Vai trò của hội bảo vệ người tiêu dùng theo pháp luật việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
VAI TRÒ CỦA HỘI BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
MAI VĂN VIỆT
CHUYÊN NGÀNH

: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ

: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS: NGUYỄN THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

1.1.2. Đặc trưng của Hội bảo vệ NTD ............................................................. 10
1.2. Sự cần thiết và cơ sở pháp lý xác định vai trò của Hội Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trong việc bảo vệ người tiêu dùng ............................................. 12
1.2.1. Sự cần thiết của Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong việc bảo vệ
người tiêu dùng ............................................................................................... 12
1.2.2. Cơ sở pháp lý cho sự tồn tại , hoạt động và xác định vai trò của các Hội
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ................................................................... 15
1.3. Sự hình thành và phát triển của quy định pháp luật về vai trò của Hội bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam ............................................................... 17
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1986 ..................................................................... 17
1.3.2. Giai đọan từ năm 1986 đến năm 1999 ................................................... 17
1.3.3. Giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2010 ................................................... 20
1.3.4. Từ giai đoạn năm 2010 đến nay............................................................. 20
1.4. Vai trò của Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật của một số
nước trên thế giới ............................................................................................... 22
1.4.1. Malaysia................................................................................................ 22
1.4.2. Trung Quốc ........................................................................................... 23
1.4.3. Pháp ...................................................................................................... 25
1.4.4. Bài học rút ra cho Việt Nam .................................................................. 27


Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI BẢO VỆ QUYỀN
LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM ............................................................... 29
2.1. Quy định của pháp luật hiện hành về vai trò của Hội Bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng ............................................................................................................ 29
2.1.1. Quy định về vai trò của Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong công
tác phản biện và giám định xã hội ................................................................... 29
2.1.2. Quy định của pháp luật hiện hành về vai trò của Hội bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trong công tác giáo dục người tiêu dùng ................................ 35
2.1.3. Quy định của pháp luật hiện hành về vai trò của Hội bảo vệ quyền lợi

nghề và hiệp hội nghề nghiệp .......................................................................... 70
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội bảo vệ quyền lợi NTD
ở Việt Nam......................................................................................................... 71
3.2.1. Nhà nước cần có phương án hỗ trợ kinh phí cho các tổ chức BVNTD đồng
thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hiệu quả hoạt động của các tổ chức
này ................................................................................................................. 71
3.2.2. Đẩy mạnh việc mở rộng, phát triển các tổ chức BVNTD đồng thời kêu
gọi sự ủng hộ của xã hội đối với hoạt động của các tổ chức này ...................... 72
3.2.3. Đổi mới phương thức hoạt động để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ
NTD ............................................................................................................... 73
3.2.4. Tăng cường phối hợp có hiệu quả giữa cơ quan, tổ chức trong nước và
quốc tế ............................................................................................................ 75
3.2.5. Nâng cao nhận thức của xã hội đối với vị trí, vai trò của Hội BVQLNTD
trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.................................................... 76
3.2.6. Đẩy mạnh hoạt động giáo dục người tiêu dùng của Hội BVQLNTD ..... 78
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 81


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NTD

:

Người tiêu dùng

DN

:

:
:

World Trade Organization
Tổng cục đo lường chất lượng
Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013
của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực thương mại sản xuất hàng giả và
bảo vệ NTD


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:
Quan hệ giữa người tiêu dùng (NTD) và người cung cấp sản phẩm, dịch vụ
là một loại quan hệ dân sự. Trong mối quan hệ này, NTD thường ở vị trí yếu thế,
bởi sự hạn chế về thông tin, về kiến thức chuyên môn, về khả năng đàm phán hợp
đồng cũng như khả năng tự bảo vệ mình. Để tạo lập, gìn giữ và bảo vệ sự bình đẳng
giữa NTD và doanh nghiệp cần có sự can thiệp mạnh mẽ của pháp luật. Bảo vệ
NTD không chỉ là vấn đề của các quốc gia chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa
sang nền kinh tế thị trường, mà cũng là vấn đề thời sự của các quốc gia có nền kinh
tế thị trường phát triển.
Bảo vệ người tiêu dùng là một trong những hoạt động nhằm thực hiện một
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, qua đó góp phần duy trì và thúc đẩy một nền
kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Ở các quốc gia phát triển hoạt động bảo vệ
NTD nhận được sự quan tâm rất lớn từ phía chính phủ, đồng thời hiệu quả của hoạt
động này là rất rõ rệt. Ở Việt Nam hiện nay, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế, thị trường Việt Nam đã tràn ngập sản phẩm của nước ngoài, người tiêu dùng có
nhiều cơ hội sử dụng sản phẩm tốt hơn, rẻ hơn song bên cạnh đó nguy cơ bị vi
phạm quyền lợi người tiêu dùng cũng ngày càng lớn. Tuy Nhà nước và các doanh

