BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG VỀ ĐẤT KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI TỪ THỰC TIỄN TẠI
HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
ĐỖ XUÂN CẢNH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGA
HÀ NỘI - 2016
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NN
: Nhà nước
QSDĐ
: Quyền sử dụng đất
SDĐ
: Sử dụng đất
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, em xin cảm ơn PGS.TS.NGUYỄN
THỊ NGA đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành khóa luận.
Em xin cảm ơn các thầy cô giảng dạy bộ môn Luật Đất Đai, các thầy cô
giảng dạy tại Viện Đại học Mở Hà Nội đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu.
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tôi luôn nhận được sự
động viên của bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình. Tôi xin chân
thành cảm ơn!
Giáo viên hướng dẫn
Tác giả luận văn
Đỗ Xuân Cảnh
…..MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu ............................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu ............................................................................. 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 4
5. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 5
6. Dự kiến những đóng góp mới về khoa học và thực tiễn của luận văn ..... 6
7. Kết cấu luận văn ........................................................................................ 6
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG ĐỐI VỚI
ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG
2.1.4. Giá đất tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất ............................. 45
2.1.5. Các trường hợp được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất .............. 50
2.2 Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về bồi thường đối với đất khi
Nhà nước thu hồi từ thực tiễn thực hiện một số dự án tại huyện Mường La,
tỉnh Sơn La .................................................................................................. 67
2.2.1 Khái quát một số tình hình, đặc điểm địa lý, tự nhiên địa bàn huyện
Mường La, tỉnh Sơn La................................................................................. 67
2.2.2. Tình hình thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện Mường La,
tỉnh Sơn La .................................................................................................. 71
2.2.3 Một số nhận định, đánh giá về tình hình bồi thường đối với đất khi Nhà
nước thu hồi tại một số dự án của huyện Mường La, tỉnh Sơn La ................. 80
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG
ĐỐI VỚI ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ........................................... 88
3.1. Những yêu cầu đặt ra nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật về bồi thường đối với đất khi Nhà nước thu hồi .... 88
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thường đối với đất
khi Nhà nước thu hồi .................................................................................. 89
3.2.1. Sửa đổi các quy định về bồi thườngđối với đất khi Nhà nước thu hồi . 89
3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi
thường đối với đất khi Nhà nước thu hồi.................................................... 92
3.3.1 Tăng cường việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật đất đai
nói chung và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng cho
cán bộ và nhân dân. ..................................................................................... 92
3.3.2. Kiện toàn tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà
nước thu hồi đất. .......................................................................................... 94
3.3.3 Tăng cường minh bạch, công khai, dân chủ trong quá trình thực thi
pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. ....................................... 95
nhiều trở ngại do hệ thống hồ sơ, cơ sở dữ liệu chưa đầy đủ, hệ thống pháp luật
về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở trung ương và địa
phương chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tế, nhiều nội dung quy định
chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích chung của xã hội, lợi ích của nhà
đầu tư và lợi ích của người dân có đất bị thu hồi trên cơ sở nền tảng đất đai thuộc
chế độ sở hữu toàn dân.
Trong những năm qua, huyện Mường La, tỉnh Sơn La là một trong những
địa bàn được quan tâm, tập trung đầu tư xây dựng nhiều công trình trọng điểm,
có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Sơn La nói riêng và đất nước nói chung như: Công trình thủy điện Sơn La, thủy
điện Nậm Chiến, thủy điện Huội Quảng, dự án trồng cây cao su... Một trong
những yếu tố quan trọng để có thể triển khai các dự án này đạt hiệu quả, đúng
1
tiến độ là công tác GPMB, bồi thường, hỗ trợ TĐCđối với các cá nhân bị thu hồi
đất, tuy nhiên hiện nay công tác này cũng còn gặp nhiều khó khăn do số lượng
đất đai thu hồi, số lượng hộ dân bị ảnh hưởng, di dời là rất lớn, có khi là cả một
cộng đồng dân cư, nếu không làm tốt công tác bồi thường, TĐC sẽ có thể gây ra
nhiều hệ lụy phức tạp, kéo dài.
