1
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI TẬP NHÓM
Đề tài:
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG QUAN HỆ
THƯƠNG MẠI & ĐẦU TƯ QUỐC TẾ VIỆT NAM – LIÊN
MINH CHÂU ÂU EU
Lớp
Khóa
: Cao học Kinh tế quốc tế
: CH25
GV hướng dẫn
Nhóm thực hiện
: TS. Nguyễn Thị Thúy Hồng
: Lê Thị Hồng Hạnh- CH 250233
Ngô Thái Hà – CH250232
Nguyễn Thanh Thủy – CH250244
Hà Nội, Tháng 11/2017
2
MỤC LỤC
các quốc gia này đều nằm trong khu vực Tây và Bắc Âu nên có những đặc điểm
tương đồng về kinh tế và văn hoá. Trình độ phát triển kinh tế xã hội của các thành
viên là khá đồng đều cho nên người dân thuộc khối EU có đặc điểm chung về sở
thích, thói quen tiêu dùng. Hàng hoá được nhập khẩu vào thị trường này phải đảm
bảo đầy đủ về chất lượng, nguồn gốc, mẫu mã vệ sinh an toàn cao. Người tiêu dùng
Châu Âu thường có sở thích và thói quen sử dụng các sản phẩm có nhẫn hiệu nổi
tiếng thế giới vì họ cho rằng những nhãn hiệu nổi tiếng này gắn với chất lượng sảm
phẩm và có uy tín lâu đời cho nên dùng những sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng
sẽ rất an toàn về chất lượng và an tâm cho người sử dụng.
4
Các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng của EU là một đặc điểm nổi bật trên thị
trường EU là quyền lợi của người tiêu dùng rất được bảo vệ khác hẳn với thị trường
các nước đang phát triển. Để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng EU tiến hành
kiểm tra các sản phẩm ngay từ nơi sản xuất và có hệ thống báo động giữa các thành
viên, đồng thời bãi bỏ việc kiểm tra các sản phẩm ở biên giới. Hiện nay EU có 3 tổ
chức định chuẩn: Uỷ ban Châu Âu về định chuẩn, Uỷ ban Châu Âu về định chuẩn
điện tử, Viện định chuẩn viễn thông Châu Âu. Tất cả các sản phẩm chỉ có thể bán
được ở thị trường này với điều kiện phải đảm bảo tiêu chuẩn an toàn chung của EU,
các luật và định chuẩn quốc gia được sử dụng chủ yếu để cấm buôn bán sản phẩm
được sản xuất ra từ các nước có điều kiện chưa đạt mức an toàn ngang với tiêu
chuẩn EU. Để đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng EU tích cục tham gia chống nạn
hàng giả bằng cách không cho nhập khẩu những sản phẩm đánh cắp bản quyền,
ngoài ra EU còn đưa ra các chỉ thị kiểm soát từng nhóm hàng cụ thể về chất lượng
và an toàn đối với người tiêu dùng.
Kênh phân phối:
Hình thức tổ chức phổ biến nhất của các kênh phân phối trên thị trường EU là
theo tập đoàn và không theo tập đoàn.
chuyển tiền bằng điện tín, công nhận lẫn nhau các văn bằng
Tự do lưu chuyển vốn: Thương mại hàng hoá dịch vụ sẽ không thể duy trì được nếu
vốn không được lưu chuyển tự do và được chuyển tới nơi nó được sử dụng một
cách có hiệu quả kinh tế nhất.
Chính sách thương mại nội khối của EU thường tạo cho các thành viên sự tự
do như ở trong quốc gia mình. Điều này tạo cho Việt Nam thuận lợi trong việc tìm
hiểu các đối tác mới của EU thông qua các đối tác truyền thống, ít phải điều tra
ngay từ đầu, giảm chi phí cho việc tìm kiếm thị trường mới. Ngoài ra nếu có được
quan hệ tốt với thị trường truyền thống, sẽ là điều kiện thuận lợi để thâm nhập vào
thị trường mới dẽ dàng hơn.
