Táo bón và thuốc chữa
To | Trung | Nhỏ
[ 2008/04/29 12:31 | by admin ]
Có người gọi táo bón là căn bệnh của thời đại vì nó khá phổ biến hiện nay và gặp ở mọi lứa tuổi.
Ở Mỹ, qua một cuộc điều tra thấy ít nhất có khoảng 4,5 triệu người Mỹ bị ảnh hưởng dài ngày của
bệnh này, trong đó hơn 2 triệu người đi khám bác sĩ và hàng năm chi phí táo bón hết 750 triệu đô
la tiền thuốc.
Ở ta, có tài liệu nên gần 30% dân số mắc bệnh táo bón. Có người nói xã hội càng công nghiệp hóa,
dùng nhiều loại thức ăn ăn liền, làm việc trí óc là chính, ít vận động nên số người bị táo bón càng
nhiều.
Thế nào được gọi là táo bón? Đây là hiện tượng cơ thể thải quá chậm trễ các chất cặn bã qua
đường tiêu hóa, với thời gian 3 ngày/1lần, lượng phân dưới 35g/ngày phân khô cứng với hàm
lượng nước không đủ 78%.
Nguyên nhân gây táo bón: Có ý kiến phân thành 2 loại
Nguyên nhân thực thể
Các nguyên nhân gây táo bón ngoài ống tiêu hóa: Do các bệnh nội tiết, một số bệnh lý thần kinh
(Parkinson), tăng canxi máu, các bệnh toàn thân (suy giáp trạng), do dùng một số thuốc có thể gây
triệu chứng táo bón (thuốc ngủ, thuốc hạ huyết áp, thuốc chống trầm cảm, thuốc chống dị ứng,
thuốc chứa nhiều tanin, thuốc ngừa opium, thuốc kháng acid có muối nhôm và Calci).
Táo bón có thể xảy ra ở các đối tượng: Phụ nữ có thai (do sự biến đổi hoóc môn làm ảnh hưởng cơ
trơn, khiến cho nhu động ruột giảm và do thai phát triển làm cho sự lưu thông của ruột bị hạn chế),
người có bệnh nằm lâu một chỗ.
Các nguyên nhân gây táo bón tại ống tiêu hóa: Gồm các bệnh lý ở đường tiêu hóa như rối loạn co
thắt đại tràng, rối loạn chức năng đại trực tràng, bệnh đại tràng chức năng, rối loạn chức năng vận
chuyển của ruột (còn gọi là hội chứng ruột dễ kích thích).
Nguyên nhân chức năng
Sai lầm trong chế độ ăn uống: Ăn ít chất bã (chất xơ), ăn đồ cay nóng, ít uống nước hoặc chỉ uống
trà đặc, cà phê.
Mất phản xạ đi tiêu: Thói quen nhịn đi đại tiện do bận, do sợ nhà vệ sinh công (trường học, cơ
quan) không sạch... dẫn tới phân di chuyển vào trực tràng sẽ tích tụ lại ở đó thành một khối, cơ thể
không còn thói quen báo hiệu chuyện cần đi tiêu.
vị nóng, uống trà hoặc cà phê đặc.
Có chế độ tập thể dục thường xuyên, cường độ tùy theo tuổi và tình trạng sức khỏe, luyện tập thói
quen đi đại tiện vào giờ nhất định trong ngày. Hạn chế stress...
Dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Chỉ nên dùng thuốc trong thời gian ngắn vào giai
đoạn bắt đầu điều trị. Giai đoạn sau là tập luyện và có chế độ ăn uống hợp lý vì tất cả thuốc điều trị
táo bón đều có ảnh hưởng không tốt, nếu dùng kéo dài, dễ gây lệ thuộc thuốc.
Các thuốc dùng trong chữa táo bón
Đó là các loại thuốc nhuận tràng tác dụng đẩy mạnh sự đào thải phân, ngoài việc chữa táo bón, còn
dùng để tháo hết phân khỏi ruột, trước khi làm một số xét nghiệm như nội soi, X quang hay trước
khi phẫu thuật
Có thể phân loại thuốc nhuận tràng theo cơ chế tác dụng, tất nhiên có thể có sự chồng chéo giữa
loại này với loại kia và trong một số trường hợp cơ chế tác dụng chính xác còn chưa rõ. Có một số
thuốc nhuận tràng cổ điển đã thôi không dùng do tác dụng phụ của chúng như Phtalein phenol...
Các thuốc nhuận tràng tạo khối phân lớn, gây ra sự ứ nước và làm tăng khối lượng phân dẫn đến
tăng nhu động ruột. Loại này thường có tác dụng sau 1-3 ngày dùng thuốc, có hiệu quả khi có
những cục phân nhỏ và rắn. Với người có tuổi, loại này không phải thuốc ưu tiên chọn trước vì có
thể gây đi ngoài khó cầm.