Với mong muốn góp phần phản ánh thực trạng nêu trên nêu trên của công
tác bồi thường, giải phóng mặt bằng một cách khách quan, trung thực trên địa
bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La trên cơ sở những dự án cụ thể, những trở ngại
và vướng mắc mà thực tế huyện này được gặp phải trong thời gian qua, tìm hiểu
nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc để có những định hướng và giải pháp
khắc phục tốt hơn trong thời gian tới, em đã lựa chọn đề tài:“Pháp luật bồi
thường về đất khi nhà nước thu hồi từ thực tiễn tại huyện Mường La, tỉnh
Sơn La”.
2. Tình hình nghiên cứu
sung gì cho Luật Đất đai 2003”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11 tháng6/200;
Các phương thức bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; Tạp chí Luật học; Số
5/2011 của tác giả Nguyễn Thị Nga; đề tài khoa học cấp trường: pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất - Thực trạng và hướng hoàn
thiện của tác giả Nguyễn Thị Nga, trường Đại học Luật Hà Nội, 2013.
Nhìn chung, vấn đề bồi thường, giải pháp mặt bằng nói chung đã được rất
nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu; Tuy nhiên hiện nay, pháp luật đất đai nói
chung và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng trong
những năm gần đây đã có những thay đổi, bổ sung rất lớn từ Luật, Nghị định,
Thông tư đến các văn bản cấp địa phương, dẫn đến những nội dung về bồi
thường có nhiều thay đổi khác so với thời điểm các tác giả nghiên cứu trước. Do
đó, học viên nhận thấy đề tài của mình có nội dung không trùng với các công
trình nghiên cứu đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu và đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường về đất khi Nhà
nước thu hồi để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, xã
hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Rút ra những ưu điểm và những vấn đề còn tồn, vướng mắc trong việc
thực hiện chính sách bồi thường về đất tại một số dự án trên địa bàn huyện
3
Mường La, tỉnh Sơn La trên cơ sở tìm hiểu rõ nguyên nhân khách quan và chủ
quan của những tồn tại và vướng mắc.
Đề xuất ý kiến, góp phần hoàn thiện pháp luật và đẩy mạnh công tác bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho mục đích Quốc phòng an ninh, lợi
ích quốc gia, lợi ích côngcộng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
UBND tỉnh Sơn La về việc quy định một số điều cụ thể Luật đất đai năm 2013
và Nghị định số 43/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật Đất đai; Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND ngày 11/8/2014 của UBND
tỉnh Sơn La về việc quy định một số nội dung bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà
nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Sơn La và nghiên cứu một số dự án cụ thể và
thực tiễn công tác bồi thường trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của Chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà
nước của dân, do dân và vì dân, về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của triết học Mác xít là phương
pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử để phân tích những vấn
đề đặt ra trong luận văn.
-Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá: Phân tích, tổng hợp
số liệu, dữ liệu thu thập được tại UBND tỉnh Sơn La, Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Sơn La, UBND huyện Mường La... để đánh giá, phân tích thực trạng
công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồiđất.
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các
quy định pháp luật, tìm ra các điểm bất cập, chưa phù hợp, chưa thống nhất trong
hệ thống pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; điểm chưa
phù hợp giữa quy định pháp luật với thực tiễn thihành.
- Phương pháp phân tính, diễn dịch, tổng hợp, quy nạp: Phương pháp này
được sử dụng khi nghiên cứu một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề
này. Luận văn đã tiếp cận, thu thập và kế thừa các thông tin, tài liệu tổng kết thi
hành Luật Đất đai năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các số liệu của
các công trình khoa học đã công bố để trên cơ sở đó phân tích, đánh giá pháp
5
6
nước thu hồi và pháp luật về bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi.