Chính sách ngoại thương:
Chính sách ngoại thương được xây dựng trên nguyên tắc: Không phân biệt đối
xử, minh bạch, có đi có lại và cạnh tranh công bằng. Các biện pháp được áp dụng
phổ biến trong chính sách này là thuế quan, hạn chế về số lượng, hàng rào kỹ thuật,
chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu.
1.1.3. Tình hình kim ngạch xuất nhập khẩu của thị trường EU
Liên minh EU, Hoa Kỳ và Trung Quốc là 3 nền kinh tế có kim ngạch XNK
lớn nhất thế giới. Theo số liệu của Eurostat Statistics Explained, năm 2016 tổng kim
ngạch XNK của EU đạt 3455 tỷ EUR (không bao gồm kim ngạch nội khối EU), cao
hơn Trung Quốc 109 tỷ EUR, và 125 tỷ EUR so với Hoa Kỳ.
6
Nguồn: ec.europa.eu/eurostat
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của EU chiếm 15.6% toàn cầu, đứng thứ 2 sau
Trung Quốc (17%) theo thống kê năm 2014. Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của
EU chiếm 14.8% toàn cầu đứng thứ 2 sau thị trường Hoa Kỳ (17.6%) năm 2016.
Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – EU giai đoạn 2010-2014
Đơn vị tính: Eur, Kg
Năm
2010
2011
2012
2013
2014
VN Giá trị
XK
sang Khối
EU lượng
9,625,126,460 12,993,018,859 18,621,828,220 21,253,393,106 22,171,272,549
2,827,205,000
3,020,535,000
3,084,139,000
3,062,751,000
vượt 41 tỷ USD trong năm 2015. Thời gian qua, quan hệ thương mại Việt Nam - EU
đã phát triển nhanh chóng và Việt Nam luôn ở vị trí xuất siêu sang thị trường này.
Theo số liệu của Bộ Công Thương, năm 2016 Việt Nam xuất khẩu sang EU trên 34
tỷ USD (tăng 12 lần so với giá trị xuất khẩu sang EU năm 2000), nhập khẩu 11 tỷ
USD.
Trong 8 tháng đầu năm 2017, EU trở thành một trong những thị trường xuất
khẩu lớn nhất, chỉ đứng sau Hoa Kỳ với giá trị đạt 24,7 tỷ USD, tăng 12,7%so với
cùng kỳ năm trước (Hoa Kỳ đạt 27,2 tỷ USD, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước);
tiếp đó là Trung Quốc đạt 18,3 tỷ USD, tăng 41,8%; ASEAN đạt 14,1 tỷ USD, tăng
26,6%...
Việt Nam hiện đang tập trung xuất khẩu vào một số thị trường trọng tâm như
Đức, Pháp, Anh, Hà Lan, Italy. Đây là 5 thị trường lớn nhất của Việt Nam tại EU, cả
về xuất khẩu và nhập khẩu, chiếm khoảng 68% tổng thương mại với các nước EU.
Trong quý I/2017, EU là thị trường XK lớn thứ 2 của Việt Nam sau Hoa Kỳ.
9
Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong quý I năm 2017
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Ta có thể thấy được quan hệ thương mại Việt nam - EU đang có tiềm năng lớn.
Đặc biệt, kim ngạch thương mại Việt Nam - EU đã tăng gần 11 lần, từ mức 4,1 tỷ
USD năm 2000 lên trên 45 tỷ USD năm 2016.
Riêng 5 tháng đầu năm 2017, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu Việt Nam
sang EU đạt 19,6 tỷ USD, tăng trên 13,6% so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó xuất
khẩu từ Việt Nam là 14,8 tỷ USD, tăng 11,7% và nhập khẩu vào Việt Nam đạt trên
4,8 tỷ USD, tăng 20,6%.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường EU vẫn là các
sản phẩm truyền thống có thế mạnh như: hàng dệt may, giày dép các loại, cà phê,
châu Âu và cũng là FTA đầu tiên của Việt Nam đối với các quốc gia thuộc EU.
