Tội hiếp dâm trong pháp luật hình sự việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN LỆ THỦY

TỘI HIẾP DÂM
TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN LỆ THỦY

TỘI HIẾP DÂM
TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Mã số: 60380104



Trách nhiệm hình sự


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………..1
Chương 1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ
TỘI HIẾP DÂM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY……………………………….6
1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm
1985…………………………………………………………………………...6
1.2. Giai đoạn từ năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm
1999………………………………………………………………………….13
1.3. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay………....17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……………………………………………………22
Chương 2. QUY ĐỊNH VỀ TỘI HIẾP DÂM THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ
NĂM 1999 - SO SÁNH VỚI BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015………….23
2.1. Khái niệm tội hiếp dâm…………………………………………………23
2.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm………………………………….24
2.2.1. Khách thể của tội hiếp dâm……………………………………….......25
2.2.2. Mặt khách quan của tội hiếp dâm…………………………………….27
2.2.3. Chủ thể của tội hiếp dâm……………………………………………..38
2.2.4. Mặt chủ quan của tội hiếp dâm……………………………………….46
2.3. Hình phạt đối với tội hiếp dâm……………………………………….....46
2.3.1. Khung cơ bản……………………………………………………........47
2.3.2. Khung tăng nặng thứ nhất…………………………………………….47
2.3.3. Khung tăng nặng thứ hai………………………………………...........53
2.3.4. Khung tăng nặng thứ ba………………………………………………55
2.3.5. Hình phạt bổ sung………………………………………………….....56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2……………………………………………………58
Chương 3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN ÁP

triển bình thường, lành mạnh của nạn nhân, mà còn làm tổn thương tinh thần
gia đình họ. Ở khía cạnh xã hội, những hành vi này còn có tác động xấu đến
môi trường xung quanh, gây phẫn nộ, bức xúc, nhức nhối trong dư luận.
Năm 2009, Quốc hội đã tiến hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật hình sự năm 1999 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình
sự năm 1999 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2010. Tuy nhiên, quy định của
Điều 111 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cùng với
những quan điểm hiện hành về tội hiếp dâm sau nhiều năm áp dụng đã thể
hiện một số điểm bất cập so với sự phát triển của xã hội, từ đó gây vướng mắc
trong thực tiễn áp dụng. Vì thế, những vấn đề xoay quanh quy định của Bộ
luật hình sự về tội hiếp dâm luôn là một đề tài tranh luận hết sức sôi nổi trên
các diễn đàn khoa học, trên các báo và tạp chí.
Bên cạnh đó, sự phát triển của Hiến pháp năm 2013 về quyền con
người thể hiện sự đổi mới nhận thức trong việc ghi nhận và đảm bảo thực


2

hiện các quyền này của người dân trên thực tế. Điều 14 Hiến pháp 2013 quy
định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người,…
được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật…”
Đồng thời, Điều 20 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Mọi người có quyền bất
khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và
nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình
thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân
phẩm”. Sự phát triển, bổ sung và đề cao quyền con người trong Hiến pháp
năm 2013 đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật
hình sự hiện hành để làm cho các quyền này của người dân được thực hiện
trên thực tế. Theo đó, một trong những yêu cầu đặt ra là Bộ luật hình sự phải
xử lý nghiêm các hành vi xâm hại các quyền con người nêu trên, trong đó có

- Đặng Xuân Nam (2009), “Trao đổi về tội hiếp dâm theo Điều 111 Bộ
luật hình sự”, Tạp chí Kiểm sát (07);
- Phạm Văn Báu (2010), “Những bất cập và phương hướng hoàn thiện
quy định về một số tội xâm phạm nhân phẩm của con người trong Bộ luật
hình sự Việt Nam năm 1999”, Tạp chí Luật học (01);
- Đỗ Đức Hồng Hà (2010), “Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự
năm 1999 về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp (08);
- Bùi Thị Quyên (2012), “Bàn về một số dấu hiệu pháp lý của tội hiếp
dâm”, Tạp chí Tòa án nhân dân (23);
- Dương Tuyết Miên, Bùi Thị Quyên (2013), “So sánh dấu hiệu phạm
tội hiếp dâm trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành với Bộ luật hình sự
của một số nước và một số kiến nghị”, Tạp chí Tòa án nhân dân (07).
Các công trình trên chủ yếu là những bài viết đăng trên các tạp chỉ và
chúng thường tập trung nghiên cứu, giải quyết một vài khía cạnh nào đó của
tội hiếp dâm. Đó thường là những khía cạnh còn gây tranh cãi và có nhiều
quan điểm trái chiều.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quy định của pháp luật
hình sự Việt Nam về tội hiếp dâm, trong đó tập trung chủ yếu vào quy định


