BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG THU NHƯỜNG
PHÁP LUẬT TÍN CHẤP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI
TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành
: Luật Dân sự
Mã số
: 60.38.50.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHÙNG TRUNG TẬP
HÀ NỘI – NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả.
Các số liệu, tài liệu trích dẫn, sử dụng trong luận văn là trung thực; những
kết luận khoa học hoặc những nhận xét của luận văn chưa được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG
NXB
: Nhà xuất bản
NHCSXH
: Ngân hàng chính sách xã hội
CP
: Chính phủ
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN CHẤP ................................... 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự .......... 8
1.1.1. Khái niệm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự .............................. 8
1.1.2. Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự 10
1.2. Khái niệm, đặc điểm của biện pháp tín chấp ................................. 11
1.2.1. Khái niệm ................................................................................... 11
1.2.2. Đặc điểm của biện pháp tín chấp ................................................ 12
1.3. Phân biệt giữa biện pháp tín chấp và một số biện pháp bảo đảm
khác ................................................................................................................ 14
1.3.1. Phân biệt giữa biện pháp tín chấp và nghiệp vụ cho vay tín chấp
của Ngân hàng Thương mại. ................................................................. 14
1.3.2. Phân biệt giữa biện pháp tín chấp và biện pháp bảo lãnh ............ 15
1.4. Phạm vi và mục đích bảo đảm bằng tín chấp ................................ 18
3.2.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tín chấp ........................... 66
3.2.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về
tín chấp ................................................................................................. 72
Kết luận chương 3 .................................................................................. 73
KẾT LUẬN.................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 77
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế của mỗi quốc gia hiện nay, hoạt động bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ có vai trò đặc biệt quan trọng, là công cụ để bảo đảm quyền lợi
cho chủ thể quyền trong quan hệ. Trong quá trình thực hiện các chính sách
lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế nói chung và phát triển công
nghiệp, nông thôn nói riêng, việc quy định biện pháp bảo đảm cần linh hoạt.
Các biện pháp bảo đảm, bên cạnh các mục tiêu chung hướng tới lợi ích
của của tất cả các chủ thể trong xã hội thì ngoài ra, đối với cá nhân, hộ gia
đình nghèo Nhà nước đã ghi nhận chính sách bảo đảm riêng nhằm giúp đỡ
những chủ thể này có điều kiện tiếp cận nguồn vốn ngân hàng để xóa đói,
giảm nghèo, cải thiện về chất lượng cuộc sống. Đó là nguyên nhân, biện pháp
bảo đảm tín chấp ra đời và được kế thừa ghi nhận trong BLDS năm 2015.
Riêng trong lĩnh vực cho vay tín dụng bằng hình thức tín chấp tuy đã có
nhiều quy định cụ thể cả về nội dung và hình thức, nhưng vẫn còn tồn tại
nhiều bất cập, làm hạn chế hiệu quả chính sách lớn của Đảng và Nhà nước
về nông nghiệp, nông thôn.
Trước tình hình đó việc hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến
hình thức tín chấp nhằm làm cho quy định bảo đảm bằng tín chấp được thực
hiện lành mạnh, góp phần làm cho xã hội nói chung, kinh tế nông nghiệp,
nói chung trong đó có biện pháp tín chấp. Trong cuốn sách này, các tác giả đã
phân tích khái quát các quy định của pháp luật về tín chấp; đưa ra các bất cập
cũng như xây dựng các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tín chấp…
- Bài viết của Luật sư Trương Thanh Đức – Phó Tổng giám đốc Ngân
hàng Maritime Bank bình luận chế định giao dịch bảo đảm trong Bộ luật dân
sự có mục nói về giao dịch bảo đảm bằng tín chấp (6.2012). Trong bài viết
này, ông Đức lập luận và kiến nghị loại bỏ biện pháp tín chấp ra khỏi BLDS.
3
- Hội thảo khoa học tại Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
với chủ đề “Những bất cập của pháp luật giao dịch bảo đảm”, tổ chức năm
29.9.2014, có một phần nội dung về tín chấp.
- Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Quang đăng trên mạng
http://ngươibaovequyenloi ngày 14/12/2015 về chế định các biện pháp bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ trong dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi.
- Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, luận án
tiến sĩ luật học, Ngô Quốc Kỳ, Đại học Luật Hà Nội, năm 2003.
- Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật
dân sự Việt Nam hiện hành, luận án tiến sỹ, Vũ Thị Hồng Yến, Đại học Luật
Hà Nội, năm 2013.
- Bùi Thị Duyên (2014), Pháp luật về thế chấp tài sản để bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, luận văn thạc
sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia, Hà Nội.
- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế đối với
các quan hệ thương mại trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, luận án tiến sỹ,
Dương Quỳnh Hoa, Học viện Khoa học xã hội, năm 2012.
- Pháp luật về bảo lãnh thực hiện hợp đồng tín dụng, thực trạng và
thức bảo đảm bằng tín chấp; trình tự, thủ tục khi ký kế hợp đồng có biện pháp
bảo đảm là tín chấp và cơ chế kiểm soát rủi ro. Luận văn cũng phân tích thực
tiễn áp dụng pháp luật về tín chấp trong các giao dịch dân sự ngoài xã hội tại
địa bàn tỉnh Điện Biên và những kiến nghị hoàn thiện.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Để phù hợp với yêu cầu và phạm vi hạn hẹp của một luận văn thạc sỹ
luật học, học viên Nghiên cứu về quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện
5
hành về tín chấp quy định trong Bộ luật dân sự 2005, trong đó có mở rộng tìm
hiểu thêm sơ qua về quy định của pháp luật dân sự về biện pháp bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ bằng tín chấp trong giao dịch dân sự nói chung. Hiện trong pháp
luật dân sự Việt Nam hiện hành có quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn tại các tổ chức tín dụng
nên chủ yếu luận văn nói về vấn đề này; luận văn phân tích, bình luận các quy
định của pháp luật về tín chấp như: đối tượng tín chấp, chủ thể tín chấp, quyền
và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch tín chấp…Trên cơ sở phân tích các quy
định của pháp luật, tác giả nghiên cứu về thực tiễn áp dụng các quy định của
pháp luật dân sự về tín chấp của cá nhân hộ gia đình nghèo và các tổ chức tín
dụng tại tỉnh Điện Biên. Dựa trên các phân tích, bình luận về pháp luật và thực
tiễn áp dụng các quy định về tín chấp, luận văn đưa ra các giải pháp nhằm hoàn
thiện các quy định của pháp luật về tín chấp và phương thức giải quyết tranh
chấp có liên quan đến hình thức bảo đảm là tín chấp.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện thành công luận văn này, học viên đã sử dụng một cách
đồng bộ và tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học. Trước hết đó là
phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin. Ngoài phương pháp
nghiên cứu có tính chất lý luận cơ bản này, tác giả cũng đã sử dụng các
thấy được đâu là những vướng mắc mà quá trình thực thi pháp luật về biện pháp
bảo đảm bằng tín chấp trong hoạt động tín dụng và giao dịch dân sự ngoài xã
hội để có định hướng các giải pháp nhằm tháo gỡ.
Thứ ba, đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất
lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử các vụ án tranh chấp về biện pháp bảo
đảm bằng tín chấp trong hoạt động tín dụng; trong giao dịch dân sự xã hội.
6. Những điểm mới của luận văn
Luận văn có những điểm mới cơ bản như sau:
7
Thứ nhất: phân tích và hệ thống các nguyên lý có tính lý luận về tín
chấp và biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tín chấp của tổ chức
chính trị - xã hội và trong giao dịch dân sự ngoài xã hội tại địa bàn tỉnh Điện
Biên.
Thứ hai, phân tích thực tiễn giải quyết một số tranh chấp hợp đồng tín
dụng ngân hàng liên quan đến các hình thức bảo đảm, trong đó có hình thức
tín chấp của Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên.
Thứ ba, đưa ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tín
chấp; tín chấp trong giao dịch dân sự ngoài xã hội và phương thức giải quyết
các tranh chấp về biện pháp bảo đảm bằng tín chấp bằng trình tự Tòa án nhằm
nâng cao hiệu quả công tác xét xử.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục,
nội dung của Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tín chấp
Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về tín chấp
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về tín chấp tại tỉnh Điện Biên
và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tín chấp.
9
khá tương đồng về khái niệm BPBĐ tuy có sự khác nhau trong việc sử dụng
thuật ngữ.