rõ cơ sở chính sách và những đặc điểm cơ bản của tổ chức bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng ở Nhật Bản. - Bài viết “The future of products liability in America
(Tương lai của pháp luật trách nhiệm sản phẩm ở Hoa Kỳ)” của ba luật sư của Hoa
Kỳ là Gary Wilson, Vincent Moccio và Daniel O.Fallon đăng trên tạp chí William
Mitchell Law Review (năm 2000) đã bàn về chế độ trách nhiệm sản phẩm ở Hoa
Kỳ hiện tại, những tồn tại, bất cập và đề xuất một số hướng cải cách đổi mới. “Products Liability – Why the EU does not need the restatement (third) (Chế định
trách nhiệm sản phẩm – Vì sao Cộng đồng Châu Âu không cần theo mô hình của
Hoa Kỳ)” của Giáo sư Rebekah Rollo (Đại học Maryland - Đức) trong bài viết đăng
trên tạp chí “Brooklyn Law Review, Spring, 2004” đã nghiên cứu chế độ trách
nhiệm sản phẩm theo quy định của Cộng đồng Châu Âu (EU) và tác động của
2


những thay đổi trong chính sách trách nhiệm sản phẩm của Hoa Kỳ tới chính sách
tương tự của Cộng đồng Châu Âu. - Công trình “The Evolution of Products
Liability Law (Quá trình phát triển của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm)” của
Giáo sư Luật David G.Owen (Đại học South Carolina – Hoa Kỳ) đăng trên tạp chí
“The Review of Litigation (Symposium 2007)” đã nghiên cứu khá tỉ mỉ quá trình
phát sinh, phát triển của chế độ trách nhiệm sản phẩm ở Hoa Kỳ, nguồn gốc, những
ý tưởng cơ bản của chế độ trách nhiệm ấy. - “Products Liability in the United
Kingdom (Chế định trách nhiệm sản phẩm ở Vương quốc Anh)” Giáo sư Jane
Stapteton (Đại học quốc gia Australia), đăng trên tạp chí “Texax International Law
Journal, Winter 1999” đã đề cập khá chi tiết về nguồn gốc, chức năng và các đặc
điểm cơ bản trong chế định trách nhiệm sản phẩm ở Anh quốc. Trong năm 2000,
cũng chính giáo sư Jane Stapleton đã đăng bài viết “Products Liability, an Anglo –
Australia Perspective (Chế định trách nhiệm sản phẩm - từ cách nhìn của châu Úc)”
trên tạp chí “Washburn Law Joural, Spring, 2000” trong đó ông làm rõ quan niện
của Úc về chế độ trách nhiệm sản phẩm. - Chuyên khảo “Products liability” của
giáo sư D.Cray, trường đại học Carleton, Otawa, Canada, đã xem xét vấn đề trách
nhiệm sản phẩm trong pháp luật của các quốc gia dưới cách nhìn luật học so sánh.

2008;

Leon E. Trakman với “Adhesion contracts and the twenty first Century

consumer“,2011; American Bar Association Central and East European Law
Initiative với “Concept Paper on Consumer Protection” November 25, 1992.
2.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Trước năm 1986, ở Việt Nam hầu như không có bất kỳ một công trình nào
nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD. Bởi lẽ, thuật ngữ NTD chỉ xuất hiện
trong nền kinh tế thị trường. Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1986 đã
đánh dấu bước chuyển của nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tham gia của
nhiều thành phần kinh tế. Cùng sự phát triển của kinh tế thị trường, với sự cạnh
tranh gay gắt giữa các thương nhân, sự xuống cấp của đạo đức và lòng tham đối với
khoản lợi nhuận kếch xù, quyền lợi ích của NTD bắt đầu bị xâm phạm ngày càng
nghiêm trọng hơn.