Chương 2: Pháp luật về bồi thường đối với đất khi Nhà nước thu hồi và
thực tiễn thực hiện tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
thực thi pháp luật về bồi thường đối với đất khi Nhà nước thu hồi.
7
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG ĐỐI VỚI ĐẤT KHI NHÀ
NƯỚC THU HỒI VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG ĐỐI VỚI ĐẤT
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI
1.1. Lý luận chung về bồi thường đối với đất khi Nhà nước thu hồi
1.1.1. Tính tất yếu khách quan Nhà nước cần phải thu hồi đất cho các
mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia,
công cộng
Trong đời sống hàng ngày thuật ngữ “thu hồi” và “thu hồi đất” được sử
dụng phổ biến, trong trường hợp này được hiểu là Nhà nước sẽ tước đi quyền sử
dụng của các chủ sử dụng đất và qua đó thiết lập mối quan hệ sử dụng đất mới
phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội, thực tế thu hồi đất là giai đoạn
chuyển giao đất giữa chủ thể này với chủ thể khác với mục đích mới. Do vậy các
quy định về thu hồi đất cần cân bằng lợi ích của ba chủ thể: Nhà nước – chủ đầu
tư – người bị thu hồi đất.
Các thuật ngữ này còn được đề cập trong các giáo trình, từ điển về ngôn
ngữ hoặc trong các sách, báo pháp lý.
hay được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó, để đảm bảo tính
pháp chế, sự nghiêm minh trong việc thực thi pháp luật đất đai, Nhà nước có
quyền chấm dứt quyền sử dụng đất đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất
đai.
Như vậy thu hồi đất là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của Nhà nước và xã hội hoặc xử lý các vi phạm
về pháp luật đất đai của người sử dụng đất thông qua quyết định hành chính
nhằm chấm dứt mối quan hệ đất đai giữa Nhà nước và chủ thể bị thu hồi đất.
Nhà nước không trực tiếp chiếm hữu, SDĐ đai mà giao đất cho tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài (gọi chung là người SDĐ). Khi Nhà
nước có nhu cầu SDĐ vào mục đích chung như sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh; lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng,… thì Nhà nước phải thu hồi
đất của người SDĐ. Đặt trong bối cảnh đó, thu hồi đất là thực tế khó tránh khỏi,
có thể thấy điều đó từ những lý do sau:
Thứ nhất, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng
định:
9
“Phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại”. Để đạt được mục tiêu này, chúng ta cần đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ,
hiện đại, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đi đôi với cải cách thể chế
chính trị. Do vậy, việc chuyển một phần đất sang sử dụng vào mục đích khác
là điều không tránh khỏi, để có thể điều chỉnh đưa một phần đất thích hợp sang
sử dụng cho các yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà nước cần
thiết phải thực hiện việc thu hồi đất của người SDĐ, bởi việc tăng loại đất này
thì đồng nghĩa với việc phải giảm loại đất khác, bởi quỹ đất quốc gia là có giới
hạn.
thực tiễn cuộc sống, với thực tiễn quản lý Nhà nước về đất đai. Ở khía cạnh này,
hoạt động thu hồi đất được xem như là hoạt động tích cực và cần thiết phải làm
của Nhà nước nhằm để phân bổ và điều chỉnh đất đai hợp lý, tiết kiệm, nâng cao
hiệu quả sử dụng đất, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Có thể nhận thấy qua cáctác động và ảnh hưởng tích cực của hoạt
động thu hồi đất ở những phương diện sau đây:
Thứ nhất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra yêu cầu Nhà nước phải
dành một quỹ đất để xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật; xây dựng các khu công
nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XI đã khẳng định: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương,
đồng thuận; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc
lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt
Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát
triển cao hơn trong giai đoạn sau”[40]. Để đạt được mục tiêu này, chúng ta cần
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng hệ thống cơ sở hạ
tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đi đôi
với cải cách thể chế chính trị... Do vậy, việc chuyển một phần đất đang sử dụng
sang sử dụng vào mục đích khác là điều không tránh khỏi. Để có thể điều chỉnh
đưa một phần đất thích hợp sang sử dụng cho các yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, Nhà nước cần thiết phải thực hiện việc thu hồi đất của người
đang sử dụng đất, vì việc tăng loại đất này thì đồng nghĩa với việc phải giảm loại
đất khác, bởi quỹ đất quốc gia là có giới hạn.