Việt Nam và EU đã chính thức tuyên bố khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA vào
ngày 26 tháng 6 năm 2012. Sau gần 3 năm đàm phán, với 14 phiên chính thức và
nhiều phiên giữa kỳ ở cấp Bộ trưởng, cấp Trưởng đoàn và các nhóm kỹ thuật,ngày 4
tháng 8 năm 2015, Việt Nam và EU đã công bố kết thúc cơ bản đàm phán Hiệp định
Thương mại Tự do giữa Việt Nam và EU (Hiệp định EVFTA).
EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi ích cho cả
Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO). Các nội dung chính của Hiệp định gồm: Thương mại hàng hóa, Quy
tắc xuất xứ, Hải quan và thuận lợi hóa thương mại, Các biện pháp vệ sinh an toàn
thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS), Hàng rào kỹ thuật trong thương mại
(TBT), Thương mại dịch vụ, Đầu tư, Phòng vệ thương mại, Cạnh tranh, Doanh
nghiệp nhà nước, Mua sắm của Chính phủ, Sở hữu trí tuệ (gồm cả chỉ dẫn địa lý),
Phát triển bền vững, Hợp tác và xây dựng năng lực, Các vấn đề pháp lý.
Bên cạnh đó, Hiệp định EVFTA cũng đã đặt ra quy định về vấn đề mua sắm
công, với những cam kết bắt buộc các bên tham gia phải thực thi. Mua sắm công, tất
cả các loại mua sắm công hoặc do cơ quan Nhà nước mua sắm đều phải thông qua
đấu thầu công khai. Ví dụ, khi nhà nước muốn mua trang thiết bị y tế thì phải tổ
chức đấu thầu công khai và các doanh nghiệp của EU được quyền tham gia đấu thầu
mà không bị giới hạn hơn so với các doanh nghiệp khác. Ngoài ra, các yêu cầu cơ
chếgiải quyết tranh chấp và khiếu kiện sẽ rất nghiêm ngặt. Trong tất cả các vòng
đàm phán, phía EU đòi hỏi khá cao về mở cửa thị trường phi hàng hóa, đặc biệt thị
trường thương mại dịch vụ, thị trường mua sắm Chính phủ, trong khi lợi ích của
Việt Nam trong Hiệp định này lại chủ yếu nằm ở khía cạnh thương mại hàng hóa.
Nếu như, các Hiệp định FTA Việt Nam ký với ASEAN có cam kết cắt giảm 90%
dòng thuế trong lộ trình 10 năm, thì với Hiệp định EVFTA tiêu chuẩn tối thiểu 90/7
tức là loại bỏ 90% dòng thuế trong vòng 7 năm và hai bên sẵn sàng đẩy nhanh tiến
độ hơn mức cam kết này. EU cũng tuyên bố sẵn sàng mở cửa thị trường của mình
nhanh hơn để tạo điều kiện tốt cho Việt Nam thâm nhập vào thị trường EU.
12
vali, sản phẩm nhựa, sản phẩm gốm sứ thủy tinh: về cơ bản sẽ được xóa bỏ thuế
quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực.
Đối với xuất khẩu của EU, cam kết của Việt Nam đối với các mặt hàng chính
là:
-
-
Ô tô, xe máy: Việt Nam cam kết đưa thuế nhập khẩu về 0% sau từ 9 tới 10 năm;
riêng xe máy có dung tích xy-lanh trên 150 cm3 có lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu
là 7 năm;
Rượu vang, rượu mạnh, bia, thịt lợn và thịt gà: Việt Nam đồng ý xóa bỏ thuế nhập
khẩu trong thời gian tối đa là 10 năm.