Pháp luật Việt Nam và pháp luật của các nước đều thừa nhận bên bảo
đảm có quyền sử dụng tài sản bao gồm vật, giấy tờ có giá, quyền tài sản thuộc
quyền sở hữu của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của mình. Mặc dù có
nhiều định nghĩa khác nhau về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, nhưng
nhìn chung các định nghĩa này đều thống nhất ở một số nội dung sau đây:
(i) Biện pháp bảo đảm là một chế định, được Nhà nước ghi nhận trong
các văn bản pháp luật. Cụ thể: BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 và BLDS
năm 2015. Ngoài các BLDS, Nhà nước ban hành nhiều văn bản dưới luật quy
định cụ thể về vấn đề này như: Nghị định 163/2006/NĐ –
CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 về Giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là
“Nghị định 163/2006”); Nghị định 11/2012/NĐ – CP ngày 22 tháng 02 năm
2012 Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP
ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi
là “Nghị định 11/2012”); Nghị định 83/2010/NĐ – CP ngày 23 tháng 07 năm
2010 Về đăng ký giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là “Nghị định 83/2010”)…
(ii) Biện pháp bảo đảm được hình thành chủ yếu trên cơ sở thỏa thuận
giữa các bên chủ thể. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được tiếp cận
dưới góc độ giao dịch bảo đảm – được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa
bên bảo đảm và bên được bảo đảm. Các chủ thể này thỏa thuận lựa chọn biện
pháp bảo đảm trong các biện pháp được pháp luật ghi nhận, đối tượng bảo
đảm, giá trị bảo đảm và các nội dung liên quan khác.
(iii) Mục đích của các biện pháp bảo đảm là nâng cao trách nhiệm của
các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ,
đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực
chất mà là uy tín của tổ chức chính trị - xã hội.
11
Thứ tư, phạm vi bảo đảm của các biện pháp bảo đảm không vượt quá
phạm vi nghĩa vụ đã được xác định trong nội dung của quan hệ chính.
Thứ năm, các biện pháp bảo đảm mang tính chất dự phòng. Các biện
pháp bảo đảm nghĩa vụ chỉ được áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ. Tức là
tài sản bảo đảm chỉ xử lí để thực hiện nghĩa vụ khi nghĩa vụ không được thực
hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ. Nếu nghĩa vụ chính đã được thực
hiện thì biện pháp bảo đảm cũng được coi là chấm dứt.
1.2. Kh� trò nòng cốt trong việc thực hiện việc vay bằng tín chấp.
Với sự phối hợp và theo sự chỉ đạo chung, nên những năm mưa thuận,
gió hòa không bị thiên tai khắc nghiệt đe dọa, thì các khoản vay tại ngân hàng
hoặc các tổ chức tín dụng đều được các hộ gia đình thanh toán đúng hạn với ý
thức tự giác. Những năm gặp thiên tai khắc nghiệt thì ngân hàng hoặc các tổ
chức tín dụng tiến hành giảm lãi, thậm chí theo chủ trương của Chính phủ có
những năm xóa cả những khoản nợ gốc. Việc ngân hàng cho vay chủ yếu là
các hộ gia đình nên tính cộng đồng trách nhiệm của cả hộ gia đình đối với các
khoản vay là rất cao.
Là tỉnh thường hay gặp thiên tai khắc nghiệt, nên hàng năm Chính phủ
vẫn phải trợ cấp lương thực cho đồng bào dân tộc thiểu số (như tin báo An
ninh thủ đô ngày 26.3.2016 đưa tin về Chính phủ trợ cấp hàng nghìn tấn gạo
cho Điện Biên). Với sự giám sát, đôn đốc của tổ chức chính trị - xã hội cơ sở
và cộng đồng trách nhiệm của cả hộ gia đình nhưng không ít năm ngân hàng
phải giãn nợ, khoanh nợ, thậm chí xóa những khoản nợ gốc.
62
63
công cuộc xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội của địa phương và
phải bảo toàn nguồn vốn của Nhà nước.