11
Thứ hai, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, quá trình đô thị hóa ngày càng
được thúc đẩy, đặt ra yêu cầu Nhà nước phải xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật
và hệ thống hạ tầng xã hội nhằm cải thiện, nâng cao đời sống của người dân.
của người có đất bị thu hồi. Đất đai vừa là tư liệu sản xuất, vừa là môi trường
sống của người dân. Do đó mất đất, đồng nghĩa với mất chỗ ở, mất nơi tổ chức
hoạt động sản xuất kinh doanh. Nói cách khác, việc thu hồi đất của Nhà nước đã
ảnh hưởng bất lợi đến người dân bị mất đất. Có thể nhận thấy rõ trên các phương
diện sau đây:
Thứ nhất, người có đất bị thu hồi sẽ mất chỗ ở
Chỗ ở của người dân không chỉ đơn thuần là nơi họ ăn, ngủ mà còn gắn
với tài sản, môi trường, các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hóa đã gắn họ với
địa bàn đó. Khi thu hồi đất, Nhà nước không chỉ thu hồi quyền sử dụng diện tích
đất, mà còn tước đi của họ cơ hội tiếp nối cuộc sống quen thuộc của họ, buộc họ
phải chuyển sang một địa bàn mới với các quan hệ và cơ hội không giống trước.
Đối với những người khó thích nghi với điều kiện mới, nhất là đối với nông dân
đã trên 40 tuổi, đối với những người gắn với làng nghề truyền thống thì việc di
dời là một biến cố nặng nề. Nhiều người chưa được chuẩn bị sẵn cho việc di
chuyển như vậy nên tương lai của họ sẽ khó khăn hơn. Hơn nữa, khi chuyển nhà,
các chi phí phát sinh do cần xây dựng lại nhà cửa, vườn tược, tạo dựng hạ tầng
sinh hoạt, dịch vụ chung... khá lớn, nếu không có sự hỗ trợ bên ngoài, nhiều
người dân mất đất không thể tự giải quyết được. Đặc biệt, khi di dời bất đắc dĩ
chỗ ở do đất bị thu hồi, nhiều người dân có tâm lý không thoải mái, tâm lý bị
thua thiệt. Nếu không có sự đả thông tư tưởng và một số hình thức bồi thường
thích hợp, những người dân mất chỗ ở có thể bị kích động, phản ứng tiêu cực với
chính sách thu hồi đất của Nhà nước.
Thứ hai, người có đất bị thu hồi mất tư liệu sản xuất
Đất bị thu hồi là đất nông nghiệp hay phi nông nghiệp đều là tư liệu sản
xuất quan trọng của người sử dụng đất cũ. Khi Nhà nước thu hồi có bồi thường
bằng diện tích đất khác đi chăng nữa cũng làm cho người bị mất đất thua thiệt
trên các phương diện: mất địa thế của địa điểm đã quen dùng; mất một phần
thành quả đầu tư vào đất. Chính vì vậy, người sử dụng đất không muốn giao đất
cho Nhà nước nếu không được bồi thường xứng đáng.
Thứ tư, người có đất bị thu hồi thường bức xúc vì phân chia lợi ích không
công bằng
Do chuyển mục đích sử dụng đất hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng trên đất thu
hồi sẽ làm cho một số chủ thể kinh tế có lợi ích tăng lên (ví dụ như doanh nghiệp
14
nhận đất xây khu đô thị, người có đất hai bên đường mới làm...) đi đôi với thua
thiệt trông thấy của người mất đất dẫn đến các xung đột lợi ích gay gắt. Người
mất đất sẽ càng cảm thấy mình bị đối xử bất công hơn khi hàng xóm của mình
giàu lên không nhờ công sức của họ mà nhờ đất của mình bỏ ra làm đường, hoặc
sẽ phẫn nộ khi giá bồi thường cho họ thấp hơn nhiều giá đất doanh nghiệp bán
cho họ...
