Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch ở việt nam hiện nay - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

SOULIPHON KHAMPANYA

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG
HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Phƣơng

HÀ NỘI, NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết
luận, số liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo độ tin cậy./.

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn

Tác giả


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Luật

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI
TRƢỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH ........................................... 25
2.1 Quy định về bảo vệ môi trƣờng trong quy hoạch phát triển du lịch
và trong xây dựng các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch và đô thị
du lịch ......................................................................................................... 25
2.1.1 Quy định về bảo vệ môi trường trong quy hoạch phát triển du lịch
................................................................................................................. 25
2.1.2 Quy định về bảo vệ môi trường trong xây dựng các khu du lịch,
điểm du lịch, tuyến du lịch và đô thị du lịch ........................................... 28
2.2 Quy định về trách nhiệm bảo vệ môi trƣờng của các tổ chức, cá
nhân tiến hành các dịch vụ du lịch .......................................................... 30
2.2.1 Trách nhiệm của ban quản lí hoặc tổ chức cá nhân quản lí khu,
điểm du lịch ............................................................................................. 30


2.2.2 Trách nhiệm của chủ thể kinh doanh lưu trú du lịch ..................... 34
2.2.3 Trách nhiệm của chủ thể kinh doanh lữ hành ................................ 40
2.2.4 Trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ du lịch .................... 48
2.3 Trách nhiệm của khách du lịch và cộng đồng dân cƣ về bảo vệ môi
trƣờng trong hoạt động du lịch ................................................................ 53
2.3.1 Trách nhiệm bảo vệ môi trường của khách du lịch ....................... 53
2.3.2 Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong khu, điểm du lịch..... 60
2.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi
trƣờng trong lĩnh vực du lịch……………………………………………63
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH ................. 69
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trƣờng trong
hoạt động du lịch ....................................................................................... 69
3.2. Định hƣớng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trƣờng trong hoạt động
du lịch .......................................................................................................... 72

thành của các nước đang phát triển. Tổ chức Du lịch thế giới Liên hợp quốc
nhận định rằng: “tại nhiều quốc gia đang phát triển, du lịch là nguồn thu nhập
chính, ngành xuất khẩu hàng đầu, tạo ra nhiều công ăn việc làm và cơ hội cho
sự phát triển” (WTO-HL2008). “Du lịch là phương tiện chuyển giao của cải
tự nguyện lớn nhất từ các nước giàu sang các nước nghèo…. Khoản tiền do
du khách mang lại cho các khu vực nghèo khổ trên thế giới còn lớn hơn viện
trợ chính thức của các chính phủ”1
Việt Nam là một trong số các quốc gia có ngành du lịch phát triển
nhanh trong thập niên qua. Sự góp phần của nguồn thu từ du lịch vào GDP và
cán cân thanh toán trở nên đáng kể và ngày càng gia tăng. Với các lợi thế về
giá cả, nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa khá phong phú, nguồn nhân lực
1

Lelei Lelaulu, Chủ tịch Đối tác quốc tế, Diễn đàn Du lịch Thế giới vì Hòa bình và phát triển bền vững,
Brazil, 2006


2

dồi dào, và là điểm đến mới, Việt Nam hiện là quốc gia đang thu hút một số
lượng lớn du khách quốc tế. Để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái,
du lịch bền vững, việc bảo vệ môi trường là vấn đề vô cùng quan trọng. Tuy
nhiên, hiện nay các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, xây dựng
môi trường thân thiện cho du lịch chưa nhận được sự quan tâm tương xứng
với yêu cầu của thực tế từ các nhà xây dựng pháp luật, các nhà quản lý và các
chủ thể liên quan. Chính điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển
của ngành du lịch. Hoạt động du lịch ở Việt Nam chưa đạt được kết quả
tương xứng với triển vọng và không thể cạnh tranh được với du lịch của các
nước trong khu vực có điều kiện phát triển tương đồng. Ngược lại, hoạt động
du lịch dù được thực hiện bởi các khách du lịch hay các cơ sở kinh doanh các