Căn cứ danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng
chính sách xã hội tỉnh Điện Biên ngày 24/6/2010. Ngày 09/7/2010
Ngân hàng đã giải ngân cho bà Trần Thị Minh Thông vay số tiền l0.000.000
đồng, lãi suất 0,65%/tháng, thời hạn vay 36 tháng, thời hạn trả nợ ngày
09/7/2013. Hình thức cho vay không bảo đảm bằng tài sản mà ủy thác qua
Hội nông dân phường Tân Thanh. Người thừa kê quyền và nghĩa vụ đổi với
khoản vay của bà Thông là anh Đàm Viết Hùng con trai bà Thông. Sau khi
đến hạn trả nợ bà Thông vẫn không trả số tiền nợ gốc và nợ lãi cho Ngân
hàng chính sách xã hội, mặc dù đã được ủy ban nhân dân phường Tân Thanh,
Hội đoàn thể ủy thác, tổ trưởng tổ TK&VV và cán bộ Ngân hàng đôn đốc trả
nợ nhiều lần. Do đó, ngân hành chính sách xã hội khởi kiện yêu cầu Tòa án
giải quyết buộc bà Trần Thị Minh Thông và ông Đàm Viết Hùng phải trả số
tiền 12.967.337đồng trong đó nợ gốc là l0.000.000 đồng và nợ lãi phát sinh
tính đến ngày 01/02/2016 là 2.967.337đồng.
Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị Minh
Thông và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đàm Viết Hùng đã
được tống đạt họp lệ các văn bản tố tụng để bà Trần Thị Minh Thông, anh
Đàm Viết Hùng tham gia tố tụng và trình bày ý kiến, nhưng bà Thông và anh
Hùng không đến Tòa án làm việc nên không có lời trình bày về nội dụng vụ
án. Do đó Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của
pháp luật và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn bà Trần Thị Minh Thông và
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đàm Viết Hùng.
Qua quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án ra quyết định:
- Buộc bà Trần Thị Minh Thông phải trả cho Ngân hàng chính sách xã
hội (thông qua Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Điện Biên) số
65
bản án không được cao, đặc biệt là với những trường hợp bên vay cố tình
không trả.
Bản án số 2: Số 01/ 2016/ QĐST – KDTM, ngày 04 tháng 3 năm 2016
- Nguyên đơn: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam; Địa chỉ: Tòa
nhà CC5, khu Bán đảo Linh Đàm, phường Hoàn Liệt, quận Hoàng Mai, thành
phố Hà Nội. Người được đại diện theo ủy quyền: Bà Phùng Thị Tố Trinh
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn Hà, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thi Nga,
sinh năm 1964.
* Nội dung vụ việc:
Ông Nguyễn Văn Hà và Bà Nguyễn Thị Nga vay của Ngân hàng chính
sách xã hội chi nhánh tỉnh Điện Biên với khoản tiền vay 27.000.000 đồng để
phát triển kinh tế. Khoản vay được bảo đảm bởi Mặt trận Tổ quốc phường
Mường Thanh, thành phố Điện Biên. Đến hạn trả nợ, ông Hà và bà Nga
không trả nợ cho Ngân hàng mặc dù Ngân hàng và Mặt trận tổ quốc phường
Mường Thanh đã nhắc nhở, đốc thúc trả nợ nhiều lần. Tại phiên Tòa sơ thẩm,
các bên đương sự đã thỏa thuận được với nhau, cụ thể: Ồng Nguyễn Văn Hà
công nhận tính đến ngày 25/02/2016 ông Hà và bà Nga có nợ của ngân hàng
chính sách xã hội Việt Nam số tiền nợ gốc là 27.000.000 và tiền lãi là
6.801.570 đồng, tổng cộng là 33.801.570 đồng.
Ông Hà và bà Nga cam kết sẽ liên đới trả nợ cho ngân hàng một lần
vào ngày 30/3/2016. Bà Phùng Thị Tố Trinh là người đại diện theo ủy quyền
của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam đồng ý với cách trả nợ của ông
Hà và bà Nga
* Nhận xét vụ việc:
Đây là tranh chấp liên quan đến hợp đồng vay có bảo đảm bằng tín
chấp của tổ chức chính trị - xã hội, cụ thể trong vụ việc này bên bảo đảm là
Mặt trận Tổ quốc phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên, tỉnh Điện
chấp trong một văn bản pháp lý riêng.
67
Trong khoa học pháp lý dân sự, thì bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
luôn có tính chất tài sản do các bên trong quan hệ nghĩa vụ cam kết, thỏa
thuận trên cơ sở quy định của pháp luật. Về nguyên tắc, bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự dù được các bên thỏa thuận đều nhằm buộc người có nghĩa
vụ phải thực hiện đúng nghĩa vụ mà họ đã cam kết. Với tính chất là biện pháp
tài sản có tính chất dự phòng, nên trong trường hợp người có nghĩa vụ không
thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ những nghĩa vụ mà họ đã cam
kết, thỏa thuận, thì người có quyền có thể yêu cầu Tòa án, các cơ quan có
thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tùy
từng trường hợp và tùy thuộc vào sự cam kết, thỏa thuận, các biện pháp bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có những quy chế xử lý khác nhau đối với tài
sản bảo đảm.
