩm báo
chí đã được đề cập ở các giáo trình tác phẩm báo chí và một số công trình
khoa học khác. Đặc biệt, vấn đề Chi tiết trong tác phẩm báo chí đã được
nghiên cứu một cách có hệ thống như một đối tượng nghiên cứu chuyên biệt.
Tuy nhiên phạm vi khảo sát của các nghiên cứu này đều chưa đề cập đến đặc




3

mang tính khái lược qua việc xem xét, đánh giá sử dụng chi tiết trong phóng
sự của một số tờ báo in.
Một số công trình nghiên cứu khác, vấn đề chi tiết trong tác phẩm báo
chí cũng đã được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng không hệ
thống hoàn chỉnh.
Trong cuốn Từ lý luận đến thực tiễn báo chí, tác giả Tạ Ngọc Tấn đã nêu
định nghĩa: “Chi tiết là những bộ phận nhỏ nhất của sự kiện. Chi tiết có thể là
một hành vi, một lời nói, một cử chỉ của con người, một sự vật hay một trạng
thái cụ thể của hoàn cảnh diễn ra sự kiện” [37, tr.149].

TS Nguyễn Thị Thoa trong Giáo trình Tác phẩm báo chí đại cương
đã nêu lên khái niệm chi tiết, phân loại chi tiết, đánh giá vai trò của chi
tiết đối với tác phẩm báo chí (khảo sát với báo in) [42, tr 53-58]
Bên cạnh đó, một số cuốn sách, công trình khoa học khác cũng có
đề cập đến vấn đề chi tiết như trong cuốn Công việc của người viết báo
của nhà báo Hữu Thọ.[39, tr 119].
Tuy nhiên từ đặc trưng loại hình, các nghiên cứu trên mới tập trung
nghiên cứu về chi tiết trong tác phẩm báo in. Chi tiết trong tác phẩm truyền
hình với những đăc trưng riêng biệt của loại hình thì chưa có công trình nào đi
sâu nghiên cứu.

Trong bài Tính chuẩn xác của chi tiết hành động trên báo chí
(đăng trên website Hội nhà báo Việt Nam ngày 29/9/2011 />pid=0&catid=2&id=29053&dhname=Tinh-chuan-xac-cua-chi-tiethanh-dong-tren-bao-chi), tác giả Võ Như Báo cũng đã xem xét và
nhận định một số khía cạnh của chi tiết. Tác giả cho rằng:
Chi tiết là thuật ngữ dùng để chỉ các yếu tố thành phần phản ánh sự vật




5

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng tới mục đích hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về chi tiết
trong phóng sự truyền hình; phân tích thực trạng việc sử dụng chi tiết trong các
phóng sự của chương trình Thời sự 19h00 Đài truyền hình Việt Nam. Thông qua
đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả lựa chọn, sử dụng chi tiết trong
phóng sự truyền hình của chương trình thời sự 19h00 Đài truyền hình Việt Nam
và phóng sự thuộc chương trình thời sự của các đài truyền hình.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần triển khai các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản liên quan đến thể loại phóng sự, phóng
sự truyền hình (về khái niệm, đặc trưng, phân loại, kết cấu, ngôn ngữ…)
- Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chi tiết, các yếu tố thể loại
(phóng sự) và loại hình báo chí (truyền hình) chi phối tới chi tiết và sử
dụng chi tiết, từ đó khẳng định vai trò, tầm quan trọng của chi tiết đối với
phóng sự truyền hình.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng việc lựa chọn, sử dụng chi tiết
trong các phóng sự được phát sóng trong chương trình Thời sự 19h00 của Đài
Truyền hình Việt Nam.
- Tìm hiểu những nguyên nhân thành công và hạn chế trong việc lựa
chọn và sử dụng chi tiết trong phóng sự truyền hình
- Đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
chi tiết trong các phóng sự truyền hình thuộc chương trình thời sự 19h00 của
Đài truyền hình Việt Nam.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu




7

của Đài truyền hình Việt Nam nên tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn
sâu để thu thập ý kiến, quan điểm của các phóng viên nhằm mang đến những
thông tin xác thực của những người trực tiếp tác nghiệp hằng ngày.
6. Cái mới của luận văn
Trên cơ sở kế thừa những lý luận về chi tiết trong tác phẩm báo chí của
các nhà nghiên cứu trước, luận văn hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề
liên quan đến chi tiết trong tác phẩm báo chí mang đặc trưng thể loại phóng
sự và loại hình báo chí truyền hình (phóng sự truyền hình). Nêu lên những
nét đặc trưng riêng loại hình chi phối tới chi tiết và việc sử dụng chi tiết.
Khảo sát việc sử dụng chi tiết trong các phóng sự truyền hình thuộc
chương trình Thời sự 19h00 của Đài Truyền hình Việt Nam từ tháng 3 đến
tháng 6 năm 2012 từ đó khẳng định vai trò của việc sử dụng chi tiết trong
nâng cao chất lượng các phóng sự. Bên cạnh đó, luận văn cũng chỉ ra những
bài học kinh nghiệm, những giải pháp nâng cao chất lượng sử dụng chi tiết
thông qua việc khai thác, lựa chọn, sử dụng chi tiết trong phóng sự thuộc
chương trình thời sự truyền hình.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Thông qua việc nghiên cứu của luận văn khẳng định chi
tiết là một yếu tố quan trọng cấu thành tác phẩm phóng sự truyền hình. Một
tác phẩm phóng sự truyền hình muốn đạt chất lượng cao phải có các chi tiết
đặc sắc, đảm bảo yêu cầu của chi tiết trong tác phẩm báo chí. Vì vậy việc phát
hiện, lựa chọn, sử dụng chi tiết là yêu cầu rất quan trọng đối với phóng viên,
biên tập viên.
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài được nghiên cứu dựa trên những tri thức lý
luận và những kinh nghiệm thực tiễn tác nghiệp của bản thân và của các đồng
nghiệp. Ngoài việc mang lại ý nghĩa cho bản thân, tác giả mong muốn nghiên

Nam đã tổng hợp và đưa ra những quan niệm về phóng sự báo chí và những
đặc trưng cơ bản của nó.
Trong từ điển tiếng Việt thì “Phóng sự được hiểu là một thể văn chuyên
miêu tả những việc có thật mang tính thời sự xã hội” [44, tr 1009).
Theo nhóm tác giả G.V.Cudơnhetxốp, X.L.Xvich, A.la.lurốpxki trong
cuốn Báo truyền hình tập 1:
Phóng sự là thể loại báo chí thông tin nhanh chóng trên báo chí, đài
phát thanh, đài truyền hình về một sự kiện nào đó mà phóng viên chứng
kiến hoặc can dự vào… Trong thể loại phóng sự, yếu tố đứng đầu là sự
cảm nhận của cá nhân đối với sự kiện, hiện tượng, sự lựa chọn các sự
việc do tác giả bài phóng sự thực hiện [7, tr.59-60]
Theo PGS.TS Đức Dũng trong cuốn Phóng sự báo chí hiện đại:
Phóng sự là thể loại đứng giữa văn học và báo chí, có khả năng trình
bày, diễn tả những sự kiện, con người, tình huống điển hình trong quá
trình phát sinh, phát triển, đồng thời thẩm định hiện thực đó thông qua
cái tôi trần thuật vừa tỉnh táo lý trí, vừa cảm xúc với một bút pháp giàu


