BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ ……
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ
ÁN HÌNH SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ……………..
1
HÀ NỘI – NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự hỗ
trợ, giúp đỡ từ Người hướng dẫn là TS. Lê Đăng Doanh. Các nội dung nghiên
cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây. Những nhận xét, đánh giá
cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác đã được trích dẫn và
thể hiện trong phần tài liệu tham khảo.
Hà Nội, ngày ------tháng ------ năm 2017
Tác giả luận văn
2
2.3.1. Khung cơ bản……………………………………………………........47
4
2.3.2. Khung tăng nặng thứ nhất…………………………………………….47
2.3.3. Khung tăng nặng thứ hai………………………………………...........53
2.3.4. Khung tăng nặng thứ ba………………………………………………55
2.3.5. Hình phạt bổ sung………………………………………………….....56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2……………………………………………………58
Chương 3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN ÁP
DỤNG QUY ĐỊNH VỀ TỘI HIẾP DÂM VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ
HOÀN THIỆN……………………………………………………………...60
3.1. Một số vấn đề vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định về tội hiếp
dâm…………………………………………………………………..............60
3.2. Một số kiến nghị hướng dẫn, giải thích quy định về tội hiếp dâm trong Bộ
luật hình sự năm 2015……………………………………………………….68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3……………………………………………………75
KẾT LUẬN…………………………………………………………………76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Bộ luật hình sự năm 1999 đã phát huy tác dụng
tích cực trong đấu tranh chống tội phạm, góp phần quan trọng giữ vững an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân. Tuy nhiên, tình hình tội phạm nhìn chung vẫn diễn biến hết sức
phức tạp với những phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Trong đó, sự
nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình
thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân
phẩm”. Sự phát triển, bổ sung và đề cao quyền con người trong Hiến pháp
năm 2013 đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật
hình sự hiện hành để làm cho các quyền này của người dân được thực hiện
trên thực tế. Theo đó, một trong những yêu cầu đặt ra là Bộ luật hình sự phải
xử lý nghiêm các hành vi xâm hại các quyền con người nêu trên, trong đó có
hành vi hiếp dâm, xâm hại tình dục ngày càng diễn biến đa dạng và phức tạp.
7
Từ những yêu cầu trên, ngày 27/11/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông
qua Bộ luật hình sự năm 2015 và Bộ luật này sẽ có hiệu lực trong thời gian
sắp tới. Và nội dung của tội phạm hiếp dâm theo quy định của Bộ luật hình sự
năm 2015 cũng có sự thay đổi. Để hiểu quy định của Bộ luật hình sự Việt
Nam về tội phạm hiếp dâm và triển khai những nội dung của Bộ luật hình sự
mới về tội phạm này phù hợp với thực tiễn thì việc làm sáng tỏ những vấn đề
lý luận, đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật là rất quan trọng.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu, làm sáng tỏ các vấn đề về mặt lý luận của tội
hiếp dâm không chỉ là căn cứ để hiểu và áp dụng đúng các quy định của Bộ
luật hình sự về tội hiếp dâm mà còn là cơ sở để hiểu và áp dụng đúng quy
định về một số tội phạm khác.
Chính vì những lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tội hiếp
dâm trong pháp luật hình sự Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước khi tác giả thực hiện đề tài này đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu tội hiếp dâm dưới góc độ luật hình sự được công bố, có thể kể đến một số
công trình như sau:
- Dương Tuyết Miên (1998), “Về các tội phạm tình dục trong luật hình
sự Việt Nam”, Tạp chí Luật học (06);
năm 2015 về tội phạm này. Đồng thời, bên cạnh những quy định của pháp
9
luật, luận văn còn nghiên cứu một số vụ án hiếp dâm trên thực tế.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dưới góc độ luật hình
sự. Tác giả sẽ tập trung phân tích nội dung của tội hiếp dâm theo quy định của
Bộ luật hình sự năm 1999, từ đó so sánh với nội dung của tội hiếp dâm theo
quy định của Bộ luật hình sự năm 2015. Bên cạnh đó, từ việc nghiên cứu thực
tiễn xét xử những vụ án hiếp dâm, tác giả đưa ra những giải pháp, kiến nghị
nhằm hoàn thiện cũng như triển khai áp dụng quy định về tội hiếp dâm trong
Bộ luật hình sự năm năm 2015 trên thực tế.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích để làm rõ nội dung quy
định về tội hiếp dâm theo Bộ luật hình sự năm 1999, so sánh để thấy những
điểm mới, điểm khác biệt so với quy định tương ứng tại Bộ luật hình sự năm
2015 sắp có hiệu lực thi hành. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những giải pháp,
kiến nghị nhằm giải thích rõ quy định về tội hiếp dâm để áp dụng thống nhất,
góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động đấu tranh chống tội phạm này.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn bao gồm:
- Các dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm là gì?
