ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỒNG OANH
T×NH TIÕT “PH¹M TéI §èI VíI TRÎ EM”
TRONG PH¸P LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỒNG OANH
T×NH TIÕT “PH¹M TéI §èI VíI TRÎ EM”
TRONG PH¸P LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
ĐẶC ĐIỂM CỦA TÌNH TIẾT “PHẠM TỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM” ... 13
1.2.1. Hành vi phạm tội có đối tượng tác động là trẻ em ............................. 13
1.2.2. Phạm tội đối với trẻ em làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội, từ đó làm tăng nặng TNHS đối với người
phạm tội .............................................................................................. 19
1.2.3. “Phạm tội đối với trẻ em” là tình tiết định tội, tình tiết định khung
hình phạt và tình tiết tăng nặng TNHS .............................................. 22
1.3.
TÌNH TIẾT “PHẠM TỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM” TRONG PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI ..................... 26
1.3.1. Pháp luật hình sự Liên Bang Nga ...................................................... 27
1.3.2. Pháp luật hình sự Trung Quốc ........................................................... 29
1.3.3. Pháp luật hình sự Thụy Điển .............................................................. 31
Chương 2: QUY ĐỊNH VỀ TÌNH TIẾT “PHẠM TỘI ĐỐI VỚI TRẺ
EM” TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC
TIỄN ÁP DỤNG ............................................................................... 33
2.1.
TÌNH TIẾT “PHẠM TỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM” TRONG LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM ....................................................................... 33
2.1.1. Tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em” trong PLHS Việt Nam trước
khi BLHS năm 1999 có hiệu lực ........................................................ 33
2.1.2. Tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em” trong PLHS Việt Nam theo
quy định của BLHS năm 1999 ........................................................... 35
3.2.5. Về cách xác định tuổi của trẻ em ....................................................... 72
3.3.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG TÌNH TIẾT
“PHẠM TỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM” ..................................................... 75
3.3.1. Một số giải pháp khác về hoàn thiện chính sách, pháp luật ............... 75
3.3.2. Một số giải pháp về tổ chức thực hiện ............................................... 77
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 82
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
CTTP
: Cấu thành tội phạm
PLHS
: Pháp luật hình sự
TNHS
đặc biệt đối với trẻ em, sự quan tâm của Người bắt nguồn từ tình yêu thương
trẻ em vô hạn, và hơn thế nữa, bắt nguồn từ tầm nhìn xa trông rộng của chiến
lược “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, “ngày
nay các cháu là nhi đồng, ngày mai các cháu là người chủ của nước nhà, của
thế giới”... Do chưa phát triển đầy đủ về thể chất và trí tuệ nên trẻ em có
những đặc điểm tâm sinh lý khá đặc thù, dễ bị tổn thương, cần được đặc biệt
quan tâm chăm sóc và bảo vệ.
Tuy nhiên, hiện nay tình trạng phạm tội đối với trẻ em diễn ra ngày
càng gia tăng về số vụ và mức độ nghiêm trọng, trong đó có các tội liên
quan đến tệ nạn xã hội (ma túy, mại dâm…), các tội xâm phạm về tình dục,
các tội xâm phạm về sức khỏe của trẻ em. Điều này đã gây bức xúc, nhức
nhối trong dư luận và để lại nhiều hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, vì phạm
tội đối với trẻ em có tính chất đặc biệt hơn so với các trường hợp phạm tội
thông thường khác ở chỗ đối tượng bị xâm hại là trẻ em - những người bị
hạn chế hoặc hoàn toàn không có khả năng, điều kiện tự vệ hoặc bảo vệ
mình. Hành vi xâm hại để lại hậu quả rất nặng nề, nó không chỉ gây tổn hại
đến danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khỏe của trẻ mà còn tác động tiêu
cực đến tâm lý và sự phát triển bình thường của các em sau này, nhất là các
em đang ở độ tuổi còn quá nhỏ.
Để ngăn chặn tình trạng phạm tội đối với trẻ em, Đảng và Nhà nước ta
đã đề ra nhiều chính sách, biện pháp để thực thi trong thực tế, trong đó biện
pháp hình sự là biện pháp nghiêm khắc nhất. BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009) có quy định về tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em”. Tình tiết
1
này vừa là tình tiết tăng nặng TNHS được quy định tại điểm h khoản 1 Điều
48 thuộc Phần chung của BLHS, vừa là tình tiết định tội hoặc định khung
hình phạt quy định trong một số CTTP ở Phần các tội phạm của Bộ luật này.
nghiên cứu về tội phạm và các dấu hiệu trong CTTP của BLHS. Điều này
được thể hiện thông qua một số giáo trình, sách chuyên khảo, bài viết nghiên
cứu như: GS. TSKH. Đào Trí Úc, Sách Luật hình sự Việt Nam (Quyển I)
Những vấn đề chung, NXB Khoa học xã hội được công bố năm 2000; PGS.
