BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LƯU HẢI LY
KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ KHẢ NĂNG TƯ LỢI
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LƯU HẢI LY
KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ KHẢ NĂNG TƯ LỢI
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BKS
:
Ban Kiểm soát
CTCP
:
Công ty cổ phần
ĐHĐCĐ
:
Đại hội đồng cổ đông
HĐQT
:
Hội đồng quản trị
GĐ
:
dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần .................................. 14
1.2.2. Nguồn kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ
phần ................................................................................................... 17
1.2.3. Nội dung cơ bản của pháp luật kiểm soát các giao dịch có khả năng
tư lợi trong công ty cổ phần............................................................... 24
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT GIAO
DỊCH CÓ KHẢ NĂNG TƯ LỢI TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở
VIỆT NAM ....................................................................................... 35
2.1.
Những giao dịch trong công ty cổ phần được xác định là đối tượng
bị kiểm soát theo pháp luật Việt Nam ............................................. 35
2.1.1. Giao dịch giữa công ty với những người có liên quan...................... 35
2.1.2. Giao dịch có giá trị tài sản lớn .......................................................... 38
2.2.
Thực trạng pháp luật ngăn ngừa giao dịch có khả năng tư lợi trong
công ty cổ phần ................................................................................. 39
2.2.1. Thực trạng pháp luật về cơ chế thông qua quyết định của công ty để
tránh giao dịch có khả năng tư lợi .................................................... 39
2.2.2. Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông công ty
nhằm kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi ............................. 42
2.2.3. Thực trạng pháp luật về điều kiện và tiêu chuẩn của người tham gia
quản lý công ty cổ phần ..................................................................... 45
2.2.4. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm của người quản lý trong công ty
cổ phần .............................................................................................. 48
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi là một trong những nội dung
của quản trị công ty. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, công ty phải thiết
lập rất nhiều loại giao dịch, hợp đồng. Các giao dịch, hợp đồng này rất đa
dạng về nội dung (như hợp đồng mua bán, hợp đồng cung ứng nguyên liệu,
hợp đồng dịch vụ, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng tín dụng…), về hình thức
(văn bản, lời nói, hành vi), về mục đích (lợi nhuận hay tiêu dùng) và về thành
phần chủ thể (giữa công ty với khách hàng của mình. Thực tế, vấn đề lợi dụng
công ty để tư lợi cho bản thân đã và đang diễn ra ngày càng phức tạp, đáng
báo động ở Việt Nam. Luận giải cho thực tế này cũng rất dễ hiểu bởi kinh
doanh vốn là hoạt động đa dạng và phức tạp trong khi nghĩa vụ trên của các
thành viên xuất phát từ nền tảng đạo đức, những đòi hỏi về tính thiện chí,
trung thực, cẩn trọng đều rất mơ hồ và khác nhau trong những tình huống
khác nhau. Vì vậy, các thành viên trong công ty rất có thể bỏ qua lợi ích của
công ty, của các chủ sở hữu khác để mưu lợi và thu lợi riêng cho bản thân
thông qua các giao dịch của công ty.
Các giao dịch tư lợi nảy sinh sẽ gây thiệt hại về tài sản, uy tín của
công ty, ảnh hưởng đến quyền lợi của các thành viên công ty, của các chủ thể
có quyền lợi liên quan, kéo theo đó là ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ
nợ của công ty khi công ty không còn đủ tài sản để thanh toán các khoản nợ
cho các chủ nợ. Ở phạm vi rộng hơn, các giao dịch tư lợi làm thất thoát tài sản
của Nhà nước và xã hội, dẫn đến nhiều hệ quả nghiêm trọng làm ảnh hưởng
đến môi trường kinh doanh, đạo đức kinh doanh và nền kinh tế của quốc gia.
