Phát triển bền vững các nguồn nước quốc tế một số vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý của việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐINH NHƯ HIỀN TRANG

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC NGUỒN NƯỚC QUỐC TẾ
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁP LÝ CỦA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60380108

Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Ly Anh

HÀ NỘI - NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
luận trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày 5 tháng 8 năm 2016
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn

TS. Hoàng Ly Anh

Tác giả luận văn


mục đích phi giao thông
Hiệp định MeKong 1995
Hiệp định về hợp tác phát triển bền vững lưu vực
ILC
IUNC
MRC

sông MeKong
Hội luật quốc tế
Liên minh quốc tế về bảo tồn thiên nhiên

PTBV

Ủy hội sông Mekong
Quy trình thông báo trước, tham vấn và đồng
thuận trong Hiệp định MeKong năm 1995.
Phát triển bền vững

UN
UNECE
UNEP
UN-Water

Liên hiệp quốc
Ủy ban Kinh tế Châu Âu của Liên hợp quốc
Chương trình Môi trường Liên hợp quốc
Tổ chức nước của Liên hợp quốc

WCED
WWF

2.2.2. Điều ước quốc tế đa phương ........................................................................ 33
2.2.3. Điều ước quốc tế khu vực và lưu vực ........................................................... 40
2.2.4. Điều ước quốc tế song phương..................................................................... 41
2.3. Điều ước quốc tế về phát triển bền vững các nguồn nước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên .......................................................................................................... 41
2.3.1. Các nguồn nước quốc tế tại Việt Nam.......................................................... 41
2.3.2. Các điều ước quốc tế đa phương, lưu vực và song phương........................... 45
2.3.3. Phát triển bền vững nguồn nước quốc tế theo Hiệp định MeKong................ 49


2.3.4. Tính tương thích giữa Công ước New York 1997 và Hiệp định Mekong 1995
.............................................................................................................................. 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ...................................................................................... 57
Chương 3: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC
NGUỒN NƯỚC QUỐC TẾ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ............................... 60
3.1. Pháp luật về phát triển bền vững các nguồn nước quốc tế ............................... 60
3.1.1. Các nguyên tắc trong quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng nguồn nước quốc tế
và phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nguồn nước quốc tế gây ra ........... 60
3.1.2. Quy định về quyền sử dụng nguồn nước trong đó có nguồn nước quốc tế .... 62
3.1.3. Quy định về bảo vệ, chống ô nhiễm nguồn nước trong đó có nguồn nước
quốc tế ................................................................................................................... 64
3.1.4. Quy định về duy trì và bảo tồn dòng chảy .................................................... 66
3.1.5. Quy định về tiếp cận các hệ sinh thái liên quan đến nguồn nước .................. 67
3.1.6. Quy định về các nghĩa vụ thủ tục bảo đảm phát triển bền vững nguồn nước
quốc tế ................................................................................................................... 69
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về phát triển bền vững nguồn nước quốc tế .... 76
3.2.1. Hoàn thiện cơ chế hợp tác về phát triển bền vững nguồn nước quốc tế tại Việt
Nam ...................................................................................................................... 76
3.2.2. Hoàn thiện pháp luật quốc gia về phát triển bền vững nguồn nước quốc tế tại
Việt Nam ............................................................................................................... 81

đàm quốc tế song phương, đa phương và khu vực. Đối với các quốc gia có chung
nguồn nước quốc tế, việc khai thác, sử dụng không hợp lý dẫn đến tình trạng thiếu
nước, cạn kiệt nguồn nước, suy giảm chất lượng nước làm phát sinh mâu thuẫn,
thậm chí gây ra những cuộc chiến tranh ở một số lưu vực sông quốc tế lớn thuộc
Trung Đông và Bắc Phi.
Tại Việt Nam, vấn đề khai thác, sử dụng hợp lý và bảo tồn nguồn nước trong
đó có các nguồn nước quốc tế đang trở nên hết sức cấp bách. Trong những năm gần
đây, tình trạng suy kiệt nguồn nước trong hệ thống sông, hồ chứa khắp toàn quốc
diễn ra rất nghiêm trọng. Trong vòng 10 năm, do biến đổi khí hậu, việc mùa mưa