Về thuế xuất khẩu, Việt Nam cam kết xóa bỏ phần lớn thuế xuất khẩu sau lộ
trình nhất định; chỉ bảo lưu thuế xuất khẩu đối với một số sản phẩm quan trọng,
trong đó có dầu thô và than đá.
Các nội dung khác liên quan tới thương mại hàng hóa: Việt Nam và EU cũng
thống nhất các nội dung liên quan tới thủ tục hải quan, SPS, TBT, phòng vệ thương
13
mại, v.v, tạo khuôn khổ pháp lý để hai bên hợp tác, tạo thuận lợi cho xuất khẩu,
nhập khẩu của các doanh nghiệp.
Thương mại dịch vụ và đầu tư
Cam kết của Việt Nam và EU về thương mại dịch vụ đầu tư nhằm tạo ra một
môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp hai bên.
Cam kết của Việt Nam có đi xa hơn cam kết trong WTO. Cam kết của EU cao hơn
trong cam kết trong WTO và tương đương với mức cam kết cao nhất của EU trong
pháp lý để hai bên tăng cường hợp tác, thúc đẩy sự phát triển của thương mại và
đầu tư giữa hai Bên.
2.2. Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi kí kết Hiệp định Thương mại tự
do Việt Nam-EU (EVFTA)
Với việc Việt Nam tích cực tham gia đàm phán và ký kết các hiệp định FTA đã
mở ra nhiều cơ hội cho cho nền kinh tế nước nhà. Đàm phán Hiệp định Thương mại
Việt Nam – EU, là một trong những đàm phán thương mại tự do quan trọng nhất
của Việt Nam hiện nay, đang đi vào những giai đoạn cuối cùng. Với tính chất là một
FTA thế hệ mới, có phạm vi rộng và mức độ tự do hóa sâu, khi đi vào thực hiện,
EVFTA dự kiến sẽ mang lại những tác động quan trọng đối với hoạt động kinh
doanh thương mại giữa Việt Nam và EU. Tuy nhiên đi liền với đó là các lợi ích suy
đoán từ một hiệp định sẽ không đương nhiên trở thành hiện thực, cũng như vậy, các
quyền và nghĩa vụ theo các cam kết không tự nhiên phát huy tác dụng. Cần những
nỗ lực lớn để thực thi các cam kết, hiện thực hóa các lợi ích và xử lý thách thức liên
quan. Như vậy nước ta đang đứng trước không ít thách thức đòi hỏi nền kinh tế phải
có nỗ lực vượt bậc để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.
2.2.1. Cơ hội từ hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)
Về xuất khẩu, hiệp định này sẽ xóa bỏ gần như toàn bộ thuế quan trong thương mại
hàng hóa giữa hai nền kinh tế, lên tới trên 99% thuế quan theo EVFTA. Với rất ít số
dòng thuế còn lại, hai bên dành cho nhau hạn ngạch thuế quan hoặc cắt giảm thuế
quan một phần thì các doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội tăng khả năng cạnh tranh về
giá của hàng hóa khi nhập khẩu vào thị trường EU. Nhờ đó sẽ mở rộng thị trường
cho hàng hóa xuất khẩu, đặc biệt là những mặt hàng có thế mạnh của hai bên như:
dệt may, giày dép, nông thủy sản, đồ gỗ của Việt Nam và máy móc, thiết bị, ô tô xe
máy, một số loại nông sản của EU… Đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi
0-13,5%
Thủy sản
0% sau 7 năm
0-26%
0-22,5%
Cà phê chế biến
0% sau 7 năm
0-12,5%
-
-
-
0% nhưng bị áp
hạn ngạch
Gạo
- Gạo hương:
30.000 tấn
GSP: thuế ưu đãi phổ cập
Về nhập khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ được lợi từ nguồn hàng hóa,
-
nguyên liệu nhập khẩu với chất lượng tốt và ổn định với mức giá hợp lý hơn từ EU.