Do đó, kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi là vô cùng cần thiết và cấp
bách nhằm bảo vệ lợi ích cho không chỉ bản thân công ty và các thành viên
về giao dịch trục lợi” của tác giả Vũ Thị Thanh Tâm; Luận văn thạc sỹ “Kiểm
soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi theo quy định của Luật Doanh
nghiệp năm 2005” của tác giả Ngô Thị Bích Phương; bài viết trên Tạp chí
3
Luật học số 1/2004 “Kiểm soát các giao dịch tư lợi trong công ty theo Luật
Doanh nghiệp” của Ths. Lê Đình Vinh; bài viết “Kiểm soát các giao dịch có
nguy cơ phát sinh tư lợi theo Luật Doanh nghiệp 2005” của Ths. Trần Thị
Bảo Ánh... Ngoài ra, vấn đề kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi cũng đã
được đề cập trong một số giáo trình và sách tham khảo của các trường đại học
như: Giáo trình Luật Thương mại – Phần chung và thương nhân của PGS.TS
Ngô Huy Cương, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. Bên cạnh đó, kiểm
soát giao dịch tư lợi cũng là chủ đề của một số diễn đàn chia sẻ nghiên cứu
khoa học gần đây.
Tuy nhiên, những công trình khoa học và những bài viết đã nghiên
cứu đều tiếp cận vấn đề kiểm soát giao dịch tư lợi ở góc độ chung nhất hoặc
chỉ nghiên cứu trong phạm vi hẹp là Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh
nghiệp 2005 sửa đổi, bổ sung. Các công trình nghiên cứu trên chưa có sự
nghiên cứu sâu và kết nối giữa Luật Doanh nghiệp và các luật chuyên ngành
khác như: Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán,… và một số quy
định của quốc tế. Từ khi Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành và có hiệu
lực, cộng với quá trình hội nhập khu vực, hội phập quốc tế phát triển mạnh
mẽ (đánh dấu bằng việc trở thành thành viên chính thức của ASEAN, ASEM,
APEC và WTO), chưa có một công trình nghiên cứu nào về đề tài kiểm soát
giao dịch tư lợi ở góc độ pháp lý chuyên sâu và phạm vi nghiên cứu như tác
giả đề xuất.
3.
năng tư lợi và pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong
công ty cổ phần;
- Nghiên cứu so sánh về kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về kiểm
soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần ở một số quốc gia
trên thế giới;
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh các
vấn đề liên quan đến giao dịch có khả năng tư lợi và kiểm soát giao dịch có
khả năng tư lợi theo pháp luật Việt Nam;
5
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm
soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện
nay;
- Nghiên cứu, đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật
về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần ở Việt
Nam trong thời gian tới;
- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả thực thi pháp
luật về kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi.
5.
Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
- Tác động của các giao dịch có khả năng tư lợi đối với sự tồn tại và
phát triển của công ty?
- Tại sao phải kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ
phần bằng pháp luật? Những giải pháp nào cần được thể chế hóa thành pháp
luật và những giải pháp nào trao lại cho Điều lệ và quy chế công ty để kiểm
soát giao dịch có khả năng tư lợi?
soát giao dịch có khả năng tư lợi. Về mặt thực trạng, trên cơ sở phân tích,
tổng hợp quy định pháp luật điều chỉnh và thực tiễn áp dụng pháp luật kiểm
soát giao dịch có khả năng tư lợi, luận văn đưa ra những nhận định, đánh giá.
Từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát
giao dịch có khả năng tư lợi và cơ chế nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.
8.
Kết cấu luận văn
Ngoài lời nói đầu, phần kết luận, luận văn được kết cấu bởi 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giao dịch có khả tư lợi và pháp
luật kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát giao dịch có khả năng tư
lợi trong công ty cổ phần ở Việt Nam;
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát các giao dịch có
khả năng tư lợi trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam.
7
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH TƯ LỢI VÀ
PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ KHẢ NĂNG
TƯ LỢI TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1.
Giao dịch có khả năng tư lợi và kiểm soát các giao dịch có khả
năng tư lợi trong công ty cổ phần
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của giao dịch có khả năng tư lợi trong công
diện theo pháp luật của công ty ủy quyền thực hiện (các) công việc thuộc
quyền hạn của mình. Trong công ty cổ phần, người đại diện có thể là người
được lựa chọn ra trong số những nhà đầu tư góp vốn vào công ty hoặc họ có
thể là những người được công ty thuê đảm nhiệm vị trí này.