2

kết thúc sớm hơn nhưng đến muộn hơn thường xuyên gây ra hạn hán, thiếu nước
vào mùa khô và ngập úng, lũ lụt cục bộ vào mùa mưa ở nhiều vùng, miền.
Bên cạnh nguyên nhân biến đổi khí hậu toàn cầu, việc suy giảm các nguồn
nước tại Việt Nam có nguyên nhân quan trọng từ việc sử dụng nước của các quốc
gia có chung nguồn nước với Việt Nam. Là quốc gia nằm ở hạ lưu vực một số con
sông quốc tế và hơn 60% lưu lượng nước phụ thuộc vào dòng chảy từ thượng nguồn
các con sông nằm ngoài biên giới lãnh thổ, lưu lượng và chất lượng các nguồn nước
quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào việc sử dụng các nguồn nước của các quốc gia
thượng nguồn. Thực trạng xây dựng đồng loạt nhiều công trình khai thác, phát triển
thủy năng với quy mô lớn của các quốc gia thượng nguồn là nguyên nhân chính
khiến nguồn nước chảy vào Việt Nam giảm mạnh.
Trong bối cảnh như vậy, các quốc gia trong cộng đồng quốc tế nói chung và
Việt Nam nói riêng cần tìm ra một hướng đi đúng về việc khai thác và sử dụng
nguồn nước quốc tế phục vụ phát triển kinh tế mà không gây ảnh hưởng nghiêm
trọng lâu dài đến môi trường, xã hội. Điều này bắt buộc các quốc gia phải đồng thời
khai thác và phát triển nguồn nước quốc tế một cách hợp lý. Việc quản lý, khai thác,
sử dụng, và bảo tồn, phát triển nguồn nước quốc tế như vậy chính là phát triển bền

đoạn 2014-2020.
Vấn đề phát triển bền vững các nguồn nước quốc tế đang thu hút sự quan
tâm nhất định của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, hiện tại chưa có
các nghiên cứu đầy đủ và cập nhật về vấn đề phát triển bền vững nguồn nước quốc
tế từ góc độ lý luận và thực tiễn liên quan đến Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu đề
tài: "Phát triển bền vững các nguồn nước quốc tế – Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn pháp lý của Việt Nam" không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực
tiễn quan trọng nhằm làm sâu sắc hơn các vấn đề lý luận cũng như phân tích sâu
hơn pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam về phát triển bền vững nguồn nước quốc
tế và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, phát triển bền vững các nguồn nước quốc tế là một
chủ đề được quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà còn tại nhiều nơi trên thế giới cũng
như thu hút sự quan tâm của các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhà xây dựng pháp
luật, chính sách và người làm thực tiễn. Vì vậy, phát triển bền vững các nguồn nước
quốc tế được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, bao gồm: sách tham khảo, báo cáo,
các bài viết đăng trên tạp chí, website, các công trình nghiên cứu.
Về sách, một số sách tham khảo của tác giả Nguyễn Trường Giang nghiên
cứu trực tiếp đến việc sử dụng nguồn nước quốc tế dưới khía cạnh luật pháp như
cuốn Luật về sử dụng các nguồn nước quốc tế và cuốn Cơ sở pháp lý bảo vệ nguồn
nước quốc tế của Việt Nam. Luật về sử dụng các nguồn nước quốc tế viết về sự
hình thành, phát triển, nguồn của Luật về sử dụng các nguồn nước quốc tế; các
quyền và nghĩa vụ cơ bản của các quốc gia ven các nguồn nước quốc tế; vai trò của
các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực sử dụng nước; luật về sử dụng các nguồn nước
quốc tế vào các mục đích phi giao thông trong thế kỷ 21. Cơ sở pháp lý bảo vệ


4

nguồn nước quốc tế của Việt Nam đề cập đến nguồn nước quốc tế của Việt Nam và

hiện phát triển bền vững ở Việt Nam và đưa ra những bài học kinh nghiệm của Việt
Nam (sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ đối với phát triển bền vững, huy động sự