trường trong hoạt động du lịch. Trong quá trình tìm hiểu quy định của pháp luật, luận
văn lồng ghép một số thực tiễn về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, quản lý
nhà nước đối với hoạt động này. Đồng thời, đánh giá các ưu điểm và hạn chế của các
quy định này;
Ba là, từ việc nghiên cứu trên đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện và nâng
cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, đáp
ứng yêu cầu của thực tiễn.
3. Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch có thể được xem
xét dưới góc độ môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn. Tuy nhiên,
trong khuôn khổ của luận văn, theo khái niệm môi trường của Luật bảo vệ
môi trường 2014 thì môi trường nhân văn không thuộc môi trường vật chất tự
nhiên và nhân tạo nên tác giả chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu theo khái niệm
môi trường của Luật Bảo vệ môi trường 2014.
Đây là đề tài nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về
bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch. Vì thế, tác giả tập trung nghiên cứu
các quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2014, Luật Du lịch 2005,… và các văn bản


4

hướng dẫn có liên quan. Việc dẫn chiếu đến các quy định khác chỉ nhằm so sánh, mở
rộng, và làm sáng tỏ hơn đối tượng nghiên cứu cũng như đạt được mục đích nghiên
cứu của đề tài này.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng
như quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về nhà nước và pháp luật nói chung,
về pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch nói riêng.
Trên nền tảng phương pháp luận ấy, khi nghiên cứu từng vấn đề cụ thể, tác

quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình
nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một
khoảng thời gian nhất định”.
Với những định nghĩa trên, có thể thấy bản chất của hoạt động du lịch là:
Thứ nhất, nói đến du lịch là nói đến sự di chuyển của con người từ địa
điểm này sang địa điểm khác với những mục đích đa dạng và bằng các
phương tiện khác nhau. Sự di chuyển này của con người là liên tục, vì vậy
hoạt động du lịch là không bao giờ ngừng.
Thứ hai, có nhiều chủ thể liên quan đến hoạt động du lịch. Đó là
khách du lịch và các chủ thể tiến hành các dịch vụ liên quan đến du lịch.
Khách du lịch xét về bản chất thì họ là những người di chuyển từ nơi ở


6

thường xuyên của mình đến những địa điểm khác nhau với mục đích tham
quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định. Còn các chủ thể tiến
hành các dịch vụ liên quan đến du lịch là những tổ chức, cá nhân tiến hành
các công việc nhằm tạo điều kiện cho hoạt động du lịch diễn ra được quy mô,
có tổ chức, một cách chuyên nghiệp hoặc đơn giản là trợ giúp, đáp ứng cho
các nhu cầu của khách du lịch nhằm mục đích kiếm tiền.
Thứ ba, hoạt động du lịch thường diễn ra tại các khu, điểm du lịch là
nơi có tài nguyên du lịch. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 4 Luật Du lịch
2005, “tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích
lịch sử- văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị
nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố
cơ bản để hình thành các khu du lich, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du
lịch”. Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du
lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác. Tài nguyên du
lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ

máy và tàu thuyền, đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính, gây
hại cho cây cối, động vật hoang dại và các công trình xây dựng bằng đá vôi và
bê tông.
Năng lượng: Tiêu thụ năng lượng trong khu du lịch thường không
hiệu quả và lãng phí.
Ô nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du
khách có thể gây phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác kể cả
động vật hoang dại.
Ô nhiễm phong cảnh: Ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do
khách sạn nhà hàng có kiến trúc xấu xí thô kệch, vật liệu ốp lát không phù
hợp, bố trí các dịch vụ thiếu khoa học, sử dụng quá nhiều phương tiện quảng
cáo nhất là các phương tiện xấu xí, dây điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng kém


8

đối với các công trình xây dựng và cảnh quan. Phát triển du lịch hỗn độn, pha
tạp, lộn xộn là một trong những hoạt động gây suy thoái môi trường tệ hại
nhất.
Du lịch làm nhiễu loạn sinh thái: Việc phát triển hoạt động du lịch
thiếu kiểm soát có thể tác động lên đất (xói mòn, trượt lở), làm biến động các
nơi cư trú, đe doạ các loài động thực vật hoang dại (tiếng ồn, săn bắt, cung
ứng thịt thú rừng, thú nhồi bông, côn trùng...). Xây dựng đường giao thông và
khu cắm trại gây cản trở động vật hoang dại di chuyển tìm mồi, kết đôi hoặc
sinh sản, phá hoại rạn san hô do khai thác mẫu vật, cá cảnh hoặc neo đậu tàu
thuyền...
Những tác động tiêu cực trên không chỉ xâm hại đến môi trường mà
còn ảnh hưởng đến kinh tế và ảnh hưởng ngược trở lại đến chính hoạt động
du lịch.
Sự tồn tại và phát triển của du lịch với tư cách là một ngành kinh tế

khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ Môi trường 2014
ghi rõ trong Ðiều 6: "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức,
cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ
môi trường, có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường".
Nguy cơ môi trường bị hủy hoại với những hậu quả nghiêm trọng của
nó đã buộc các quốc gia, trong đó có Việt Nam chú ý hơn đến những biện
pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ môi trường. Nhiều biện pháp kinh tế, xã hội được
triển khai nhằm thực hiện việc bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường là yếu
tố quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia và vì thế nó được
thực hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau: cấp độ cá nhân, cấp độ cộng đồng,
cấp độ địa phương- vùng, cấp độ quốc gia và cấp độ quốc tế. Môi trường có
ảnh hưởng tới bất cứ cá nhân nào. Vì vậy, việc bảo vệ môi trường phải được
coi là công việc của từng cá nhân. Mỗi cá nhân có trách nhiệm thực hiện đúng


10

quy định của pháp luật, quy tắc của cộng đồng để giữ gìn môi trường sống.
Cộng đồng là tập thể người có gắn kết với nhau bằng những yếu tố kinh tế, xã
hội, tổ chức, chính trị. Vai trò của cộng dồng đối với việc bảo vệ môi trường
ngày càng được coi trọng. Bảo vệ môi trường cấp độ địa phương, vùng, quốc
gia do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành và được coi là một hoạt
động quản lý hành chính nhà nước.
Hoạt động của con người tác động và làm thay đổi hiện trạng môi
trường. Không chỉ những ngành công nghiệp nặng, khai thác khoáng
sản,…mới có khả năng gây ô nhiễm, suy thoái,…môi trường. Du lịch- ngành
công nghiệp không khói phổ biến hiện nay ở Việt Nam nói riêng, trên thế giới
nói chung cũng đã gây ra rất nhiều vấn đề về môi trường, đòi hỏi Nhà nước
phải có giải pháp, trong đó có việc quy định bằng pháp luật việc bảo vệ môi

cải tạo được thực hiện tại địa phương. Cũng thông qua các hoạt động du lịch,
việc trao đổi, giao lưu văn hóa cũng được thực hiện theo chiều hướng tích
cực. Việc du khách ham thích tìm hiểu các tập tục địa phương cũng làm cho
người dân bản địa tự hào và từ đó có thể trau dồi, tăng cường bản sắc văn hóa
của vùng miền mình. Những giá trị này sẽ làm cho người dân và chính quyền
địa phương nhận thức được về những giá trị kinh tế mà tài nguyên du lịch
mang lại cho cộng đồng. Việc bảo vệ các tài nguyên du lịch, các nguồn tài
nguyên thiên nhiên và thành phần môi trường tại các khu du lịch, điểm du lịch
được xem như bảo vệ các giá trị kinh tế của địa phương và gìn giữ thu nhập
ổn định cho người dân. Rõ ràng môi trường sạch đẹp, tài nguyên du lịch được
quan tâm cải tạo và phát triển sẽ có sức hấp dẫn hơn đối với khách du lịch.
Hơn nữa, sự giới thiệu và quảng bá về phong cảnh, về những giá trị
của tài nguyên du lịch của khách du lịch với nhau cũng góp phần làm cho
người dân và chính quyền địa phương thấy được tầm quan trọng của việc duy
trì và gìn giữ những tài nguyên du lịch của địa phương.
Một phần quan trọng nữa của du lịch đối với môi trường là chính
những nguồn thu từ hoạt động du lịch sẽ được sử dụng để quay trở lại đầu tư,