Người đại diện khi nhân danh khi được các thành viên khác trong
công ty giao cho làm một công việc hay nhân danh công ty xác lập, thay đổi,
chấm dứt các giao dịch trong phạm vi đại diện, thì người đại diện phải đảm
bảo luôn thực hiện công việc được giao phó vì lợi ích của công ty, đảm bảo
tách bạch được lợi ích của cá nhân người đại diện và lợi ích chung của công
ty, mục đích của giao dịch phải hướng vào quyền và lợi ích của công ty.
Tuy nhiên, đặc điểm chung nhất tạo thành bản chất của giao dịch là sự
thống nhất giữa ý chí và sự bày tỏ ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch. Ý
chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong, ý chí đó được thể hiện ra
bên ngoài dưới một hình thức nhất định. Trong các giao dịch của công ty, ý
chí về cơ bản phải là ý chí của công ty, nhưng người đứng ra bày tỏ ý chí lại
là người đại diện. Do đó, khó tránh khỏi việc “ý chí cá nhân” của người đại
diện chi phối đến việc ra các quyết định nhân danh công ty mà họ đại diện.
Nếu cá nhân đó trung thành với lợi ích của công ty, hay quyền và lợi ích của
họ tỷ lệ thuận với lợi ích của công ty, hoặc được củng cố thông qua việc thực
hiện giao dịch thì giao dịch mới phản ảnh chính xác ý chí của công ty. Trường
hợp ngược lại, khi người đại diện không có chung lợi ích với công ty hoặc lợi
ích của họ tỷ lệ nghịch với lợi ích của công ty thì giao dịch đó rất dễ xảy ra sự
9
lạm dụng quyền hạn của người đại diện khi người đại diện dùng quyền năng
của mình can thiệp vào giao dịch đích thực, biến ý chí của mình thành ý chí
của công ty để tìm kiếm lợi ích cho bản thân, hình thành loại giao dịch có khả
năng tư lợi gây thiệt hại cho công ty.
cho cá nhân. Cơ sở hay phương tiện để thực hiện được mục đích này là vị
thế của người đại diện. Vị thế chính là quyền hành bao gồm: quyền nhân
danh, quyền điều hành, quyền quản lý.
Lợi ích trực tiếp của người đại diện có thể được hiểu là trường hợp
mà người đại diện trực tiếp giao dịch với công ty như trực tiếp vay tiền của
công ty, trực tiếp bán hàng cho công ty. Lợi ích trực tiếp cũng được hiểu là
trường hợp người dại diện có lợi ích phát sinh trực tiếp từ giao dịch đó, như
được hưởng hoa hồng, được chia lợi nhuận, được hưởng các đặc quyền, đặc
lợi trực tiếp từ giao dịch do một bên có giao dịch với công ty chi trả... Về mặt
truyền thống, lợi ích ở đây được hiểu là lợi ích vật chất. Tuy nhiên, trên thực
tế, lợi ích phi vật chất cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến các quyết định của
người đại diện. Do đó, lợi ích của người đại diện cần được hiểu không chỉ là
lợi ích vật chất mà còn bao hàm các lợi ích cá nhân khác. Đó là những “những
điều có ích, có lợi cho một đối tượng nào đó trong mối quan hệ với đối
tượng ấy (nói một cách khái quát)”. Một mối quan hệ tình cảm đạt được
không theo một quy luật tự nhiên mà hình thành từ sự trao đổi với một lợi
ích vật chất, một lợi thế phi vật chất mà chính bản thân người quản lý công
ty mong muốn đạt được hoặc muốn giành được cho người có liên quan… là
những ví dụ điển hình cho những lợi ích phi vật chất.
Lợi ích gián tiếp được hiểu là trường hợp mà công ty xác lập giao dịch
với người liên quan của người đại diện. Người có liên quan của người đại
diện là những người có mối quan hệ gắn bó với họ về mặt kinh tế, hôn nhân,
11
gia đình, huyết thống hoặc khía cạnh khác mà người quản lý công ty với tư
cách là một cá nhân bình thường sẽ có xu hướng ưu tiên, hỗ trợ, giúp đỡ
hoặc tạo lợi thế cho những người này.