5

tham gia của các nhóm xã hội chính trong thực hiện phát triển bền vững, kết hợp
phát huy nội lực với hợp tác quốc tế).
Báo cáo của Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế Bộ Ngoại giao: “Tổng quan
hệ thống điều ước quốc tế liên quan đến quản trị nguồn nước và những vấn đề đặt ra
trong quá trình hội nhập quốc tế đề cập đến các nội dung chính của Công ước New
York 1997, Công ước Helsinki 1992, so sánh mối quan hệ giữa hai Công ước này
và nội dung chính của Hiệp định Mekong 1995, phân tích, so sánh nội dung của
Hiệp định với hai Công ước nêu trên và đưa ra một số nhận xét, kiến nghị.
Báo cáo tóm tắt năm 2015 của Liên minh quốc tế về bảo tồn thiên nhiên
“Phân tích, so sánh giữa Hiệp định Mekong và Công ước về Nguồn nước của Liên
Hợp Quốc” đề cập đến những điểm phù hợp và khác biệt về pháp lý giữa công ước
và hiệp định. Việc thông qua Công ước về Nguồn nước của Liên Hợp Quốc hỗ trợ
việc quản trị ở khu vực Mekong (gia cố chứ không thay thế Hiệp định Mekong, căn
chỉnh để phù hợp với luật tập tục quốc tế chứ không sửa đổi Hiệp định Mekong,
tăng cường chứ không làm suy yếu Hiệp định Mekong để quản trị, làm bệ đỡ chứ
không cản trở hợp tác trong và ngoài Hiệp định Mekong.
Về các bài viết, bài nghiên cứu:
- Nguyễn Thị Hoàn (2009), Thực trạng, cơ hội và thách thức đối với Việt
Nam trong hợp tác phát triển vùng sông Mê Kông – Hội thảo Đại học Kinh tế Quốc
dân. Tác giả phân tích thực trạng khai thác nguồn nước sông Mekong của các nước
lưu vực sông (Trung Quốc, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, Campuchia Việt Nam) và
đưa ra những khuyến nghị đối với Việt Nam.
- Trần Mạnh Liễu (2012), Phát triển bền vững trong bối cảnh biến động toàn
cầu: nguyên tắc tiếp cận, nội dung và thách thức. Bài viết đăng trên tập chí của

vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về nguồn nước quốc tế và phát triển bền vững
các nguồn nước quốc tế, đặc biệt các vấn đề pháp lý có liên quan đến Việt Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu về một số vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý quốc tế và
quốc gia có liên quan đến Việt Nam về phát triển bền vững các nguồn nước quốc tế.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn được giới hạn trong một số vấn đề lý luận
và thực tiễn pháp lý của Việt Nam về phát triển bền vững các nguồn nước quốc tế
dưới hai góc độ quốc tế và quốc gia, cụ thể:
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về phát triển bền vững các
nguồn nước quốc tế, giới hạn trong các điều ước quốc tế đa phương, song phương,
khu vực, lưu vực, bao gồm: khái niệm nguồn nước quốc tế, phát triển bền vững nói
chung và phát triển bền vững các nguồn nước quốc tế nói riêng cũng như tác động
của quan niệm về phát triển bền vững đối vớí nội hàm pháp luật về sử dụng các
nguồn nước quốc tế.


7

Về thực tiễn pháp lý của Việt Nam, Luận văn giới hạn phân tích thực trạng
pháp luật quốc tế về phát triển các nguồn nước quốc tế có liên quan đến Việt Nam
qua hai điều ước quốc tế toàn cầu và tiểu khu vực mà Việt Nam là thành viên. Ở cấp
độ toàn cầu, đó là Công ước của Liên hợp quốc về Luật sử dụng các nguồn nước
quốc tế vì mục đích phi giao thông 1997 và ở cấp độ tiểu khu vực là Hiệp định Hợp
tác phát triển bền vững lưu vực sông Mekong năm 1995. Luận văn cũng tập trung
phân tích khung pháp luật Việt Nam về phát triển bền vững các nguồn nước quốc tế.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Thông qua việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung và thực tiễn pháp lý
liên quan đến phát triển bền vững nguồn nước quốc tế tại Việt Nam, Luận văn đặt ra