10

chất văn học [10, tr 27].
Trong cuốn Tác phẩm báo chí, tập hai, Học viện Báo chí truyên truyền,
thì phóng sự được quan niệm như sau:
Phóng sự là một thể loại báo chí quan trọng, thông tin cụ thể và sinh
động về con người, sự việc có thật có ý nghĩa xã hội, theo một quá trình
phát sinh, phát triển, thông qua cái tôi – tác giả và bút pháp linh hoạt:
miêu tả, tường thuật kết hợp với nghị luận [12, tr.180]
Trong luận văn này, tác giả dựa trên quan điểm nêu trên để xem xét các
phóng sự.
Các quan niệm về phóng sự có sự diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung

thời kỳ đó là một trong những đặc tính định dạng của phóng sự truyền hình
[41, tr.17-19]
Có thể nói, phóng sự truyền hình là bước phát triển về chất của phóng
sự tài liệu điện ảnh. “Cùng với sự phát triển có tính tiền đề của báo chí và
điện ảnh, phóng sự truyền hình đầu tiên do hãng phát thanh và truyền hình
Anh quốc (BBC) thực hiện vào năm 1937 khi vua George VI đăng quang.
Tại Việt Nam truyền hình ra đời muộn nên thời kỳ đầu các phim thời sự
tài liệu điện ảnh đảm nhiệm vai trò thông tin thời sự và chủ yếu chiếu trong
các rạp chiếu phim.
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của Đài truyền hình Quốc gia và
các đài truyền hình ở các địa phương, thể loại phóng sự luôn tạo ra sức hấp
dẫn đối với công chúng và có sức lan tỏa mạnh mẽ, tạo ra hiệu quả tác động
xã hội to lớn.
1.2.2. Những quan niệm về phóng sự truyền hình
Trong tài liệu về Báo chí truyền hình, tác giả R.A. Borestsky cho rằng:
Phóng sự truyền hình thuộc nhóm thông tấn báo chí. Mục đích của nó
là truyền đạt logic của sự kiện một cách nhanh chóng, mạnh mẽ và


12

chân thực nhất. Người phóng viên trong các phóng sự của mình có vị
trí tối ưu, họ vừa là nhân chứng tối ưu, họ vừa là nhân chứng trực tiếp,
vừa là người dẫn dắt, định hướng công chúng tiếp cận sự kiện mau lẹ
và hiệu quả.
Tác giả Thái Kim Chung trong luận văn thạc sỹ với đề tài Phóng sự
trong chương trình Thời sự Đài truyền hình Việt Nam thì quan niệm:
Phóng sự truyền hình là một thể loại tác phẩm của báo chí truyền hình,
trong đó tập trung phản ánh các sự kiện, hiện tượng, vấn đề bằng hình
ảnh, lời nói, tiếng động một cách cụ thể, chân thực và sinh động. Xuất

Phóng sự truyền hình là phản ánh những sự kiện, hiện tượng, vấn đề,
con người… có thật đang hiển hiện trong đời sống xã hội, đang là tâm điểm
thu hút sự chú ý, quan tâm của nhiều người. Các phương tiện truyền tải nội
dung thông tin của phóng sự truyền hình chính là khuôn hình, cỡ cảnh, thủ
pháp dựng hình, động tác máy, âm thanh, tiếng động, lời thoại nhân vật, lời
nói của phóng viên…
Phương tiện văn học giàu cản xúc của phóng sự truyền hình thể hiện ở
các thành phần của ngôn ngữ phóng sự: Đó là ngôn ngữ tác giả, nhân vật và
sự kiện. Ngôn ngữ tác giả thể hiện ở khả năng phản ánh hiện thực qua cái tôi
chứng kiến, cái tôi thẩm định và cái tôi cảm xúc của mỗi phóng viên. “Chính
ngôn ngữ tác giả tạo ra cái riêng độc đáo cho phóng sự. Nó tạo nên sự phong
phú trong thể hiện và sự biến hóa của ngôn ngữ hình ảnh âm thanh trong
phóng sự truyền hình” [41, tr.30-45]
Ngoài những đặc trưng kế thừa của phóng sự báo chí nói chung, phóng
sự truyền hình luôn mang những đặc trưng rất riêng. Trước hết là đặc trưng về
đặc trưng về hình ảnh, âm thanh. Hình ảnh luôn được xem là yếu tố đầu tiên
cấu thành nên tác phẩm phóng sự truyền hình. Đồng thời đây cũng là đặc
trưng về loại hình để phân biệt phóng sự truyền hình với phóng sự báo in và
phóng sự phát thanh. Sự kết hợp giữa hình ảnh và âm thanh thông qua kỹ