Đặc biệt, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội được tiếp cận với nguồn máy móc, thiết bị,
công nghệ/kỹ thuật cao từ các nước EU, qua đó để nâng cao năng suất và cải thiện
chất lượng sản phẩm của mình. Đồng thời, hàng hóa của EU xuất khẩu sang Việt
Nam sẽ tăng lên, tạo sự cạnh tranh trong thị trường nội địa. Điều này có lợi cho
16
người tiêu dùng Việt Nam khi được sử dụng các sản phẩm có chất lượng tốt với giá
cả cạnh tranh.
Về Đầu tư: Môi trường đầu tư mở hơn và thuận lợi hơn, triển vọng xuất khẩu hấp
dẫn hơn sẽ thu hút đầu tư FDI từ EU vào Việt Nam nhiều hơn. Trong lĩnh vực đầu
tư, các cam kết nhằm đảm bảo một môi trường đầu tư, kinh doanh cởi mở, thông
thoáng hơn trong Hiệp định EVFTA sẽ giúp thúc đẩy luồng vốn đầu tư chất lượng
cao của EU và cả các đối tác khác vào Việt Nam. Không chỉ đầu tư của EU vào các
lĩnh sản xuất hàng công nghệ cao tăng lên, EVFTA cũng sẽ thúc đẩy dòng vốn FDI
của EU vào những lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao, mà nền kinh tế Việt Nam đang
rất cần, như: dịch vụ tài chính - ngân hàng - bảo hiểm, năng lượng, viễn thông, cảng
biển và vận tải biển nhờ giảm bớt các điều kiện đối với các nhà cung cấp dịch vụ
của EU. Với quy mô và tiềm năng phát triển đầu tư của EU, nước ta có cơ hội trở
thành địa bàn trung chuyển, kết nối cho hoạt động thương mại và đầu tư của EU
trong khu vực. Điều này sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển
đổi mô hình tăng trưởng theo hướng tích cực của Việt Nam. Tự do hóa thương mại
sẽ giúp tăng nguồn thu nhập quốc gia (nguồn thu từ hàng hóa nhập khẩu lớn hơn
nguồn chi từ sự giảm thuế), cán cân thương mại được cân bằng (tăng trưởng đương
tốt. Các công ty của Việt Nam thường thiếu bí quyết, công nghệ và vốn - những yếu
tố rất sẵn có ở các công ty của EU với tiềm lực quốc tế lớn mạnh. Mặt khác, chi phí
lao động của EU khá cao nên không cạnh tranh được trên trường quốc tế. Trong khi
đó, cơ cấu chi phí của các công ty Việt Nam khá hấp dẫn, các lợi thế của Việt Nam
khá đa dạng, chất lượng lao động cũng như việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tốt hơn
so với những nước khác trong khu vực. Do vậy, hợp tác giữa EU và Việt Nam là
một quan hệ mang lại nhiều lợi ích, giúp các công ty của Việt Nam tiếp cận tri thức,
phương thức sản xuất hiện đại của phương Tây và tăng khả năng cạnh tranh trên thị
trường.
2.2.2. Thách thức từ hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA)
Với EVFTA, cơ hội mở ra rất lớn nhưng các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ
gặp phải không ít thách thức. Được thống nhất là một FTA thế hệ mới, EVFTA chắc
chắn sẽ có mức độ cam kết mở cửa sâu, và với diện các vấn đề được điều chỉnh đa
dạng, bao trùm nhiều lĩnh vực cả thương mại và phi thương mại, cả truyền thống
lẫn hiện đại. Việc thực thi các cam kết của EVFTA tại Việt Nam, vì vậy, sẽ trải rộng
trên nhiều khía cạnh, liên quan tới nhiều lĩnh vực, đòi hỏi các biện pháp khác nhau,
với số lượng các chủ thể liên quan lớn.