TSKH. Lê Văn Cảm, Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản
trong khoa học luật hình sự (Phần chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
2005; GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm và cấu thành tội phạm, NXB
Công an nhân dân, năm 2006; Tác giả Đinh Văn Quế, Bình luận những tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam,
NXB Tổng hợp, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009…
Ngoài ra, một số tác giả cũng đã công bố những bài báo khoa học có đề
cập đến tội phạm và các tình tiết tăng nặng TNHS như: GS. TSKH. Đào Trí Úc,
Những đảm bảo cần thiết cho việc thi hành Bộ luật hình sự năm 1999, Tạp chí
Nhà nước và pháp luật số 01/2001; ThS. Lê Văn Luật- TAND huyện Hướng
Hóa, Quảng Trị, Bàn về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội đối
với trẻ em", Tạp chí KHPL số 2(33)/2006; TS. Trịnh Tiến Việt- Khoa Luật, Đại
học Quốc gia Hà Nội, Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Nghề luật số 4/2006; Tác giả Đinh Văn Quế, Một
số vấn đề khi áp dụng tình tiết: “Phạm tội đối với trẻ em”; v.v…
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát trên đây cho thấy, ở nước ta đã
có một số công trình nghiên cứu về tình tiết phạm tội đối với trẻ em. Tuy
nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở các bài viết đăng trên các tạp
chí khoa học pháp lý chuyên ngành, xem xét nội dung của vấn đề này như
khối kiến thức cơ bản của một phần trong các giáo trình giảng dạy, một mục
nhỏ trong sách chuyên khảo mà chưa có công trình nào nghiên cứu tình tiết
“Phạm tội đối với trẻ em” với tư cách là một tình tiết tăng nặng TNHS đồng
3
nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng
nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được
thể hiện trong các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính
trị về "Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới", Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: Phương pháp
phân tích, tổng hợp; Phương pháp so sánh đối chiếu; Phương pháp thống kê,
điều tra, khảo sát thực tế; Phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp để
tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được
nghiên cứu trong luận văn.
5. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
5.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp
luật về tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em” dưới khía cạnh lập pháp hình sự và
áp dụng tình tiết này trong thực tiễn, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp
nhằm hoàn thiện các quy định về tình tiết này trong luật hình sự Việt Nam,
đồng thời đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tình tiết này
trong thực tiễn.
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
(1) Từ cơ sở kết quả tổng hợp các quan điểm của các tác giả về tình tiết
“phạm tội đối với trẻ em”, luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề
chung về tình tiết này như: khái niệm, đặc điểm của trẻ em; Khái niệm, đặc
điểm của tình tiết tăng nặng TNHS “Phạm tội đối với trẻ em”; Khái niệm, đặc
5
6
thành và phát triển của tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em” trong PLHS Việt
Nam từ trước khi BLHS năm 1985 ra đời cho đến nay;
(3) Nghiên cứu, đánh giá, làm sáng tỏ thực tiễn áp dụng tình tiết “Phạm tội
đối với trẻ em” của Tòa án các cấp; những tồn tại, hạn chế của thực tiễn pháp luật
và thực tiễn áp dụng tình tiết này, và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó;
(4) Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất
ra các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao
hiệu quả áp dụng tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em” trong giai đoạn xây dựng
Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
Thêm vào đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
dành cho không chỉ các nhà lập pháp mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán
bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên
thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật.
Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ trang bị kiến thức chuyên sâu
cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan tiến hành tố tụng trong
quá trình giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan và đúng pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn có kết cấu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi
nghiên cứu. Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em”
trong luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định về tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em” trong luật
hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của PLHS
và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tình tiết “Phạm tội đối với trẻ
em” trong thực tiễn hiện nay.
quan hệ xã hội, 3- Các vật, hiện tượng thuộc thế giới khách quan có
9
khả năng thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của con người, liên quan
đến hoạt động của các chủ thể quan hệ xã hội [5, tr.140].
Theo quan điểm trên thì “trẻ em” là một trong các đối tượng tác động
của tội phạm. Đối tượng tác động này là “chủ thể của quan hệ xã hội” nên
ngoài những đặc điểm chung nó còn có những đặc điểm khác về tâm, sinh lý.