- Hình phạt đối với tội hiếp dâm như thế nào?
- Có sự khác biệt gì giữa tội hiếp dâm theo quy định của Bộ luật hình
sự năm 1999 và tội hiếp dâm theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015?
Tại sao có sự khác biệt đó?
- Nên hiểu quy định về tội hiếp dâm theo Bộ luật hình sự năm 2015 ra
10
khó khăn: nền kinh tế - xã hội lạc hậu bị chiến tranh tàn phá nặng nề, tài chính
cạn kiệt, tình hình rối ren thù trong giặc ngoài… Nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn này là củng cố chính quyền, đấu
tranh chống thù trong giặc ngoài. Trong hoàn cảnh như vậy, Nhà nước ta chưa
có đủ điều kiện để ban hành ngay các văn bản quy phạm pháp luật và xây
dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Vì vậy, ngày 10/10/1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL quy định giữ tạm thời các luật lệ
12
hiện hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành những bộ luật pháp
duy nhất cho toàn quốc. Theo nội dung của Sắc lệnh, “những điều khoản
trong luật lệ cũ được tạm giữ lại…, chỉ thi hành khi nào không trái với nền
độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa”. ( 1 ) Như vậy, ở
giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954, việc xét xử tội phạm hiếp dâm vẫn dựa
vào luật hình cũ (được tạm thời giữ lại). Đó là Bộ “Luật Hình An Nam” ban
bố tại Bắc bộ năm 1921, Bộ “Hoàng Việt Hình Luật” ban bố tại Trung bộ
năm 1933, Bộ hình luật pháp tu chỉnh thi hành ở Nam bộ năm 1912.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (năm 1954), miền Bắc hoàn toàn giải
phóng và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam tiếp tục cuộc
kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Do đó, những điều kiện chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội ở miền Bắc đã có những thay đổi căn bản, các luật lệ của chế độ
cũ không còn phù hợp. Vì vậy, từ năm 1955, khi toàn bộ các luật lệ cũ không
còn được áp dụng nữa, các Tòa án xử theo án lệ, theo đường lối, chính sách
( 1 ) Điều thứ 14, Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt
Nam dân chủ cộng hòa
của Nhà nước. ( 2 ) Cho đến thời điểm này, Nhà nước ta vẫn chưa ban hành văn
bản pháp luật hình sự nào mới quy định về các tội phạm về mặt tình dục nói
chung và tội hiếp dâm nói riêng. Việc này đã dẫn đến tình trạng xét xử tùy
tiện. ( 3 )
cao (1979), Hệ
14
thống hóa luật lệ về hình sự, tập I (1970-1974), Hà Nội, tr. 388 - 389”.
cụ thể về tội hiếp dâm như sau:
- Về khái niệm:
Trong Bản tổng kết và hướng dẫn đã đưa ra định nghĩa về khái niệm
hiếp dâm qua thực tiễn xét xử của nước ta thời kỳ đó: “hiếp dâm là hành động
bắt buộc người phụ nữ phải chịu sự giao cấu trái ý muốn hoặc không có ý
muốn của người đó bằng cách dùng bạo lực về thể chất, hay là uy hiếp về tinh
thần, hay là lợi dụng hoặc gây ra tình trạng không thể tự vệ hoặc biểu lộ ý chí
của người đó”. ( 5 ) Đồng thời khẳng định đó là một khái niệm đúng đắn và đầy
đủ về tội hiếp dâm.
Bản tổng kết cũng đưa ra một vướng mắc trong thực tiễn xét xử tội hiếp
dâm, đó là: “Có hành vi giao cấu như thế nào thì coi là tội hiếp dâm đã hoàn
thành?”. Các bản án xét xử có khác nhau. Hầu như không có bản án nào đòi
hỏi phải có xuất tinh. Nhưng theo một số bản án, dương vật của người đàn
ông phải được ấn sâu vào tận âm đạo (bộ phận từ màng trinh trở vào tử cung)
của người phụ nữ mới coi là hiếp dâm đã hoàn thành. Trái lại, theo nhiều bản
án khác, tội hiếp dâm được coi là hoàn thành khi dương vật được ấn trực tiếp
vào trong bộ phận sinh dục (từ môi lớn trở vào) của người phụ nữ, không kể
là sâu hay cạn.