4

của Bộ luật hình sự năm 1999 và so sánh với quy định của Bộ luật hình sự
năm 2015 về tội phạm này. Đồng thời, bên cạnh những quy định của pháp
luật, luận văn còn nghiên cứu một số vụ án hiếp dâm trên thực tế.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dưới góc độ luật hình
sự. Tác giả sẽ tập trung phân tích nội dung của tội hiếp dâm theo quy định của
Bộ luật hình sự năm 1999, từ đó so sánh với nội dung của tội hiếp dâm theo

- Đưa ra quan điểm, làm sáng tỏ về những vấn đề gây tranh cãi xoay
quanh nội dung của tội hiếp dâm.
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm triển khai nội dung quy định về tội
hiếp dâm theo Bộ luật hình sự năm 2015 trong thực tiễn, phù hợp với khoa
học luật hình sự.
8. Bố cục (các chương) của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Sơ lược lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội hiếp dâm
từ năm 1945 đến nay
Chương 2: Quy định về tội hiếp dâm theo Bộ luật hình sự năm 1999 So sánh với Bộ luật hình sự năm 2015
Chương 3: Một số vấn đề vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định
về tội hiếp dâm và những kiến nghị hoàn thiện.


6

Chương 1
SƠ LƯỢC LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ TỘI HIẾP DÂM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm
1985
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa ra đời. Thời kỳ này chính quyền non trẻ mới ra đời gặp nhiều
khó khăn: nền kinh tế - xã hội lạc hậu bị chiến tranh tàn phá nặng nề, tài chính
cạn kiệt, tình hình rối ren thù trong giặc ngoài… Nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn này là củng cố chính quyền, đấu
tranh chống thù trong giặc ngoài. Trong hoàn cảnh như vậy, Nhà nước ta chưa
có đủ điều kiện để ban hành ngay các văn bản quy phạm pháp luật và xây
dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Vì vậy, ngày 10/10/1945, Chủ tịch

diện.
Trong các báo cáo tổng kết các năm sau, từ 1961 đến 1966, TANDTC
một mặt rút kinh nghiệm việc xử lý tội hiếp dâm, mặt khác hướng dẫn việc xử
lý một số hình thức phạm tội mới mà luật cũ chưa hề quy định như tội cưỡng
bách giao cấu (cưỡng dâm), tội dâm ô,…
Trên cơ sở các kinh nghiệm mà thực tiễn xét xử đã đúc kết được trong
những năm nói trên, năm 1967, TANDTC đã thông qua Bản tổng kết và
hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và các tội phạm khác về tình dục (số
329-HS2 ngày 11/5/1967), đề cập một cách toàn diện 4 hình thức phạm tội:
- Hiếp dâm;
- Cưỡng dâm (tức cưỡng bách giao cấu);
- Giao cấu với người dưới 16 tuổi;
- Dâm ô (trái ý muốn và không có giao cấu).
Văn bản này đã chính thức thay thế chỉ thị số 1024 năm 1960 và các
đoạn trong các báo cáo tổng kết hàng năm từ năm 1961 đến năm 1966, về vấn
đề này.(4)
Bản tổng kết và hướng dẫn số 329-HS2 ngày 11/5/1967 đã hướng dẫn
(2)

Tòa án nhân dân tối cao (1979), Hệ thống hóa luật lệ về hình sự (1970-1974), (01), Hà Nội, tr. 388.
Xem: Trịnh Thị Thu Hương (2004), Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong luật hình sự Việt Nam và đấu
tranh phòng chống loại tội phạm này, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội, tr. 12.
(4)
Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục số 329HS2 ngày 11/05/1967 của Tòa án nhân dân tối cao, trích từ tài liệu: “Tòa án nhân dân tối cao (1979), Hệ
thống hóa luật lệ về hình sự, tập I (1970-1974), Hà Nội, tr. 388 - 389”.
(3)


8


Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục số 329HS2 ngày 11/05/1967 của Tòa án nhân dân tối cao, trích từ tài liệu: “Tòa án nhân dân tối cao (1979), Hệ
thống hóa luật lệ về hình sự, tập I (1970-1974), Hà Nội, tr. 390”.