Về sinh lý, trẻ em còn ít tuổi (dưới 16 tuổi theo pháp luật Việt Nam, và dưới
18 tuổi theo pháp luật quốc tế), đang ở giai đoạn sinh lý phát triển mạnh mẽ,
cơ thể chưa phát triển hoàn chỉnh. Do đó, có thể nói trẻ em còn khá non yếu
về thể chất, là đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương cần được bảo vệ nghiêm
ngặt hơn. Về tâm lý, trẻ em đang ở giai đoạn phát triển hình thành tâm lý, định
hình nhân cách khi trưởng thành. Cụ thể là: (1) hầu hết trẻ em đều có tâm lý
tò mò, thích khám phá những điều mới lạ nên rất cần sự định hướng đúng
đắn, sự chăm sóc, tình yêu thương của gia đình, nhà trường và xã hội; (2) trẻ
em rất thích thể hiện và chứng tỏ bản thân với mọi người xung quanh, nhưng
tâm lý trẻ chưa phát triển vững vàng, dễ bị tổn thương nên rất dễ trở nên mặc
cảm, tự ti, tiêu cực khi thua kém người khác hoặc khi bị tác động bởi các nhân
tố bên ngoài; (3) phần lớn trẻ em đều có tâm hồn ngây thơ, non nớt, có tâm lý
dễ thuận theo và nghe lời người lớn, nên là đối tượng dễ bị lợi dụng; (4) trẻ
em có kiến thức, vốn hiểu biết về xã hội còn hạn chế, khả năng nhận thức và
điều khiển hành vi còn hạn chế, trẻ chưa nhận thức được hết những mối nguy
hiểm ngoài xã hội nên trẻ chưa đủ khả năng tự bảo vệ bản thân, chưa có sự
phản kháng cần thiết đối với hành vi xâm phạm quyền lợi của mình. Do đó,
trẻ em là đối tượng rất dễ bị kẻ xấu dụ dỗ, rủ rê, lôi kéo. Tất cả những đặc
điểm trên của trẻ em sẽ khiến cho hành vi phạm tội tác động dễ dàng hơn đến
trẻ em để thông qua đó xâm hại đến các quyền của trẻ em được PLHS bảo vệ.
đối với trẻ em là trường hợp người phạm tội xâm phạm đến tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm của trẻ em. Tuy nhiên, giữa các quan điểm trên
cũng có những điểm khác biệt đáng lưu ý. Cụ thể như sau:
11
- Quan điểm thứ nhất và thứ ba đều cho rằng phạm tội đối với trẻ em là
trường hợp người phạm tội xâm hại đến các quyền của trẻ em một cách trực
tiếp. Điều này có thể hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội của người phạm
tội xâm hại đến các quyền của trẻ em bằng cách tác động trực tiếp đến trẻ em
mà không thông qua một nhân tố trung gian nào. Ví dụ, A có hành vi nói xấu
với B (đã thành niên) về C (10 tuổi) khiến cho B nổi giận đánh C gây thương
tích 12%. Như vậy, hành vi nói xấu của A không trực tiếp tác động đến C và
không trực tiếp dẫn đến hậu quả C bị thương, do đó hành vi của A chỉ coi là
đã tác động đến C (trẻ em) một cách gián tiếp thông qua B. Còn hành vi của B
đánh C gây thương tích đã tác động trực tiếp đến C, vì vậy hành vi của B
được coi là thuộc trường hợp phạm tội đối với trẻ em. Do vậy, trong khái
niệm phạm tội đối với trẻ em, cần nêu rõ rằng hành vi phạm tội tác động đến
trẻ em một cách trực tiếp. Quan điểm thứ hai lại không quan niệm như vậy.
- Ở quan điểm thứ ba, phạm tội đối với trẻ em là trường hợp người
phạm tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của trẻ em.