14

thuật dựng hình của phóng viên sẽ mang đến cho công chúng một bức tranh
trực quan, sống động trong câu chuyện đang được kể. Âm thanh bao gồm
tiếng động hiện trường, lời thoại nhân vật, lời đọc của phóng viên, âm nhạc.
Một đặc trưng khác đó là phóng sự truyền hình bao giờ cũng được giới hạn về
thời lượng. Với sự phát triển bùng nổ của truyền thông, công chúng có nhiều
lựa chọn phương tiện truyền thông cho mình. Do đó, xu thế làm các phóng sự
truyền hình có thời lượng ngắn đang được các đài truyền hình rất lưu tâm.

Ngôn ngữ của phóng sự truyền hình bao gồm các yếu tố hình ảnh và
âm thanh. Trong đó ngôn ngữ hình ảnh là yếu tố chủ đạo của phóng sự truyền
hình. Ngôn ngữ âm thanh bao gồm tiếng động hiện trường, lời nói của nhân
vật, lời bình của phóng viên, và âm nhạc.
1.2.4. Các dạng phóng sự truyền hình
Thực tế hiện nay có thể phân chia thành nhiều dạng phóng sự truyền
hình dựa trên các tiêu chí khác nhau. Chẳng hạn nếu theo đối tượng phản ánh
có thể chia thành phóng sự sự kiện, phóng sự vấn đề, phóng sự chân dung;
theo lĩnh vực nội dung có thể chia thành phóng sự kinh tế, phóng sự văn
hóa…; dựa vào dung lượng có thể chia thành phóng sự ngắn, phóng sự dài…
Tại Đài truyền hình Việt Nam và các đài truyền hình khác ở Việt Nam,
việc sản xuất các phóng sự có thể chia thành 3 nhóm chính:
- Nhóm phóng sự chuyên đề: Loại phóng sự này hướng tới mục đích
thông tin tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục với thời lượng dài; dẫn
dắt, phân tích, lý giải cặn kẽ vấn đề. Ví dụ chuyên đề dân tộc miền núi,
Xây dựng Đảng; Nông nghiệp nông thôn…
- Phóng sự thời sự: Đây là loại phóng sự đòi hỏi yêu cầu nhanh, thông
tin nóng hổi, cập nhật, thời lượng ngắn, nhiều người quan tâm được
phát sóng trong các chương trình thời sự
- Phóng sự “chèn” trong các chương trình giao lưu, tọa đàm nhằm cung
cấp thêm thông tin cho chủ đề chính.


16

Trong khuôn khổ của nghiên cứu này sẽ đề cập sâu đến sự phân chia
này, đó là xem xét các phóng sự thời sự (chương trình thời sự 19h00 của Đài
truyền hình Việt Nam)
1.3. Chi tiết trong phóng sự truyền hình
1.3.1. Chi tiết trong tác phẩm báo chí.