12

tôn tạo và duy trì các giá trị của các nguồn tài nguyên du lịch, trong đó có các
nguồn tài nguyên thiên nhiên và các thành phần môi trường.
Tuy nhiên, cùng với những lợi ích từ hoạt động du lịch, những áp lực
và sức ép từ hoạt động này đến môi trường cũng rất đáng bàn. Trong nhiều
năm gần đây, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, hoạt động du
lịch đã để lại những hậu quả hết sức nặng nề đối với môi trường. Cụ thể như
sau:
- Tăng áp lực về chất thải: Lượng chất thải rắn và chất thải lỏng đang
tăng nhanh theo nhu cầu du lịch của con người tại các khu du lịch, điểm du

trung tâm du lịch, đô thị du lịch gây ách tắc giao thông làm tăng đáng kể
lượng CO2 vào môi trường không khí. Mùa du lịch, ngày nghỉ cuối tuần số
phương tiện giao thông đường bộ bằng ô tô, xe máy, phục vụ khách du lịch
tăng lên có thể gấp 3-4 lần ngày thường và là nguồn gây ô nhiễm không khí
(tiếng ồn, bụi và khí thải) chủ yếu ở khu vực này.
- Tăng khả năng ô nhiễm dầu ở vùng nước ven biển, lưu vực sông, hồ
nước chính:
Việt Nam có một vùng biển đặc quyền kinh tế trên 1.000.000 km2 và
hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ, hai quần đảo là Trường Sa và Hoàng Sa, bờ biển kéo
dài trên 3.260 km. Đây là những tiền đề cho phép hoạch định một chiến lược
du lịch biển, phù hợp với xu thế phát triển của một quốc gia biển. Ngoài ra,
Việt Nam còn sở hữu nhiều quần thể du lịch trong đó bao gồm các sông, hồ
nước,…Việc du lịch bằng tàu, thuyền tại các khu vực này theo đó cũng ra đời.
Đi liền với sự gia tăng các hoạt động du lịch trên biển, sông nước, mức độ ô
nhiễm dầu vùng nước biển ven bờ, sông, hồ do dầu thải và sự cố tràn dầu
cũng tăng nhanh, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động du lịch, môi trường sinh
thái, cảnh quan tự nhiên của biển, sông, hồ…. Có thể kể đến như tại tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu, có thời gian, địa phương huy động lực lượng thu gom được
2

/>

14

thêm khoảng 4 tấn dầu tràn tại các khu du lịch biển trên địa bàn tỉnh, nâng
tổng số dầu tràn được thu gom đưa đi xử lý lên 14 tấn3….
– Làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất, tăng nguy cơ suy thoái đất:
Việc phát triển các khu du lịch là cần thiết nhằm tạo các sản phẩm du
lịch có chất lượng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Tuy nhiên việc
xây dựng và phát triển các điểm du lịch có diện tích vài hécta (khu du lịch

Bên cạnh đó, nhu cầu thiếu ý thức của một bộ phận du khách đã và
đang kích thích việc săn bắn, khai thác nhiều loài sinh vật để làm vật lưu
niệm, món ăn đặc sản…. Điều này sẽ tác động làm suy giảm đa dạng sinh học
ở Việt Nam. Trong một số năm gần đây, ở tỉnh Bình Định, chất thải từ các tàu
thuyền du lịch, tiếng ồn của động cơ sẽ trực tiếp làm ô nhiễm các thủy vực và
môi trường biển. Việc neo đậu tàu thuyền không đúng nơi quy định cũng phá
hủy nhiều rạn san hô có giá trị. Những hành vi thiếu ý thức của khách du lịch
khi khám phá các rạn ran hô và việc khai thác các rạn san hô làm quà lưu
niệm của người dân địa phương, ngoài việc phá hủy trực tiếp rạn san hô còn
góp phần làm xói mòn nghiêm trọng vùng bờ, làm mất đi lớp bảo vệ biển4.
1.2.2 Vai trò của môi trƣờng đối với du lịch bền vững và du lịch
sinh thái
Môi trường là yếu tố quyết định đối với du lịch bền vững và du lịch
sinh thái. Du lịch bền vững là thuật ngữ được sử dụng để mô tả loại hình du
lịch mang lại những giá trị đồng bộ về văn hóa- xã hội, kinh tế, môi trường.
Mặc dù còn những điểm chưa thực sự thống nhất về khái niệm phát triển du
lịch bền vững, nhưng đa số các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh
vực liên quan ở Việt Nam đều cho rằng: “Phát triển du lịch bền vững là hoạt
động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các
nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài
hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài
4

/>

16

nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động đu lịch
trong tương lai: cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức
sống của cộng đồng địa phương”5.