Điển hình loại này: Methyl cellulose - Dẫn chất este methyl hóa của cellulose, thường có các loại:
20, 450, 2.500 và 4.500 (tùy theo độ sánh). Loại có độ sánh trung bình cao, dùng để nhuận tràng,
dưới dạng thuốc hạt hay viên nén theo liều 1-4g, chia làm vài lần trong ngày.
Thuốc nhuận tràng kích thích: Do tác dụng kích thích trực tiếp các đầu dây thần kinh ở niêm mạc
ruột kết, làm tăng khả năng di động phân ở ruột, các thuốc này có tác dụng nhanh hơn tạo khối
phân lớn, thường hiệu quả thể hiện sau 6-12 giờ.
Loại này nên dùng ngắn ngày và ở liều tối thiểu đủ để có hiệu quả nhằm tránh tác dụng bất lợi. Đại
tiện có các chất chứa anthraquinon như cây keo, các dẫn chất của Diphenylmethan như Bisacodul,
Natri Picosulfat, Bisacodyl (biệt dược Ducolax, Ulcolax...) viên nén hoặc bọc đường 5 và 10mg,
thuốc đạn 10mg.
Liều dùng: Người lớn uống 5-15mg vào buổi tối trước khi khi đi ngủ hoặc nửa giờ trước bữa sáng
hoặc nạp vào hậu môn buổi tối 1-2 viên thuốc đạn.
Chống chỉ định: Nghi tắc ruột, đau bụng không rõ nguyên nhân, đau bụng cấp, viêm trực tràng
uống hay thụt trực tràng, với liều dùng là 15-30ml.
Có ý kiến khuyên không dùng loại này có thể gây ra những u parafin ở màng treo của ruột, có thể
rỉ ra qua hậu môn gây viêm, ngứa hậu môn. Thuốc có thể gây viêm phổi nếu ợ lên và hít phải. Do
đó loại này tránh dùng cho trẻ em dưới 6 tuổi, người cao tuổi, ốm yếu, và không được dùng ngay
trước khi nằm ngủ.
Các thuốc làm tăng nhu động ruột: Cơ trơn của dạ dày, ruột có nhu động và nhu động này được
điều khiển bởi hệ thần kinh tự động, bởi các phản xạ tại chỗ và bởi các nội tiết ở dạ dày ruột. Các
nhu động này đẩy chất chứa từ dạ dày tới hậu môn. Các thuốc này có tác dụng trên một số điểm và
làm tăng nhu động ruột đó. Gồm các thuốc Metoclopramid, domperidon, cisaprid. Cisaprid (tên
biệt dược: Ciza, Motilax 10...) viên nén 5mg. Người lớn ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 1 viên. Trẻ em
3-15 tuổi, ngày uống 1-2 lần, mỗi lần1/4-1/2 viên.
Chống chỉ định: phụ nữ có thai, trẻ em dưới 36 tháng, chảy máu dạ dày, tắc ruột, loạn vận động
đường tiêu hóa khi dùng thuốc an thần kinh.
Tác dụng như: Co thắt bụng thoáng qua, sôi bụng, phân lỏng, nhức đầu nhẹ, hãn hữu bị co giật.
Thuốc chữa táo bón, ngoài uống còn có thể dùng qua đường hậu môn dưới dạng thuốc đạn (nạp
vào hậu môn) hoặc dung dịch thụt, thích hợp cho những trường hợp cần giải quyết nhanh việc táo
bón. Thuốc đạn chứa glycerol dễ kích thích sự tháo phân và sự tháo phân này thường xảy ra sau
15-30 phút. Tác dụng của thuốc có thể do cơ chế thuốc thẩm thấu nhưng có thể còn có tác dụng
kích thích làm trơn, làm mềm phân bổ sung thêm.
Dung dịch thụt thường có chứa các thuốc nhuận tràng thẩm thấu để giữ lâu trong bụng hơn là các
thuốc đạn. Phân bị nén chặt có thể điều trị bằng cách này.
Có dạng như thuốc Microlax, gồm có ống thuốc (chứa Natri lauryl sulfoacetat 70% + sorbitol
(dung dịch 70%) + Natri citrat + canuyn 5ml. Chỉ dùng cho người lớn.
Cho canuyn vào trực tràng và bóp ống thuốc vào cho hết. Cần nhớ bóp giữ ống khi rút canuyn ra
để thuốc không bị hút trở lại. Dùng 1 ống/ngày. Bơm 5-10 phút trước khi muốn đại tiện. Có loại
Microlax bé dùng cho trẻ nhỏ. Có loại Microlax, gel thụt nhuận tràng dùng cho cả trẻ em và người
lớn.
Riêng phụ nữ có thai khi bị táo bón chỉ dùng loại Forlax (macrogol 4.000). Thuốc này không được
cơ thể hấp thụ, cũng không chuyển hóa tại ống tiêu hoá và đã được xác định là không ảnh hưởng gì
đến thai nhi và trẻ nhỏ còn bú mẹ. Uống quá liều có thể bị tiêu chảy.Thuốc có thể làm giảm hấp