Trong bối cảnh đó, việc thiết lập và duy trì một (các) thiết chế nhằm bảo đảm
thực thi đồng bộ và hiệu quả các cam kết tương lai trong EVFTA đứng trước những
thách thức lớn, trong đó đặc biệt là:
Thách thức trong thiết lập và vận hành hiệu quả các thiết chế theo yêu cầu
“cứng” của EVFTA: Trong các FTA giữa EU và đối tác ký thời gian gần đây, có
thể thấy có một số thiết chế phải thiết lập trên thực tế đã được quy định cứng (về
mô hình, chức năng, lộ trình..) ngay trong nội dung cam kết FTA mà EU cũng như
các đối tác liên quan bắt buộc phải triển khai trong quá trình thực thi cam kết. Các
thiết chế này có thể là thiết chế chung (do hai Bên thống nhất thành lập và thực
hiện), cũng có thể là thiết chế riêng mà mỗi Bên tự triển khai theo yêu cầu/mô hình
như trong cam kết.
nội địa, cũng sẽ đối mặt với nguy cơ buộc phải thu hẹp sản xuất, hoặc phá sản.
Trên thực tế, do những hạn chế về cả về năng lực và nguồn lực, Việt Nam
hầu như chưa ban hành được thêm các hàng rào TBT, SPS nào, trong khi đó việc
thực thi tại biên giới nhằm kiểm soát hàng hóa nhập khẩu với các hàng rào TBT,
SPS tối thiểu đã có hầu như không hiệu quả. Hàng hóa buôn lậu, có chât lượng kém
vẫn nhập khẩu tràn lan, cạnh tranh không lành mạnh với hàng hóa nội địa cũng như
gây ảnh hưởng đáng kể tới sản xuất, tiêu dùng trong nước.Vì vậy, dù có được hưởng
lợi về thuế quan thì hàng hóa của Việt Nam cũng phải hoàn thiện rất nhiều về chất
lượng để có thể vượt qua được các rào cản này.
Nguy cơ về các biện pháp phòng vệ thương mại: Thông thường khi rào cản thuế
quan không còn là công cụ hữu hiệu để bảo vệ nữa, doanh nghiệp ở thị trường nhập
khẩu có xu hướng sử dụng nhiều hơn các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ
19
cấp hay tự vệ để bảo vệ ngành sản xuất nội địa, và sử dụng các công cụ phòng vệ
thương mại, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì thế, EVFTA có thể đặt ra cho
Việt Nam những yêu cầu chặt chẽ hơn trong vấn đề bán phá giá, trợ cấp và sử dụng
các công cụ phòng vệ thương mại.Theo quy định của WTO, để thực hiện được
quyền yêu cầu sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại (chống bán phá giá,
chống trợ cấp, tự vệ) vốn rất có ý nghĩa trong việc bảo vệ các ngành sản xuất nội
địa trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc tăng trưởng thương mại đột
biến gây thiệt hại, các ngành sản xuất nội địa phải có thông tin về diễn tiến nhập
khẩu, khối lượng/số lượng, kim ngạch nhập khẩu, giá nhập khẩu… của hàng hóa
liên quan. Trong khi đó, ở Việt Nam, những thông tin này lại là thông tin mà chỉ cơ
quan hải quan có và không cho phép công chúng tiếp cận. Hệ quả là sau 8 năm gia
nhập WTO, sau 10 năm kể từ ngày quyền sử dụng các công cụ phòng vệ thương
mại được ghi nhận trong pháp luật nội địa, ở Việt Nam mới chỉ có 03 vụ điều tra
phòng vệ thương mại.
bộ pháp luật, kiểm soát tiến độ, hiệu quả điều chỉnh pháp luật theo cam kết …Cách
thức vận hành của thiết chế này cũng cần được thiết kế phù hợp để đảm bảo khả
năng chỉ đạo thống nhất việc thực thi trên thực tế.