6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Về phương pháp luận: Các nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong luận văn
dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
Về phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu pháp lý truyền thống như thu thập số liệu, thống kê, kế thừa, hệ thống
hóa, phân tích, tổng hợp, so sánh luật, cụ thể:
Phương pháp tổng hợp, thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp được sử dụng
tại chương 1 – Những vấn đề lý luận chung về Phát triển bền vững các nguồn nước
Quốc tế:
Các tài liệu thứ cấp từ thư viện, website của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài
nguyên và Môi trường, Liên hợp quốc, Các hiệp hội bảo vệ tài nguyên thiên nhiên...
được thu thập, tổng hợp, phân tích nhằm làm rõ cơ sở lý luận về phát triển bền vững
các nguồn nước quốc tế (các khái niệm về nguồn nước quốc tế, khái niệm về phát
triển bền vững...).
Phương pháp tổng hợp, phân tích thống kê, so sánh, đối chiếu dữ liệu thứ
cấp được sử dụng tại chương 2 – Pháp luật quốc tế về phát triển bền vững các
nguồn nước quốc tế:
Các tài liệu thứ cấp thu thập được từ trong và ngoài nước được phân tích, đối
chiếu, so sánh, để làm rõ những nội dung cơ bản của pháp luật quốc tế về phát triển
bền vững các nguồn nước quốc tế (nội dung các hiệp định đa phương, khu vực, lưu
vực, song phương) và những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, làm rõ
những mặt tích cực và hạn chế trong một số điều ước quốc tế có liên quan.
Phương pháp luận Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch
sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật,
phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu thứ cấp được sử dụng tại chương 3 –
Pháp luật Việt Nam về phát triển bền vững các nguồn nước quốc tế và giải pháp
hoàn thiện:
Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ
nghĩa Mác – Lênin, luận văn phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam trong

nước Quốc tế.
Chương 2: Pháp luật quốc tế về phát triển bền vững các nguồn nước quốc tế
Chương 3: Pháp luật Việt Nam về phát triển bền vững các nguồn nước quốc
tế và giải pháp hoàn thiện.


10

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC NGUỒN NƯỚC QUỐC TẾ
Quá trình hình thành, phát triển và hệ thống hóa pháp luật về nguồn nước
quốc tế gắn liền với nhu cầu quản lý và sử dụng nguồn nước quốc tế của các quốc
gia. Phát triển bền vững là loại hình phát triển mới, với ba trụ cột kinh tế - xã hội môi trường, với yêu cầu về việc đồng thời đảm bảo phát triển kinh tế, tăng cường an
sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống con người, bảo vệ môi trường tự nhiên.
Để đạt được mục tiêu của Luận văn, Chương 1 tập trung phân tích một số
vấn đề lý luận cơ bản về nguồn nước quốc tế và phát triển bền vững các nguồn nước
quốc tế. Cụ thể, Chương 1 tập trung làm sáng tỏ các khái niệm cũng như nội hàm
các khái niệm nguồn nước quốc tế, phát triển bền vững, phát triển bền vững các
nguồn nước quốc tế cũng như pháp luật về phát triển bền vững các nguồn nước
quốc tế nhằm xây dựng khung lý luận cơ bản để phân tích thực tiễn pháp lý có liên
quan đến Việt Nam tại Chương 2 và Chương 3.
1.1. Nguồn nước quốc tế và pháp luật về nguồn nước quốc tế
1.1.1. Khái niệm nguồn nước quốc tế
Thuật ngữ "sông quốc tế" thường dùng để chỉ nước chảy trong lòng dẫn mỗi
con sông hoặc toàn bộ hệ thống nước mặt và nước ngầm có liên quan. Thuật ngữ
"lưu vực sông quốc tế" thường dùng để chỉ dòng chảy nước mặt, nước ngầm, nước
mưa và nước trong đất trong một lưu vực sông. Trong luật hàng hải, thuật ngữ
"vùng nước quốc tế" là thuật ngữ pháp lý chỉ các vùng biển nằm ngoài quyền tài
phán của bất kỳ quốc gia nào. Khi được sử dụng để mô tả lưu vực sông được chia sẻ