Khái niệm này đã giới hạn phạm vi khách thể mà hành vi phạm tội đối với trẻ
em hướng tới chỉ trong khuôn khổ nhất định, chỉ khi hành vi phạm tội tác
động đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của trẻ em thì mới được
coi là thuộc trường hợp phạm tội đối với trẻ em. Điều này dẫn đến tình trạng
bỏ ngỏ việc bảo vệ các quyền khác của trẻ em mà PLHS bảo vệ. Chẳng hạn,
hành vi phạm tội bắt cóc trẻ em nhằm chiếm đoạt tài sản, ngoài việc xâm hại
đến sức khỏe của trẻ em, còn xâm hại đến khách thể là các quyền khác của trẻ
em theo quy định của pháp luật như quyền tự do đi lại, quyền tự do cư trú của
chế khả năng tự vệ, khi hành vi phạm tội tác động đến trẻ em là tác động đến
đối tượng yếu thế cần được bảo vệ, do đó hành vi phạm tội có đối tượng tác
động là trẻ em sẽ ảnh hưởng đến TNHS so với hành vi phạm tội tác động đến
đối tượng là người không phải là trẻ em, người thành niên theo hướng nặng
hơn, nghĩa là TNHS đối với người có hành vi phạm tội đối với trẻ em sẽ cao
13
hơn so với trường hợp hành vi phạm tội tác động đến người không phải là trẻ
em. Vì vậy, trong pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia trên thế giới
cũng quy định trẻ em là đối tượng cần được đặc biệt bảo vệ trước những hành
vi vi phạm pháp luật xâm hại đến các quyền của trẻ em, và trong PLHS của
một số các quốc gia trên thế giới, tình tiết “phạm tội đối với trẻ em” đã được
coi là một tình tiết xác định TNHS đối với người phạm tội.
Theo Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, “do còn non nớt về
thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo
vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” [25, Lời mở đầu].
Công ước này cũng đã khẳng định rằng việc xâm hại, phạm tội đối với trẻ em
có tính nguy hiểm cao với xã hội và các quốc gia thành viên cần có biện pháp
về mặt pháp lý để ngăn chặn việc này. Tiêu biểu là các quy định:
Không trẻ em nào phải chịu sự can thiệp tùy tiện hay bất hợp
pháp vào việc riêng tư, gia đình, nhà cửa hoặc thư tín của các em
cũng như sự công kích bất hợp pháp vào danh dự và thanh danh của
các em. Trẻ em có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại sự can
thiệp hay công kích như vậy [25, Điều 16].
Các quốc gia thành viên phải thực hiện tất cả các biện pháp
lập pháp, hành chính, xã hội và giáo dục thích hợp để bảo vệ trẻ em
khỏi tất cả các hình thức bạo lực về thể chất hoặc tinh thần, bị
thương tổn hay lạm dụng, bị bỏ mặc chăm sóc hoặc xao nhãng, bị
khác với mục đích gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của họ, buộc họ phục dịch hoặc vì mục đích chiếm đoạt tài sản thì
bị phạt tù từ bốn năm đến mười năm hoặc tù chung thân về tội bắt
cóc [40, Điều 1 chương 4].
Người nào phổ biến cho trẻ em hoặc thanh niên bài viết, hình
ảnh hoặc băng kĩ thuật có nội dung có thể làm cho họ trở nên hung
ác hoặc bằng cách khác gây nguy hiểm nghiêm trọng đến việc giáo
15
dục đạo đức cho các em thì bị phạt tiền hoặc phạt tù đến sáu tháng
về tội đưa trẻ em vào con đường lầm lạc [40, Điều 12 chương 16]
(Luật 1998:1444) v.v…
Pháp luật Việt Nam cũng coi việc phạm tội đối với trẻ em là một hành
vi nguy hiểm cho xã hội, là việc người phạm tội xâm phạm trực tiếp đến
quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của trẻ em
và các quyền khác mà trẻ em có theo quy định của pháp luật. Hiến pháp năm
2013 cũng khẳng định rõ Nhà nước bảo hộ quyền lợi của trẻ em. “Trẻ em
được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham
gia vào các vấ n đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ
mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ
em” [33, Điều 37]. Ngoài ra, việc thực hiện các hành vi phạm tội đối với trẻ
em còn được quy định là một tình tiết để xác định TNHS đối với người phạm
tội trong BLHS Việt Nam hiện hành. Theo đó, tình tiết “Phạm tội đối với trẻ
em” được quy định là một tình tiết tăng nặng TNHS tại khoản 1 Điều 48, là
tình tiêt định tội của một số tội phạm cụ thể như: Tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội giao cấu với trẻ em, Tội dâm ô
với trẻ em… và là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của các tội như: Tội
giết người, Tội hành hạ người khác, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản…
Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam lại có quy định khác về trẻ em. Cụ thể là:
Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: “Trẻ em
quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” [34, Điều 1].
Các điều luật khác của BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009
cũng có những quy định về độ tuổi của trẻ em, chẳng hạn như: khoản 1 Điều
112 quy định: “Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì
bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm”, khoản 4 Điều 112 quy định “Mọi
trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ
em”, khoản 1 Điều 114 quy định “Người nào cưỡng dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi
17