Thách thức trong tư vấn, hướng dẫn, giải quyết vướng mắc trong quá trình
thực thi các cam kết: Trong quá trình thực thi các cam kết, luôn xảy ra các tình
huống liên quan tới việc giải thích cam kết, áp dụng cam kết, gắn trực tiếp với
quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân liên quan. Với một nước đang phát triển,
mới hội nhập và chưa có nhiều kinh nghiệm trong thực thi các cam kết như Việt
Nam, hiện tượng này càng phổ biến hơn. Mặc dù vậy, ở Việt Nam chưa có bất kỳ
một đầu mối hay thiết chế nào chính thức thực hiện việc tư vấn, hướng dẫn, giải
quyết vướng mắc cho các tổ chức, cá nhân (phần lớn là doanh nghiệp) trong những
trường hợp như vậy.
Tham gia các FTA song phương hay FTA khu vực, trên thực tế, đều nhằm mục
tiêu cuối cùng là tăng cường hội nhập kinh tế, mang lại lợi ích thiết thực nhất cho
các quốc gia, doanh nghiệp và các bên liên quan. Từ đó, mục tiêu này đòi hỏi Việt
Nam phải cải cách quản lý ở cấp độ quốc gia nhằm tăng vị thế đàm phán. Cải cách
quản lý được nhận định là đóng vai trò quan trọng trong quá trình cải cách cơ cấu
kinh tế, nhân tố cần thiết để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế dài hạn nhằm thu lợi ích kinh
tế toàn diện thông qua trao đổi thương mại và đầu tư với EU.
Cuối cùng, việc ký kết FTA Việt Nam - EU cũng tạo ra nguy cơ các doanh
nghiệp Việt Nam bị thôn tính, cũng như tăng nguy cơ khiến Việt Nam rơi vào “bẫy
tự do hóa thương mại” nếu kinh tế trong nước không có những cải cách sâu rộng.
21
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ĐỂ VIỆT NAM TẬN DỤNG TỐT CƠ
HỘI KHI KÍ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VỚI EU (EVFTA)
Trên cơ sở phân tích những cơ hội và thách thức đến từ EVFTA, để có thể tận
22
Thứ ba, Việt Nam cần phải định hướng xây dựng ngành kinh tế mũi nhọn, tiếp
tục tập trung vào các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường EU
như các mặt hàng nông sản, thủy sản,… nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng các
tiêu chuẩn về chất lượng của thị trường EU, từ đó nhằm tận dụng cơ hội của FTA
với EU.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế quản lý và giám sát các hoạt động xuất nhập khẩu
hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trsi tuệ mà Việt Nam đã cam kết
trong hiệp định.
Thứ năm, Chính phủ cần hỗ trợ DN bằng các giải pháp sau: Xây dựng hệ
thống kế toán quản trị cho các DN Việt Nam và khuyến khích các DN áp dụng; tăng
cường năng lực cạnh tranh, tạo điều kiện hỗ trợ hợp lý nhằm gia tăng vai trò của các
DN; Bồi dưỡng khả năng kinh doanh quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc
tế của các DN, đặc biệt là các DNVVN Việt Nam.
3.2.
Về phía doanh nghiệp
Như đã nói ở trên, mục tiêu và danh mục đàm phán Hiệp định EVFTA không
dừng lại ở các lĩnh vực truyền thống, như: thương mại hàng hóa, dịch vụ…, mà còn
mở rộng thêm nhiều lĩnh vực khác, gồm: sở hữu trí tuệ, mua sắm công, phát triển
bền vững… Do vậy, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động cập nhật
thông tin về các cơ hội thị trường mà EVFTA mang lại, đặc biệt là thông tin về ưu
đãi thuế liên quan đến hàm lượng giá trị gia tăng nội địa của các hàng hóa, dịch vụ
và các hàng rào kỹ thuật khác. Từ đó, đóng góp ý kiến trong quá trình đàm phán
Hiệp định EVFTA để đảm bảo được lợi ích chính đáng.
Điều quan trọng không kém nữa là, doanh nghiệp phải nỗ lực đổi mới thiết bị