Vì lý lẽ đó, rất nhiều các nhà khoa học quan điểm rằng, tín chấp không
thể là một biện pháp bảo đảm. Bởi, khi cá nhân, hộ gia đình nghèo vay tiền
của tổ chức tín dụng nhưng không trả được thì hoàn toàn không có bất kì một
phương thức xử lý nào để tiến hành thu hồi nợ cho bên có quyền như những
biện pháp bảo đảm khác. Do đó, những người theo quan điểm này nhận định
cần loại biện pháp này ra khỏi BLDS năm 2015. Đây không phải là một quan
điểm mới, mà từ khi ban hành Bộ luật dân sự năm 2005, có nhiều ý kiến khác
nhau về biện pháp bảo đảm là tín chấp. Nếu xét về góc độ kinh tế thuần túy,
có ý kiến cho rằng: “Thực chất thì trách nhiệm về tài sản của biện pháp bảo
đảm này hoàn toàn bằng không. Đó chỉ là một thứ bảo đảm ảo, như một thứ
thuốc giả, không màu sắc, không mùi vị và hoàn toàn vô tác dụng trong chế
định giao dịch bảo đảm. Do các quan hệ dân sự là quan hệ tài sản nên tác giả
còn nhấn mạnh rằng: Giao dịch tín chấp này không thuộc về quan hệ tài sản,
nợ của người vay vốn; (ii) Chức năng dự phòng: Ngân hàng, tổ chức tín dụng
69
chỉ áp dụng tín chấp nếu người vay vốn là thành viên của tổ chức chính trị xã hội được phép bảo đảm cho thành viên của tổ chức mình vay vốn.
Trong lần sửa đổi Bộ luật dân sự năm 2015, có ý kiến đã đã đề nghị bỏ
quy định về tín chấp vì không phù hợp với yêu cầu đối với các giao dịch dân
sự có tính chất hàng hóa – tiền tệ và quan hệ tín dụng. Nhưng cũng nhiều ý
kiến, trong đó có Thống đốc Ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Bình (nay là
Trưởng Ban kinh tế Trung ương) vẫn yêu cầu để nguyên biện pháp bảo lãnh
bằng tín chấp và yêu cầu các ngân hàng thương mại phải đẩy mạnh hoạt động
cho vay với hình thức bảo đảm bằng tín chấp.
Tác giả cho rằng, nội dung hướng dẫn về tín chấp nên được quy định
trong quy chế về tổ chức và hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội – một
ngân hàng thực hiện chính sách lớn của Chính phủ trong xóa đói, giảm nghèo.
Theo đó, tác giả kiến nghị loại bỏ tín chấp ra khỏi quy định của BLDS và ghi
nhận tín chấp trong một văn bản pháp lý riêng như Nghị định của Chính phủ.
Đây cũng là kiến nghị của Luật sư Trương Thanh Đức: “Sửa đổi Bộ luật Dân
sự theo hướng, loại bỏ tín chấp khỏi các biện pháp bảo đảm (nếu cần áp dụng
cho tín dụng chính sách thì chỉ cần quy định trong các văn bản dưới luật) và
không coi đây là một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ”.
Thứ hai, sửa đổi khoản 2 Điều 49 Nghị định 163/2006
Khoản 2 Điều 49 Nghị định 163/2006 quy định: “Cá nhân, hộ gia đình
nghèo được bảo đảm bằng tín chấp phải là thành viên của một trong các tổ
chức chính trị - xã hội quy định tại Điều 50 Nghị định này”. Đây là một quy
định không rõ ràng, vì đối với chủ thể là hộ gia đình thì điều luật này chưa thể
hiện rõ tất cả các thành viên của hộ hay chỉ cần một thành viên của hộ là
thành viên của tổ chức chính trị - xã hội là đủ điều kiện vay vốn. Chính vì sự
bất cập của luật, hiện nay đang có những tranh luận trái chiều nhau liên quan
thành tích trong lao động, sản xuất cũng được vay vốn bằng tín chấp có ý