Những vấn đề về khái niệm, tính chất, vai trò … của chi tiết đã được nghiên
cứu chuyên sâu. Trong luận văn này, tác giả tiếp cận vấn đề sử dụng chi tiết
mang dấu ấn của loại hình truyền hình. Do đó về đặc điểm của chi tiết sẽ có
những đặc trưng riêng, từ đó quy định và ảnh hưởng đến việc sử dụng chi tiết.
1.3.2. Chi tiết trong phóng sự truyền hình
1.3.2.1. Đặc điểm chi tiết trong phóng sự truyền hình
Có thể nhận thấy một số đặc điểm chủ yếu của chi tiết trong phóng sự
truyền hình như sau:
Chi tiết quan trọng nhất được quy định bởi hình ảnh: Mỗi sự kiện, vấn
đề mà nhà báo đề cập, thì những chi tiết hình có tầm quan trọng đặc biệt. Hay
nói cách khác, hình ảnh là thứ nhất, âm thanh là thứ hai. Yếu tố hình ảnh quan
trọng và quyết định chất lượng tác phẩm báo chí truyền hình nói chung và
phóng sự truyền hình nói riêng. Những chi tiết được sử dụng trong phóng sự
truyền hình trước hết là chi tiết hình. Nó bao gồm chi tiết tả, chi tiết bối cảnh,
chi tiết cử chỉ, hành vi nhân vật… Tùy vào ý đồ tư tưởng của tác phẩm mà
nhà báo định hướng tới, việc khai thác và sử dụng chi tiết hình ảnh được thể
hiện ở những mức độ khác nhau. Mỗi sự kiện, mỗi vấn đề, hay mỗi chân dung
nhân vật được phản ánh trong phóng sự có rất nhiều chi tiết nhỏ ẩn chứa nội
dung thông tin.
Chi tiết mang tính thời điểm: Chi tiết trong phóng sự truyền hình quan
trọng nhất là những chi tiết hình ảnh động do camera mang đến. Hoạt động
của nhà quay phim có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện và khai thác chi
tiết. Tính thời điểm ở đây là chỉ trong mỗi sự kiện, vấn đề, nếu nhà quay phim


18

không có mặt kịp thời, không “chớp” được thời điểm thì không quay được
những cảnh có giá trị, không có được những chi tiết hình “đắt” để đưa vào
phóng sự.

như trong báo viết hoặc phát thanh thì phải dùng sức mạnh của những con
chữ với tổ chức ngôn ngữ nói hoặc viết để truyền tải, thì với truyền hình, chi
tiết là trực quan. Có thể vẫn là tả, là kể nhưng được tả, kể bằng hình ảnh.
Ngôn ngữ trong truyền hình là ngôn ngữ hình ảnh.
Hệ chi tiết cũng rất đặc trưng khác của truyền hình là chi tiết âm thanh,
tiếng động. Đó là những chi tiết bao gồm tiếng động hiện trường, lời thoại của
nhân vật, lời bình của phóng viên, âm nhạc. Nếu như trong báo in, phóng viên
phải dùng những con chữ để tả và người đọc thì phải tưởng tượng, thì ở
truyền hình (hoặc báo phát thanh), nó là âm thanh tự nhiên, tác động trực tiếp
vào giác quan của khán giả.
Phóng sự thời sự truyền hình của Đài truyền hình Việt Nam hiện nay
thường xuyên có phóng viên xuất hiện và dẫn từ hiện trường. Cách làm này
làm tăng độ tin cậy của thông tin đối với công chúng. Sự xuất hiện của phóng
viên cũng chứa đựng những thông điệp, thông qua cảm xúc của phóng viên
góp phần làm rõ thêm chủ đề của tác phẩm. Trên phương diện chi tiết, có thể
xem đây là một chi tiết mang tính đặc thù của phóng sự thời sự truyền hình
trong chương trình 19h00 của Đài truyền hình Việt Nam.
1.3.2.2. Phân loại chi tiết trong phóng sự truyền hình
Theo yếu tố loại hình, có thể phân chia chi tiết trong phóng sự truyền
hình thành hệ chi tiết về hình ảnh (bao gồm hình ảnh do camera ghi lại, hình
ảnh đồ họa); hệ chi tiết về âm thanh (bao gồm tiếng động, tiếng nói nhân vật,
tiếng đọc lời bình, tiếng của phóng viên, âm nhạc).
Theo đối tượng phản ánh có thể chia thành hệ chi tiết về sự vật (miêu tả
sự vật, miêu tả khung cảnh bằng hình ảnh); hệ chi tiết về bối cảnh (bao gồm