Thứ ba, trong giao dịch có khả năng tư lợi có sự chuyển dịch lợi ích từ
cổ phần với lợi ích của công ty, cổ đông và lợi ích của bên thứ ba
Trước hết, các quy định nhằm kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi
có giá trị quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của công ty và lợi ích của cổ
đông công ty bởi lẽ những quy định này nhằm mục đích chống lại việc người
có thẩm quyền lợi dụng giao dịch để chiếm đoạt lợi ích của công ty và cũng
chính là lợi ích của các cổ đông trong công ty. Đồng thời, không chỉ nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích của công ty và những nhà đầu tư, việc kiểm soát giao dịch
có khả năng tư lợi còn đảm bảo lợi ích của người thứ ba là các chủ nợ và lợi
ích của chính nhà nước. Việc thâm hụt vốn của công ty dẫn đến làm giảm khả
năng thực hiện nghĩa vụ đối với các chủ nợ và trả lương cho người lao động.
Trong điều kiện các quy định pháp luật về kiểm soát giao dịch có khả năng tư
lợi tránh làm thất thoát nguồn vốn của công ty thì lợi ích của các chủ nợ cũng
như của các bạn hàng và người lao động trong công ty luôn được quan tâm.
Vai trò của kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi đối với hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp
Các giao dịch chứa đựng xung đột lợi ích rất dễ xảy ra và đó là nguy
cơ của sự phá sản doanh nghiệp cả về niềm tin lẫn bản thân công ty. Kiểm
soát giao dịch có khả năng tư lợi là nền tảng cho sự phát triển lâu dài và tăng
trưởng bền vững của công ty. Cụ thể, nếu các giao dịch có khả năng tư lợi
trong CTCP được tuân theo cơ chế kiểm soát chặt chẽ sẽ hạn chế những ảnh
hưởng tiêu cực và rủi ro trong kinh doanh, xây dựng lòng tin đối với các nhà
13
đầu tư và khách hàng. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thể hiện ở
những điểm sau:
- Doanh nghiệp sẽ không bị tước đoạt các lợi ích vật chất, đảm bảo
được nguồn vốn, lợi nhuận của doanh nghiệp để tái đầu tư sản xuất, duy trì
hoạt động. Doanh nghiệp sẽ giảm thiểu được rủi ro liên quan đến các vụ gian
giao dịch tại cơ quan có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục nhất định. Đồng
thời, những người này phải công khai hóa các lợi ích liên quan đến giao dịch
và giải trình về các giao dịch được ký kết trước cơ quan có thẩm quyền trong
công ty quyết định đến việc xác lập giao dịch. Trong trường hợp xảy ra vi
phạm, những người quản lý, cổ đông có cổ phần chi phối, người đại diện
phải chịu các hình thức trách nhiệm tương ứng nếu phát hiện có sự lạm dụng
quyền lực (trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm
hình sự).
Như vậy, vấn đề kiểm soát các giao dịch tư lợi trong công ty cổ phần
là rất cần thiết. Việc kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong
doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền lợi cho công ty, bảo vệ quyền lợi hợp pháp
cho các cổ đông trong công ty, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba
liên quan và bảo vệ môi tường kinh doanh lành mạnh, công bằng luôn được
sự quan tâm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và các thành viên, cổ đông
trong công ty.
1.2.
Pháp luật kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty
cổ phần
1.2.1. Khái niệm và các phương thức kiểm soát bằng pháp luật các giao
dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần
15
Pháp luật kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi là một bộ phận
của pháp luật doanh nghiệp, trong đó, pháp luật kiểm soát các giao dịch có
khả năng tư lợi là hệ thống quy tắc chung cho xã hội (bao gồm các quy tắc xử
sự chung và các nguyên tắc, khái niệm pháp lý) do Nhà nước đặt ra hoặc thừa
đơn vị hữu quan tình trạng tài sản của mình. Hay như ở Đức, pháp luật cho
phép các giao dịch với GĐ, nhưng không cho phép giao dịch với một tổ chức
khác cũng do người GĐ quản lý. Luật công ty của Thụy Điển cũng quy định:
“Hội đồng GĐ và các đại diện khác của công ty không được phép tiến hành
các giao dịch pháp lý hoặc các biện pháp khác có thể tạo ra lợi thế không
chính đáng cho một cổ đông hoặc đương sự thứ ba làm tổn hại đến công ty
hoặc cổ đông khác” (Tiết 13, chương 8).