9

giao cấu trái với ý muốn hoặc không có ý muốn của họ bao gồm:
Hành vi bạo lực về thể chất như: vật ngã, trói, xé quần áo, giữ tay chân,
bịt mồm, gây thương tích,… khiến người phụ nữ không thể chống cự hoặc
kêu cứu.
Uy hiếp mạnh mẽ về tinh thần, khiến cho người phụ nữ khiếp sợ, ý chí
tự vệ bị tê liệt, không dám chống cự mà phải để cho người uy hiếp thực hành
giao cấu.
Lợi dụng hoặc gây ra tình trạng nạn nhân không thể tự vệ hoặc biểu lộ
ý chí đúng đắn để hiếp dâm. Đó là những trường hợp như: nạn nhân bị mê
man bất tỉnh (do bị tật động kinh, bị say thuộc lào, bị gây mê, tiêm thuốc bị dị
ứng…), ngủ mê tưởng lầm can phạm là chồng nên không kháng cự hoặc một
số trường hợp ngủ mê khác; bị say rượu nặng; bị ốm đau liệt nhược, bị lên
cơn điên dại; ở trong tình trạng cô đơn yếu đuối ở nơi hẻo lánh hoặc trong
mọi tình trạng không thể chống cự khác.
Nhiều khi có sự kết hợp giữa các hành động và thủ đoạn nói trên làm tê
liệt mọi khả năng hoặc ý chí kháng cự của người phụ nữ, mặc dù nếu chỉ nhìn
riêng một hành động hoặc thủ đoạn nào thì chưa đủ.
+ Tội hiếp dâm thuộc loại tội cố ý trực tiếp: can phạm phải nhận thức
được rằng mình dùng bạo lực về thể chất hay uy hiếp về tinh thần hay lợi
dụng hoặc gây ra tình trạng không thể tự vệ hoặc biểu lộ ý chí của nạn nhân
để giao cấu trái với ý muốn hoặc không có ý muốn của họ, nhưng vẫn làm vì
muốn làm việc ấy để thỏa mãn tình dục của mình.
Có thể thấy trong Bản tổng kết và hướng dẫn này, hình thức phạm tội
hiếp dâm bao gồm cả hiếp dâm trẻ em. Các đặc điểm riêng của hình vi hiếp

Về đường lối xử lý đối với tội hiếp dâm, Bản tổng kết này đã chỉ rõ
những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ thường gặp trong tội hiếp dâm. Chẳng
hạn, những tình tiết tăng nặng thường gặp trong tội hiếp dâm như: có nhiều
người cộng phạm trong một vụ hiếp dâm (ngoài những trường hợp có tổ chức
hoặc có hành động luân phiên nhau hiếp); hiếp dâm nhiều lần; hiếp vị thành
niên dưới 18 tuổi (ngoài các trường hợp hiếp dâm trẻ em); hiếp người có quan
(7)

Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục số 329HS2 ngày 11/05/1967 của Tòa án nhân dân tối cao, trích từ tài liệu: “Tòa án nhân dân tối cao (1979), Hệ
thống hóa luật lệ về hình sự, tập I (1970-1974), Hà Nội, tr. 391”.