"2. Nguồn nước là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai
thác, sử dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa
nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác.
7. Nguồn nước liên quốc gia là nguồn nước chảy từ lãnh thổ Việt Nam sang
lãnh thổ nước khác hoặc từ lãnh thổ nước khác vào lãnh thổ Việt Nam hoặc nguồn
nước nằm trên đường biên giới giữa Việt Nam và quốc gia láng giềng."
Trong Luật Tài nguyên nước năm 2012, tuy phần Giải thích từ ngữ đã thay
thuật ngữ "Nguồn nước quốc tế" bằng thuật ngữ "Nguồn nước liên quốc gia", song
ở một số điều khoản vẫn xuất hiện các thuật ngữ "nguồn nước quốc tế" và "lưu vực
sông quốc tế" mà không có điều khoản giải thích.
Sự thay đổi tên gọi từ "Nguồn nước quốc tế" thành "Nguồn nước liên quốc
gia" đã thu hẹp phạm vi khái niệm từ quy mô quốc tế xuống quy mô khu vực và quy
mô quốc gia, nội hàm bên trong mô tả trực tiếp các nguồn nước quốc tế có liên quan
và chỉ liên quan đến Việt Nam. Vấn đề đặt ra, nếu sử dụng khái niệm "nguồn nước
liên quốc gia" này khi nghiên cứu thì các nguồn nước quốc tế ở các khu vực khác
trên thế giới chúng ta sẽ gọi là gì, khi chúng không chảy từ lãnh thổ Việt Nam sang
lãnh thổ nước khác, không chảy từ lãnh thổ nước khác vào lãnh thổ Việt Nam,
không nằm trên đường biên giới giữa Việt Nam và quốc gia láng giềng?
Ngoài ra, khái niệm "nguồn nước" mang tính chất liệt kê "các dạng tích tụ
nước", quá cụ thể song không đầy đủ và thiếu tính khoa học, thiếu chính xác cả về


12

hình thức lẫn nội dung. Điều luật chỉ rõ "sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá,
biển, các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác",
như vậy vẫn còn thiếu thác, ghềnh, giếng, sương mù... chưa kể "các dạng tích tụ
khác" bao gồm những gì chưa được luật và các văn bản dưới luật khác giải thích.
Do khái niệm nguồn nước quốc tế theo pháp luật Việt Nam chưa đầy đủ,
trong luận văn này, khái niệm nguồn nước quốc tế theo pháp luật quốc tế sẽ được sử


13

Quy tắc Helsinki năm 1966 đã xem xét lại cơ bản khái niệm nguồn nước
quốc tế. Theo quy tắc này, toàn bộ lưu vực của một sông quốc tế là một thể thống
nhất. Do đó, chỉ có thể sử dụng và phát triển nguồn nước có hiệu quả khi tiến hành
quản lý tổng thể nguồn nước của một lưu vực sông quốc tế, như Hội luật quốc tế
nhận xét lưu vực nguồn nước là một đơn vị thủy văn không thể chia cắt, đòi hỏi
phải xem xét toàn diện nhằm mục đích sử dụng tối đa và phát triển bất kỳ phần nào
của nguồn nước3.
Cách tiếp cận tổng thể theo lưu vực đã được ủng hộ trong các tuyên bố của
các hội nghị quốc tế như Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường con người năm
1972, Hội nghị của Liên hợp quốc về nước tại Mar del Plata năm 19774.
Bên cạnh những ý kiến ủng hộ, khái niệm lưu vực sông quốc tế đã gặp phải
không ít ý kiến chống đối trong các cuộc thảo luận cả ở Ủy ban Luật quốc tế và Ủy
ban Pháp lý của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Trong Báo cáo trình Ủy ban Pháp lý
trong năm 1983, Evensen viết: "Người ta lo ngại "lưu vực sông quốc tế" có thể ám
chỉ một cách tiếp cận quá lý thuyết đối với tất cả các nguồn nước quốc tế bất chấp
các đặc điểm và một loạt các hoàn cảnh cụ thể của mỗi trường hợp. Tương tự như
vậy, người ta lo ngại rằng khái niệm "lưu vực sông quốc tế" quá nhấn mạnh đến các
vùng đất trong lưu vực, và sợ rằng các vùng đất này của lưu vực cũng có thể bị điều
chỉnh bởi luật về các nguồn nước quốc tế"5.
Theo khoản 1 Điều 1 Công ước Helsinki năm 1992 về bảo vệ và sử dụng các
nguồn nước xuyên biên giới và các hồ quốc tế (sau đây được gọi tắt là Công ước
Helsinki1992): "Các nguồn nước xuyên biên giới được hiểu là bất kỳ nguồn nước
mặt hoặc nước ngầm nào có một phần, chảy ngang hoặc nằm trên biên giới giữa hai
hay nhiều quốc gia".
Khái niệm này khá rộng, đối tượng áp dụng trong phạm vi Công ước bao
gồm không chỉ nước mặt, nước ngầm, mà cả các túi nước ngầm (aquifer), và không
nhắc đến phần lãnh thổ lưu vực sông của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, mặc dù Công