Điển hình của việc áp dụng phương thức này là pháp luật công ty của
Trung Quốc. Luật Công ty của Trung Quốc không đưa ra khái niệm về người
có liên quan và có cách tiếp cận theo hướng cấm đoán hoàn toàn các giao dịch
giữa công ty với người có liên quan là giám đốc. Quy định này của pháp luật
Trung Quốc còn “bảo thủ, cứng nhắc và thiếu tính linh hoạt”1. Cụ thể, Khoản
4 Điều 149 quy định: người quản lý và giám đốc công ty không được tham
gia vào hợp đồng hoặc tiến hành giao dịch với công ty. Đối với loại hợp đồng
vay thì công ty sẽ không cho vay, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua
công ty con, cho giám đốc, kiểm soát viên hoặc những người quản lý công ty.
Phương thức thứ hai, pháp luật cho phép chủ thể tiến hành các giao
dịch này hoặc Điều lệ công ty không cấm, tuy nhiên các giao dịch này phải
được kiểm soát chặt chẽ. Pháp luật phải xây dựng được các quy phạm tương
ứng để xác định những giao dịch có khả năng tư lợi, cách thức công khai hóa
lợi ích cá nhân, cơ chế giám sát giao dịch và xử lý hậu quả của giao dịch nếu
không tuân theo cơ chế giám sát đó. Về mặt lý luận, quyền tự do hợp đồng
được coi là một bộ phận cấu thành quan trọng, là biểu hiện sinh động nhất của
1
Ngô Viễn Phú (2005), Nghiên cứu so sánh quản lý công ty cổ phần theo Pháp luật nước CHXHCN Việt
Nam và CHND Trung Hoa, Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội, tr.190.
17
Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.109.
18
Các văn bản pháp luật quy định trực tiếp về hoạt động kiểm soát các
giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần được tìm thấy trong pháp
luật về công ty, quy tắc quản trị của các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán, pháp luật kế toán. Theo nguyên tắc áp dụng pháp luật, các loại
hình công ty hoạt động trong nền kinh tế phải tuân quy định pháp luật về công
ty (pháp luật về doanh nghiệp). Trường hợp có các quy định đặc thù liên quan
đến việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp được quy
định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như pháp luật chứng khoán,
pháp luật tín dụng ngân hàng thì phải tuân theo quy định đặc thù trong các
đạo luật đó. Ngoài ra, các văn bản pháp luật có các điều khoản liên quan đến
hoạt động kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần
cũng được coi là nguồn luật điều chỉnh như luật về hợp đồng trong dân sự và
thương mại, luật tố tụng dân sự, pháp luật hình sự, pháp luật về hành chính.
Ngoài ra, án lệ cũng được coi là nguồn của pháp luật về kiểm soát các giao
dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần.
Thứ nhất, pháp luật về công ty
Các văn bản pháp luật về công ty cụ thể quy định về hình thức tổ chức
của các loại hình công ty nói chung và các loại hình công ty hoạt động trong
lĩnh vực đặc thù như ngân hàng, tín dụng, chứng khoán… điều chỉnh trực tiếp
kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần. Trong các
đạo luật thành văn này thông thường sẽ quy định những đối tượng được coi là
người có liên quan, quy định về công khai hóa giao dịch, về trình tự, thủ tục,
thẩm quyền thông qua giao dịch. Ngoài ra, pháp luật công ty còn quy định
chung về quyền khởi kiện của công ty hoặc thành viên, cổ đông nếu có hành
vi vi phạm hoạt động kiểm soát giao dịch, hậu quả của giao dịch vô hiệu và
tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp và là một công cụ theo dõi hoạt
động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp thông qua báo cáo tài chính.