Trên cơ sở đó, Bản tổng kết cũng đưa ra quan điểm hướng dẫn: “chỉ có
sự cọ xát trực tiếp dương vật vào bộ phậm sinh dục của người phụ nữ (bộ
phận từ môi lớn trở vào) với ý thức định ấn vào trong không kể sự xâm nhập
của dương vật là sâu hay cạn, không kể có xuất tinh hay không là tội hiếp
dâm đã được gọi là hoàn thành, và khi đó, nhân phẩm, danh dự của người
15
riêng một hành động hoặc thủ đoạn nào thì chưa đủ.
+ Tội hiếp dâm thuộc loại tội cố ý trực tiếp: can phạm phải nhận thức
được rằng mình dùng bạo lực về thể chất hay uy hiếp về tinh thần hay lợi
dụng hoặc gây ra tình trạng không thể tự vệ hoặc biểu lộ ý chí của nạn nhân
để giao cấu trái với ý muốn hoặc không có ý muốn của họ, nhưng vẫn làm vì
muốn làm việc ấy để thỏa mãn tình dục của mình.
Có thể thấy trong Bản tổng kết và hướng dẫn này, hình thức phạm tội
hiếp dâm bao gồm cả hiếp dâm trẻ em. Các đặc điểm riêng của hình vi hiếp
dâm trẻ em cũng được nhấn mạnh ngay trong phần khái niệm của tội hiếp
dâm. Cụ thể là:
Các hành vi giao cấu với các em dưới 13 tuổi tròn nói chung,
không kể các em có thỏa thuận hay không thỏa thuận đều phải được coi
là hành vi hiếp dâm vì, do trí óc non nớt của các em, phải coi các em
đó là ở trong tình trạng không thể tự vệ và biểu lộ ý chí đứng đắn.
Riêng đối với các em từ 13 tuổi tròn đến 14 tuổi tròn, trong một số
trường hợp cá biệt, có em đã dậy thì và có thể thực sự thuận tình giao
cấu. Cho nên, khi có sự giao cấu có thuận tình với các em đó, cần căn
cứ vào mọi tình tiết của vụ án (như tính tình, thân hình, thái độ của các
em…) để nhận định xem có tội hiếp dâm trẻ em hay chỉ là tội giao cấu
với người dưới 16 tuổi... ( 7 )
- Về hình phạt:
17
Bản tổng kết trên đã khẳng định việc TANDTC xác nhận những mức
án trong thực tiễn xét xử vào thời điểm đó là đúng đắn, cụ thể:
Khung cơ bản có mức phạt tù từ 2 năm đến 5 năm tù.
Khi có một trong các tình tiết: a) Nạn nhân là trẻ em từ 14 tuổi tròn trở
xuống; b) Hiếp người thân thuộc về trực hệ (kể cả nuôi và đẻ) hoặc hiếp chị,
em ruột; c) Hiếp dâm với thủ đoạn nguy hiểm, tàn khốc hoặc trắng trợn; hiếp
“Trong khi chờ đợi pháp luật quy định rõ ràng hơn, căn cứ vào đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước, vào thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân tối
cao thấy cần thiết và đã có thể tổng kết kinh nghiệm trong những năm qua,
rút ra và chỉ rõ thêm một số điểm để hướng dẫn công tác xét xử các loại tội
phạm về mặt tình dục được tốt hơn, đồng thời sơ bộ dùng làm cơ sở cho công
tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, góp phần đấu tranh ngăn ngừa tội
phạm”. ( 8 )
Ngay sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 15/3/1976 Hội
đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban
hành sắc luật số 03/SL quy định các tội phạm và hình phạt. Điều 5 của Sắc
luật này quy định về Tội xâm phậm đến thân thể và nhân phẩm của công
dân. Tại điểm c của Điều luật này quy định: “Phạm tội hiếp dâm, thì bị phạt
tù từ 2 năm đến 5 năm. Hiếp dâm vị thành niên thì bị phạt tù từ 3 năm đến 7
năm. Trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 20 năm, tù chung
19
thân hoặc bị xử tử hình”. ( 9 ) Theo quy định của Sắc luật số 03/SL, hành vi
( 8 ) Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về
mặt tình dục số 329HS2 ngày 11/05/1967 của Tòa án nhân dân tối cao, trích từ tài liệu: “Tòa án nhân dân tối
cao (1979), Hệ
thống hóa luật lệ về hình sự, tập I (1970-1974), Hà Nội, tr. 389”.