được quan điểm của phần lớn các quốc gia có những lợi ích khác nhau và được
công nhận rộng rãi. Tiếp cận theo quan điểm của Công ước, trong luận văn này,
nguồn nước quốc tế được định nghĩa là một hệ thống nước mặt và nước ngầm tạo
thành một thể thống nhất do mối quan hệ vật chất và thường chảy vào một điểm
cuối chung mà các phần của hệ thống này nằm trên lãnh thổ của hai hay nhiều
quốc gia khác nhau.
1.1.1.3. Ý nghĩa, hệ quả pháp lý của việc chấp nhận khái niệm nguồn nước quốc tế
Về ý nghĩa, việc khái niệm trên được công nhận rộng rãi thể hiện một xu
hướng thực tế mà ngày càng nhiều các quốc gia ven nguồn nước chấp nhận:
Thứ nhất, những vấn đề đặt ra cho các quốc gia ven nguồn nước quốc tế chỉ
có thể được giải quyết một cách có hiệu quả với sự hợp tác và than gia của tất cả
các quốc gia liên quan (một quốc gia dù có sức mạnh kinh tế và tài chính đến đâu
cũng không thể tự mình giải quyết có hiệu quả các vấn đề lũ, xói lở, xâm nhập mặn,
ô nhiễm nguồn nước...).
Thứ hai, coi một nguồn nước quốc tế là một thể thống nhất là cách tốt nhất
để hợp lý hóa việc sử dụng nước của nguồn nước quốc tế, thông qua việc vạch ra
một kế hoạch sử dụng và phát triển tổng thể nguồn nước.
Thứ ba, để có thể hợp tác một cách có hiệu quả, cần thiết phải tạo ra một
khung pháp lý cho sự hợp tác trong lưu vực của một nguồn nước quốc tế.
Về hệ quả pháp lý, việc coi một nguồn nước quốc tế là một thể thống nhất
dẫn đến việc hạn chế nhất định đối với chủ quyền của quốc gia trong việc sử dụng
nguồn nước mà họ cùng chia sẻ. Tuy vậy, cần phải hiểu rằng sự hạn chế chủ quyền
nói trên được thực hiện một cách tự nguyện và nhằm mục đích tạo ra sự bình đẳng

7

A. H. Garretson, R.D.Hayton and C.J. Olmstead (1967), Equitable Utilization, The Law
of Drainage Basins, Dobbs Ferry, N.Y., Oceana Publications, p. 15
8
Nguyễn Trường Giang (2010), Luật về sử dụng các nguồn nước quốc tế, NXB Chính trị

của các quốc gia liên quan được tự do sử dụng nước ở các sông, suối đó cho các
mục đích khác nhau; trên cơ sở lập luận rằng, nguồn nước của các sông, suối biên
giới là một tài sản chung của các quốc gia cùng chia sẻ nguồn nước đó. Sau này,
bên cạnh các điều ước về hoạch định biên giới trên sông suối, các quốc gia liên
quan cũng ký kết cả các điều ước về quy chế sử dụng nước của sông, suối biên giới,

9

Nguyễn Trường Giang (2010), Luật về sử dụng các nguồn nước quốc tế, NXB Chính trị
quốc gia, tr 48.