20

không gian, thời gian, hoàn cảnh nhân vật, bối cảnh sự kiện, sự việc, nguyên
nhân, điều kiện tác động vào sự kiện, nhân vật); hệ chi tiết về con người (bao

hình và cần tiếp tục được xem xét ở phương diện sử dụng chi tiết.
- Chi tiết bình: Đối với phóng sự, yếu tố bình luận, nêu quan điểm, nhận
định về vấn đề là một đặc trưng. Chi tiết này chủ yếu thông qua lời bình
mà phóng viên đọc, nói trong phóng sự và sự đánh giá, bình luận của
nhân chứng trong phóng sự.
- Chi tiết số liệu: Những con số mang tính chất định lượng nói lên rất nhiều
điều. Đó là khả năng biểu đạt thông tin. Việc khéo léo sử dụng chi tiết này
thậm chí còn tạo nên những “chấn động” cho khán giả theo dõi.
- Chi tiết cái tôi cảm xúc. Tâm trạng, cảm xúc là những trạng thái tình
cảm của phóng viên khi “sống” cùng hiện thực, cùng nhân vật của
phóng sự. Đó có thể là cảm xúc bằng lời, hoặc là điệu bộ, cảm xúc trên
nét mặt, cử chỉ của phóng viên.
1.3.2.3. Các yếu tố chi phối chi tiết và việc sử dụng chi tiết trong phóng
sự truyền hình
Chi tiết trong phóng sự truyền hình cũng kế thừa những đặc điểm của
chi tiết trong tác phẩm báo chí nói chung. Do đó, những yếu tố chi phối tới
chi tiết của phóng sự truyền hình cũng giống như trong tác phẩm báo chí nói
chung như yếu tố thời đại, bối cảnh lịch sử, tôn chỉ mục đích của tờ báo,
phong cách, chính kiến của nhà báo, đời sống tư tưởng, văn hóa…. Những
điểm khác biệt ở đây đến từ yếu tố loại hình (truyền hình) và yếu tố thể loại
(phóng sự). Tác giả đi sâu nghiên cứu những yếu tố chi phối tới chi tiết và
việc sử dụng chi tiết trong phóng sự truyền hình sau đây:
+ Vấn đề thể loại (phóng sự) chi phối với chi tiết
Do bị quy định bởi những đặc trưng riêng có của thể loại, hệ thống các
chi tiết trong phóng sự “vừa phải đảm bảo yêu cầu mới mẻ, cập nhật của thể
loại tin, vừa mang tính tiêu biểu, đặc sắc, quan trọng của thể loại bình luận”