11

hệ thân thuộc hoặc “thích thuộc” gần gũi (ngoài các trường hợp thân thuộc về
trực hệ hoặc anh, chị, em ruột); hiếp người giao cho mình chăm sóc, giáo dục,
chữa bệnh, giam giữ… hoặc mọi người khác có quan hệ lệ thuộc với mình
(ngoài trường hợp lợi dụng chức vụ hoặc địa vị công tác); hiếp dâm với thêm
động cơ đê hèn. Những tình tiết giảm nhẹ là: phạm tội chưa thành; tác hại hạn
chế; bị cáo còn ít tuổi. Ngoài các tình tiết này thì cũng cần vận dụng các tình
tiết chung có liên can đến những vấn đề như nhân thân can phạm, thái độ của
can phạm để xử phạt.
Trong khi chờ pháp luật có quy định đầy đủ và toàn diện hơn thì Bản
tổng kết này có ý nghĩa rất lớn, như đã đề cập trong chính văn bản này:
“Trong khi chờ đợi pháp luật quy định rõ ràng hơn, căn cứ vào đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước, vào thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân tối
cao thấy cần thiết và đã có thể tổng kết kinh nghiệm trong những năm qua,
rút ra và chỉ rõ thêm một số điểm để hướng dẫn công tác xét xử các loại tội
phạm về mặt tình dục được tốt hơn, đồng thời sơ bộ dùng làm cơ sở cho công
tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, góp phần đấu tranh ngăn ngừa tội

Đối với tội hiếp dâm, Sắc luật quy định 3 khung hình phạt:
Khung hình phạt áp dụng cho những trường hợp hiếp dâm người
lớn là từ 2 năm đến 5 năm tù;
Trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, không phân biệt hiếp dâm
người lớn hay hiếp dâm vị thành niên, thì bị phạt đến 20 năm tù, tù
chung thân hoặc bị xử tử hình.
Coi là đặc biệt nghiêm trọng những trường hợp sau đây:
- Nhiều người hiếp dâm một người.
- Do hiếp dâm đã làm cho nạn nhân chết, làm cho nạn nhân bị
trụy thai hoặc làm tổn thương lớn đến sức khỏe của nạn nhân, nhất là
đối với nạn nhân là vị thành niên.
- Hiếp nhiều người.
- Hiếp người đang mê sảng, hoặc bị bệnh thần kinh.
- Hiếp người có quan hệ huyết thống.(10)
Tiếp theo đó, để thực hiện Nghị quyết 76/CP của Hội đồng Chính phủ
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 06/7/1977, TANDTC đã ra
chỉ thị số 54/TANDTC hướng dẫn việc thi hành pháp luật thống nhất trong cả
(10)

Thông tư số 03-BTP/TT ngày /04/1976 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Sắc luật quy định về các tội
phạm và hình phạt, trích từ tài liệu: “Tòa án nhân dân tối cao (1979), Hệ thống hóa luật lệ về hình sự, tập II
(1975-1978), Hà Nội, tr. 222”.


13

nước trong đó nói rõ việc áp dụng Điều 5 Sắc luật 03/SL. Từ đây, Sắc luật
03/SL được sử dụng cho đến khi BLHS 1985 ra đời và có hiệu lực.
Như vậy, trước khi ban hành BLHS 1985, các văn bản được coi là cơ
sở pháp lý để xét xử tội hiếp dâm bao gồm: Bản tổng kết và hướng dẫn đường

năm năm đến mười lăm năm:
a) Hiếp dâm có tổ chức hoặc nhiều người hiếp một người;
b) Hiếp nhiều người hoặc gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của nạn nhân;
c) Tái phạm nguy hiểm.
3- Phạm tội làm nạn nhân chết, tự sát hoặc trong trường hợp đặc biệt
nghiêm trọng khác thì phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung
thân hoặc tử hình.
4- Mọi trường hợp giao cấu với trẻ dưới mười ba tuổi đều là phạm tội
hiếp dâm và người phạm tội bị phạt theo các khoản 2 và 3 Điều này.
Có thể thấy rằng, tội hiếp dâm trong BLHS năm 1985 vẫn bao gồm cả
hiếp dâm trẻ em, hiếp dâm trẻ em vẫn chưa được quy định là một tội danh độc
lập mà chỉ được coi là một tình tiết tăng nặng của tội hiếp dâm.
Nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm,
BLHS 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các năm 1989, 1991, 1992
và 1997. Việc sửa đổi, bổ sung BLHS liên quan đến tội hiếp dâm là nhằm
điều chỉnh kịp thời chính sách hình sự, phát huy hiệu quả của pháp luật hình
sự trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về tình dục, đặc biệt là tình
dục trẻ em trước diễn biến khá phức tạp của nhóm tội phạm này.
Tại lần sửa đổi, bổ sung thứ hai (năm 1991), Điều 112 quy định về tội
hiếp dâm (trong đó có hiếp dâm trẻ em) đã được sửa đổi, bổ sung. Cụ thể,
khoản Điều 112 về tội hiếp dâm được sửa đổi, bổ sung như sau:
4. Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi đều là phạm tội
hiếp dâm và người phạm tội bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định ở khoản 2 và khoản
3 Điều này, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân
hoặc tử hình.
Theo đó, việc sửa đổi này đã khắc phục được điểm bất hợp lý của