17

trong đó có thể bao gồm những quy định về giao thông, đánh cá, bảo vệ môi trường
nước hoặc về việc xây dựng các công trình trên sông, suối biên giới.
Về việc sử dụng nguồn nước quốc tế vào mục đích giao thông, không thể
không nhắc đến Đạo luật của Đại hội Vienna năm 1815 với các quy định về nguồn
nước quốc tế liên quan đến mục đích giao thông đường thủy; Hiệp định Mannheim
1868 trên sông Rhine giữa Bỉ, Pháp, Đức và Hà Lan... Hiệp định Mannheim 1868 là
một trong những điều ước đa phương quan trọng liên quan đến nước, nó kế thừa các
khuyến nghị của Đại hội Vienna 1815 và Hiệp định Mainz 1831. Những nguyên tắc
quan trọng của Hiệp định này buộc thành viên có nghĩa vụ duy trì giao thông đường
thủy trên sông Rhine và bảo đảm tự do hàng hải dọc theo sông Rhine10.
Những điều ước ban đầu giải quyết những vấn đề giao thông đường thủy
xuyên biên giới trên các con sông quốc tế, tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa
nhanh chóng sau đó và sự gia tăng mạnh mẽ nhu cầu sử dụng tài nguyên nước thúc
đẩy pháp luật phải có sự đổi mới quy định về việc sử dụng nguồn nước quốc tế phi
giao thông, chẳng hạn như các vấn đề kiểm soát lũ lụt, phát triển thủy điện, quản lý
chất lượng nước, phân phối nước, bảo vệ và chống ô nhiễm nguồn nước...

nguồn nước chia sẻ của Cộng đồng Phát triển Nam Phi năm 1995, Quy tắc Berlin về
Tài nguyên nước 2004 (sau đây được gọi là Quy tắc Berlin 2004), Hiệp định về
khung hợp tác châu thổ Sông Nile năm 2009...
Ngoài ra, còn có một số công ước cấp độ toàn cầu ít nhiều có liên quan đến
vấn đề nguồn nước quốc tế như Công ước Ramsar liên quan đến các vùng đầm lầy
năm 1971, Công ước Liên hợp quốc về đa dạng sinh học năm 1992 với mục đích
thúc đẩy sử dụng bền vững đa dạng sinh học trên thế giới, Công ước khung của
Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu năm 1992, Công ước về chống sa mạc hóa tại các
nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng của hạn hán và/hoặc sa mạc hóa, đặc biệt là tại
Châu Phi năm 1994...
Trong thực tiễn điều ước, các hình thức hợp tác mà các quốc gia liên quan
lựa chọn cùng quản lý nguồn nước rất đa dạng. Phần lớn các điều ước song phương
hay khu vực chỉ bao gồm sự hợp tác giữa một số quốc gia lưu vực nguồn nước trên
một phần diện tích địa lý của lưu vực nguồn nước. Càng về sau, xu hướng chấp
nhận hợp tác trên phạm vi toàn lưu vực càng tăng lên vì các quốc gia cho rằng, đó là
biện pháp hiệu quả nhất để kiểm soát ô nhiễm và sử dụng hợp lý nguồn nước. Cách
tiếp cận tổng thể này đã được tiến hành tại một số lưu vực ở Châu phi, hạ lưu lưu
vực sông Mekong, lưu vực sông Rhine và hồ Lớn11.
1.1.3. Các nguyên tắc trong hệ thống pháp luật quốc tế về nguồn nước quốc tế
Thứ nhất, đối với các nguyên tắc chung của các hệ thống luật pháp khác
nhau trên thế giới, theo Điều 38.1.c của Quy chế Tòa án quốc tế Liên hợp quốc, các
nguyên tắc chung của các hệ thống luật pháp trên thế giới được coi là nguồn phụ trợ
của luật pháp quốc tế. Khi không có các điều ước quốc tế ràng buộc hoặc các tập

11

Mc Caffrey (1987), Third Report on International Watercourses, UN Doc. A/CN.4/406
(1987), para 18.



nguồn nước như một tài sản chung của nhân loại.
Thứ ba, ngoài hai loại nguyên tắc trên, còn có các nguyên tắc cơ bản của
pháp luật quốc tế hiện đại, như: Các nguyên tắc tôn trọng bình đẳng, chủ quyền
12

D.A. Caponera, A.A. Ballema (1992), Principles of Water Law and Administration,
Rotterdam/Brookpield, p. 191, 192.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status