22



trong đêm bằng cách vòng qua đường rừng tránh trạm kiểm soát. Nếu sử dụng
hình ảnh thông thường từ hiện trường khó mà diễn tả được rõ ràng hành trình
của các đối tượng buôn lậu. Nhưng nếu với một sơ đồ đường đi được vẽ lên,
khán giả sẽ hình dung ra ngay thủ đoạn của những đối tượng buôn lậu trong
hành trình trốn chạy.
- Quy trình sản xuất tác phẩm: Quy trình sản xuất tác phẩm bao gồm từ
đề xuất đề tài, xây dựng đề cương kịch bản, chuẩn bị điều kiện thiết bị, nghiên
cứu thực địa, tiến hành tác nghiệp, dựng hậu kỳ. Nếu quy trình sản xuất được
thống nhất cao từ lãnh đạo, phóng viên, quay phim, dựng hình thì hiệu quả
khai thác, sử dụng chi tiết sẽ tốt hơn. Nếu quá trình xây dựng đề cương được
đảm bảo, khi tiến hành tại thực địa, phóng viên tác nghiệp sẽ thuận lợi. Từ đó
tiếp tục tư duy, phát hiện những chi tiết tốt để cấu tứ vào tác phẩm của mình.
- Quan điểm và độ nhạy bén, khả năng quan sát của nhà báo: Đây là yếu
tố rất quan trọng. Nếu trong đề cương trước khi thực hiện tác phẩm mới là sự
phác thảo thì khi ra hiện trường tác nghiệp sẽ có nhiều thay đổi. Hoặc sự việc
sẽ được cụ thể hóa dưới những góc nhìn. Chẳng hạn phóng sự về tình trạng ô
nhiễm môi trường tại một khu vực dân cư là một chủ đề lớn. Khi ra hiện
trường, có hàng loạt chi tiết có thể khai thác để đưa vào phóng sự như hình
ảnh những đống rác, dòng nước đen ngòm, xác động vật chết ngổn ngang. Đó
là những chi tiết dễ dàng nhìn thấy ngay. Nhưng cũng có những chi tiết khác
phản ánh tình trạng ô nhiễm mà đòi hỏi sự nhạy bén của phóng viên như cả
một khu phố không bao giờ mở cửa vì mùi ô nhiễm. Hoặc tìm và phát hiện
một số hộ mua lưới về ngăn ruồi và côn trùng bay vào… Những chi tiết tưởng
như không lột tả trực diện nhưng lại hàm chứa rất nhiều thông tin phản ánh
chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Những yếu tố đó đòi hỏi độ nhạy bén trong
phát hiện chi tiết của nhà báo.
Có những đề tài phóng viên dự kiến làm phóng sự và phải đi tiền trạm,




25

buồn vui với người trong cuộc hay căm ghét kẻ xấu…) của nhà báo
trước sự việc hoặc con người cụ thể; chi tiết tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn,
nhớ lâu đối với công chúng (chi tiết nhỏ làm nên tác phẩm lớn). [42,
tr.57 – 58]
Nhà báo Hữu Thọ cho rằng: “Cùng với sự kiện, chi tiết có ý nghĩa thể
hiện tư tưởng chủ đề của bài viết [39, tr 118 – 119].
Tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Từ lý luận đến thực tiễn báo chí
đánh giá vai trò của chi tiết là “ các đơn vị vật liệu để tạo nên sự kiện; là
cái khách quan ban đầu để tạo thành nội dung khách quan chung của tác
phẩm [37, tr.113]
Còn theo tác giả Trần Quang Hải thì: “Nếu không có các chi tiết, nhất là
các chi tiết đắt giá, tác phẩm báo chí chỉ có thể trở thành một bản báo cáo
nhợt nhạt, mô phỏng đối tượng một cách hời hợt, khô khan, khó thuyết phục
và hấp dẫn người đọc” [19, tr.52-55]
Qua thực tiễn tác nghiệp phóng viên Kim Ngân của Ban Thời sự Đài
truyền hình Việt Nam cho rằng: “Chi tiết có vai trò rất quan trọng, bởi vì thời
lượng cho một phóng sự thời sự chỉ tầm khoảng 2-3 phút, nên chính các chi
tiết mang sức nặng nội dung chuyển tải” .
Phóng viên Nguyễn Văn Sơn, Ban Thời sự quan niệm: “Trong bất kỳ
phóng sựu thời sự truyền hình nào thì chi tiết có vai trò là “hạt nhân”, hay ví
von hơn, nếu coi phóng sự thời sự truyền hình là một tế bào hoàn chỉnh thì chi
tiết chính là “nhiễm sắc thể” để tạo nên tế bào đó”.
Rõ ràng, vai trò của chi tiết là rất quan trọng trong tác phẩm báo chí. Đó
là vật liệu nhỏ nhất để hợp thành sự kiện; chi tiết thể hiện ý đồ tư tưởng, quan
điểm, chính kiến; chi tiết giữ vai trò cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng
và thẩm mỹ cho công chúng. Trong xu thế làm phóng sự với thời lượng ngắn
ngày nay, việc sử dụng chi tiết có vai trò rất quan trọng. Tầm quan trọng của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status