15



16

cho sức khoẻ của nạn nhân; b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều
này.
4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù
chung thân hoặc tử hình: a) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát; b) Có nhiều tình
tiết quy định tại khoản 3 Điều này.
Luật sửa đổi, bổ sung đã tách hành vi hiếp dâm trẻ em ra khỏi tội hiếp
dâm nói chung và quy định thành tội danh riêng là tội hiếp dâm trẻ em. Tội
này được quy định tại Điều 112a, cụ thể:
Điều 112a. Tội hiếp dâm trẻ em
1- Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị
phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
mười lăm năm đến hai mươi năm: a) Có tính chất loạn luân; b) Làm nạn
nhân có thai; c) Gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của nạn nhân; d) Đối với
người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; đ)
Tái phạm nguy hiểm.
3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù
chung thân hoặc tử hình: a) Có tổ chức; b) Nhiều người hiếp một người; c)
Phạm tội nhiều lần; d) Gây tổn hại rất nặng cho sức khỏe của nạn nhân; đ)
Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.
4- Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp
dâm và người phạm tội bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Việc quy định hiếp dâm trẻ em thành một tội danh độc lập chứng tỏ sự
quan tâm đặc biệt của pháp luật hình sự Việt Nam đối với việc bảo vệ trẻ em
khỏi tội phạm hiếp dâm, đồng thời đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh
phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm tình dục trẻ em. Tuy nhiên, khoản

tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; c) Nhiều người hiếp một
người; d) Phạm tội nhiều lần; đ) Đối với nhiều người; e) Có tính chất loạn
luân; g) Làm nạn nhân có thai; h) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà
tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%; i) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:


18

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61%
trở lên; b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội; c) Làm nạn nhân chết
hoặc tự sát.
4. Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18
tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc
khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản
đó.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành
nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Như vậy, theo BLHS năm 1999 thì tội hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực,
đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn
nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ.
So với BLHS năm 1985 (sửa đổi, bổ sung năm 1989, 1991, 1992,
1997) quy định về tội phạm này, thì BLHS năm 1999 có những điểm khác
biệt sau:
Một là, dấu hiệu định tội: về cơ bản, dấu hiệu định tội của tội hiếp dâm
theo BLHS năm 1999 không có nhiều thay đổi so với BLHS năm 1985. Có
thể nhận thấy rằng BLHS năm 1999 mô tả hành vi khách quan đầy đủ và cụ
thể hơn: Nếu như Điều 112 BLHS năm 1985 chỉ quy định: “Người nào dùng

Sửa đổi cụm từ “hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình” thành cụm
từ “hai mươi năm hoặc tù chung thân” tại khoản 3 Điều 111,...
Trong những năm qua, mặc dù BLHS năm 1999 đã phát huy tác dụng
tích cực trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần quan trọng giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân. Tuy nhiên, theo Báo cáo của các cơ quan chức năng, tình
hình tội phạm nhìn chung vẫn diễn biến hết sức phức tạp với những phương
thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Sau gần 17 năm thi hành BLHS năm 1999,
tình hình đất nước, xã hội của ta đã có những thay đổi lớn về mọi mặt nên
BLHS năm 1999 đã bộc lộ nhiều hạn chế bất cập. Điều này đã đặt ra yêu cầu
sửa đổi BLHS hiện hành một cách cơ bản, toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu
đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, trong đó có tội phạm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status