Công tác tái định cư khó khăn cũng làm cho người dân bị mất đất thua
thiệt. Do nhiều địa phương thiếu quỹ đất nông nghiệp để bồi thường thích đáng
cho nông dân, nên nhiều nông dân, sau khi nhận tiền bồi thường, đã không có
công ăn việc làm, không có kinh nghiệm kinh doanh nên tiền bồi thường nhanh
chóng tiêu hao. Nơi ở mới nhiều khi không được xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn
thiện làm cho cuộc sống của họ càng khó khăn hơn. Chính vì thế, nhiều người
dân mất đất, hoặc rơi vào nghèo khó, hoặc rơi vào tệ nạn xã hội, trở thành gánh
nặng cho chính họ và cho xã hội.
Ngoài ra, việc thu hồi đất không chỉ gây tác động bất lợi cho người mất
đất mà còn tạo thêm sức ép cho Nhà nước về phương diện tài chính, quản lý và
điều hành. Chính vì thu hồi đất có nhiều tác động không mong muốn như vậy
nên Nhà nước, một mặt phải có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý, dài hạn,
ổn định, nhằm hạn chế xáo trộn; mặt khác, phải xây dựng chính sách bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị mất đất một cách hợp lý.
1.1.3. Khái niệm và đặc điểm của bồi thường đối với đất khi Nhà nước
thu hồi
sửa đổi bổ sung một số điều Luật đất đai năm 1998 và các Nghị định hướng dẫn
thi hành. Tuy nhiên, việc “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi đất được thực
hiện chỉ đơn giản là việc Nhà nước đền bù thiệt hại do hành vi thu hồi đất gây ra
cho người SDĐ mà không đi kèm sau đó việc thực hiện các chính sách hỗ trợ,
TĐC. Hơn nữa, với thuật ngữ “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi đất, cho
người ta nghĩ ngay đến việc phải được đền bù 100% giá trị của mảnh đất bị thu
hồi (trả lại đầy đủ, tương xứng với sự mất mát hoặc vất vả), trong khi giá trị ban
đầu của đất đai không do con người tạo ra mà họ chỉ tạo ra giá trị tăng thêm
của đất đai (do người SDĐ đầu tư vào đất). Còn thuật ngữ “bồi thường” lại cho
thấy rằng, Nhà nước chỉ bồi thường những giá trị, thiệt hại hợp lý về đất và tài
sản trên đất cho người có đất bị thu hồi, kèm theo đó có thể là cơ chế hỗ trợ để
giúp người SDĐ nhanh chóng vượt qua những khó khăn khi bị thu hồi đất.
16
Khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001 được
Quốc hội ban hành, thuật ngữ “bồi thường” được sử dụng trở lại bởi sự hợp lý
của nó và tiếp tục xuất hiện trong Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số
197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định “Về bồi thường, hỗ
trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất" cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành
khác.
Khoản 6, Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 quy định: "Bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị QSDĐ đối với diện tích đất bị
thu hồi cho người bị thu hồi đất" Tuy nhiên, quy định này chưa thật sự chặt chẽ
và chưa thể hiện được trọn vẹn những giá trị thiệt hại mà Nhà nước sẽ bồi
thường khi thu hồi đất, đó không chỉ là giá trị QSDĐ mà còn phải tính đến giá trị
thiệt hại về tài sản có trên đất, ngoài ra phải tính đến những thiệt hại vô hình
khác, mà Nhà nước phải sử dụng thêm cơ chế hỗ trợ mới bù đắp được một cách
trọn vẹn những thiệt hại do thu hồi đất gây ra. Vì vậy trong Luật Đất đai năm