( 9 ) Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/03/1976 của Hội đồng Chánh phủ cách mạng lâm thời
quy định các tội phạm
và hình phạt, trích từ tài liệu: “Tòa án nhân dân tối cao (1979), Hệ thống hóa luật lệ về hình
sự, tập II (19751978), Hà Nội, tr. 221”.
phạm tội hiếp dâm, đặc biệt là hành vi hiếp dâm người chưa thành niên bị
trừng trị rất nghiêm khắc. Thông tư số 03/TT-BTP tháng 4 năm 1976 của Bộ
Tư pháp hướng dẫn thi hành Sắc luật quy định các tội phậm và hình phạt đã
hướng dẫn chi tiết quy định tại Điều 5 Sắc luật trên. Cụ thể:
(1975-1978), Hà Nội, tr. 222”.
nước trong đó nói rõ việc áp dụng Điều 5 Sắc luật 03/SL. Từ đây, Sắc luật
03/SL được sử dụng cho đến khi BLHS 1985 ra đời và có hiệu lực.
Như vậy, trước khi ban hành BLHS 1985, các văn bản được coi là cơ
sở pháp lý để xét xử tội hiếp dâm bao gồm: Bản tổng kết và hướng dẫn đường
lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội khác về mặt tình dục số 329/HS2, Sắc
luật số 03-SL/1976 của Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời, Thông tư
số 03/BTP tháng 4/1976 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Sắc luật số 0321
SL/1976. Tuy nhiên, đây chỉ là những văn bản dưới luật nên giá trị pháp lý
của những văn bản pháp luật này chưa cao, đồng thời các quy định còn chưa
cụ thể, rõ ràng nên dẫn đến việc áp dụng không thống nhất, gặp nhiều vướng
mắc trong việc xét xử, làm ảnh hưởng đến chất lượng xét xử cũng như hiệu
quả của cuộc đấu tranh chống tội phạm này.
Với những đặc điểm về hình thức và nội dung như trên thì một nhu cầu
được đặt ra là phải có một văn bản tổng hợp toàn diện, thống nhất các văn bản
pháp luật hình sự nói chung và các quy định về hành vi hiếp dâm nói riêng.
Văn bản đó chính là Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985 - sự pháp điển hóa các
hành vi phạm tội trong đó có nội dung tội phạm hiếp dâm.
1.2. Giai đoạn từ năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm
1999
BLHS năm 1985 được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 và có hiệu
lực từ ngày 01/11/1986 là BLHS đầu tiên của Nhà nước ta. BLHS đầu tiên ra
đời thể hiện sự phát triển về chất của công tác lập pháp trong lĩnh vực hình sự,
đánh dấu một bước quan trọng trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam. Tội
hiếp dâm đã được quy định tương đối rõ ràng, đầy đủ. Điều 112 BLHS năm
1985 quy định về tội hiếp dâm bao gồm 4 điều khoản:
1- Người nào dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác giao cấu với người khác
trái ý muốn của họ thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
23
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định ở khoản 2 và khoản
3 Điều này, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân
hoặc tử hình.
Theo đó, việc sửa đổi này đã khắc phục được điểm bất hợp lý của
khoản 4, Điều 112 trước đó. Bởi theo khoản 4, Điều 112 BLHS được ban
hành năm 1985, trường hợp phạm tội theo khoản 4 lại bị phạt theo các khoản
2, 3 của điều luật này, mà về lý luận chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự theo các
khoản này nếu thỏa mãn các tình tiết định khung tăng nặng được quy định ở
các khoản đó. Bên cạnh đó, lần sửa đổi này đã thể hiện đường lối trừng trị
nghiêm khắc hơn đối với tội hiếp dâm khi mức hình phạt trong các trường
hợp quy định ở khoản 2, Điều 112 được tăng lên.
Lần sửa đổi, bổ sung thứ ba (năm 1992) không có sự sửa đổi, bổ sung
liên quan đến tội hiếp dâm. Mặc dù đã qua ba lần sửa đổi, bổ sung nhưng hiếp
dâm trẻ em vẫn chỉ là một quy định nằm trong điều luật về tội hiếp dâm.
Trước tình hình phạm tội hiếp dâm nói chung và hiếp dâm trẻ em nói riêng
ngày càng gia tăng, diễn biến ngày càng phức tạp, TANDTC đã ban hành
Công văn số 73/TK về đường lối xét xử loại tội phạm tình dục trẻ em, nhấn
mạnh việc xử phạt nghiêm khắc với hình phạt cao trong khung hình phạt,
cùng với việc áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với những trường hợp
phạm tội này.
Tại lần sửa đổi, bổ sung lần thứ 4 (năm 1997), Điều 112 về tội hiếp
dâm được sửa đổi, bổ sung như sau:
1- Người nào dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác giao cấu với người khác
24
trái ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.