trường phát triển bền vững, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các thành phần
môi trường cần phải được bảo vệ, duy trì và tôn tạo để hấp dẫn du khách
trong hiện tại và đáp ứng yêu cầu du lịch trong tương lai.
Trong quá trình phát triển du lịch phải đảm bảo được sự phát triển bền
vững về kinh tế, về môi trường và về văn hóa.
Thân thiện môi trường: du lịch bền vững có tác động thấp đến nguồn
lợi tự nhiên, đến các nguồn tài nguyên và các thành phần môi trường. Nó
giảm thiểu các tác động đến môi trường ở mức thấp nhất (động, thực vật, các
sinh cảnh sống, nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm…). tính bền
vững về môi trường trong hoạt động du lịch là việc tiến hành các hoạt động
du lịch sử dụng các tài nguyên không vượt quá khả năng tự phục hồi của nó,
sao cho đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện tại song không làm suy yếu khả
năng tái tạo trong tương lai để đáp ứng được nhu cầu của thế hệ mai sau.
Gần gũi về xã hội- văn hóa: Du lịch bền vững không gây hại đến các
cấu trúc xã hội hoặc văn hóa của cộng đồng nơi mà chúng được thực hiện.
Thay vào đó, nó tôn trọng văn hóa và truyền thống địa phương. Khuyến
khích các bên liên quan (cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour, cơ quan nhà
nước) trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch phát triển và giám sát,
giáo dục các bên liên quan về vai trò của họ. Gần gũi về xã hội- văn hóa là
việc khai thác, đáp ứng các nhu cầu phát triển du lịch hiện tại không làm tổn
hại, suy thoái các giá trị văn hóa truyền thống để lại cho các giá trị tiếp theo.
Hiện nay, chủ yếu khách đi du lịch là để hưởng thụ các giá trị văn hóa độc
đáo và khác biệt với nền văn hóa của dân tộc họ. Các điểm du lịch có sự kết
hợp giữa cảnh đẹp thiên nhiên với nền văn hóa truyền thống gây ấn tượng
mạnh và độc đáo có sức hấp dẫn hơn đối với du khách. Du khách muốn được
xem và hưởng thụ những giá trị văn hóa đích thực, sống động trong cuộc


18


19

hoặc không được làm khi có những hoạt động tác động đến môi trường du
lịch... Dưới hình thức là nghĩa vụ pháp lý, việc vi phạm chúng đồng nghĩa với
việc phải gánh chịu những chế tài nhất định. Việc quy định các trách nhiệm
pháp lí bên cạnh các nghĩa vụ pháp lí sẽ góp phần làm cho các quy định pháp
luật được tuân thủ chặt chẽ hơn.
Thứ hai, pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch là công
cụ để kiểm soát ô nhiễm môi trường, góp phần hạn chế và khắc phục ô nhiễm
môi trường từ các hoạt động du lịch. Hoạt động du lịch đã và đang gây ra
những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường. Pháp luật môi trường được ban
hành nhằm ngăn ngừa những hành vi có nguy cơ gây ra ô nhiễm môi trường,
loại trừ những tác động tiêu cực cho môi trường. Các chủ thể có liên quan
trong lĩnh vực du lịch sẽ tiến hành hoạt động kiểm soát và tự kiểm soát nhằm
ngăn ngừa ô nhiễm môi trường cũng như các hành vi có nguy cơ gây ra hậu
quả cho môi trường. Mặt khác, khi ô nhiễm môi trường xảy ra do hoạt động
du lịch, pháp luật môi trường có quy định nghĩa vụ mà các chủ thể phải thực
hiện nhằm ngăn chặn và khắc phục các hậu quả xấu gây ra cho môi trường
như sự phối hợp của các chủ thể trong việc giải quyết tình trạng ô nhiễm,
những giải pháp để việc ô nhiễm không tiếp tục gây hại sang các thành phần
môi trường khác.
Thứ ba, pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch giúp
nâng cao ý thức, góp phần làm thay đổi nhận thức về bảo vệ môi trường của
các chủ thể. Bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong hoạt
động du lịch nói riêng rất cần sự tự giác của các chủ thể. Trong điều kiện ý
thức môi trường của người dân chưa cao, pháp luật môi trường được ban
hành để điều chỉnh các hành vi của các chủ thể. Vai trò xử phạt của pháp luật
đối với các hành vi vi phạm pháp luật là quan trọng. Nhưng có ý nghĩa hơn
nhiều nếu pháp luật định hướng được hành vi xử sự của các chủ thể. Thông





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status