4


Có thể nói, trong số những công trình mang tính tiên phong nghiên cứu vấn
đề bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam, không thể không nhắc đến “Tìm hiểu Luật
bảo vệ người tiêu dùng các nước và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam” của
Viện Nhà nước và Pháp luật biên soạn, Nxb Lao động, 1999. Cuốn sách này là tài
liệu tham khảo rất có giá trị đối với các học giả cũng như những độc giả trong nước
quan tâm đến Luật bảo vệ quyền lợi NTD của một số quốc gia trên thế giới. Bên
cạnh việc giới thiệu Luật bảo vệ NTD của Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Nam
Triều Tiên, Ấn Độ...cũng như một số biện pháp bảo vệ NTD của các quốc gia. Cuốn
sách đã điểm qua hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD của Việt Nam, mà cụ thể là Hội
tiêu chuẩn và bảo vệ NTD Việt Nam (VINASTAS). Cuốn sách đã nêu bật được vấn

của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nghiã vụ của cơ quan nhà nước
cũng như các tổ chức xã hội bảo vệ NTD; TS. Đặng Vũ Huân với bài viết “Pháp
luật và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng” đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số
chuyên đề về pháp luật và tiêu dùng tháng 1 năm 2005; PGS.TS. Nguyễn Thị Vân
Anh với bài viết “Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo về quyền lợi người tiêu
dùng” trên tạp chí Luật học, số 11/2010. Ngoài ra PGS. TS. Nguyễn Thị Vân Anh
còn là chủ biên của cuốn “Vai trò của Hội bảo vệ người tiêu dùng trong việc bảo vệ
người tiêu dùng” nhà xuất bản chính trị Quốc gia phát hành năm 2012; TS. Phan
Huy Hồng có bài: “Vai trò của các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam”,
báo cáo tại Hội thảo quốc tế do Viện Nhà nước và Pháp luật và KAS tổ chức tháng
2/2008. Bên cạnh các bài viết và tham luận nói trên, một số luận văn, luận án cũng
có giá trị tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài đó là luận văn Thạc sỹ về
“Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, năm
2007 của tác giả Bùi Thị Long, năm 2007, Viện Nhà nước và Pháp luật; luận án tiến
sỹ về “Hoàn thiện pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay”, năm
2013 của tác giả Nguyễn Thị Thư, Viện Nhà nước và Pháp luật...
3. Mục đích nghiên cứu đề tài
- Làm rõ một số vấn đề cơ bản về tổng quan vai trò của Hội bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng ở Việt Nam.
- Tìm hiểu rõ thực trạng pháp luật về vai trò của Hội bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng Việt Nam.

6


- Tìm hiểu kinh nghiệm bảo vệ NTD của một số nước trên thế giới và các đề
xuất nhằm tăng cường hiệu quả của công tác bảo vệ NTD ở nước ta
- Đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
thực thi quy định pháp luật về vai trò Hội bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

đề xuất mà luận văn đưa ra đều trên cơ sở khoa học và thực tiễn, vì vậy, luận văn
không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có giá trị thực tiễn. Là sự đóng góp
không nhỏ trong việc làm cho NTD có thể hiểu rõ hơn về vai trò của Hội bảo vệ
người tiêu dùng và những quy định pháp luật về vai trò của Hội. Luận văn cũng có
thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học
trong lĩnh vực pháp luật quy định về vai trò của Hội bảo vệ người tiêu dùng.
7. Bố cục của luận văn:
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được chia thành 3 chương.
Chương 1: Tổng quan về vai trò của Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Chương 2: Thực trạng pháp luật quy định vai trò của Hội bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi quy định pháp
luật về vai trò của Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam.

8


Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
1.1. Khái niệm, bản chất của Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.1.1. Khái niệm Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Hiện nay, tại Việt Nam chưa có khái niệm cụ thể về tổ chức xã hội tham gia
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như khái niệm về Hội bảo vệ quyền lợi NTD
. Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại Điều 27, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng thì tổ chức xã hội thành lập theo quy định của pháp luật và hoạt động theo
điều lệ được tham gia hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD. Vì vậy, các tổ chức xã hội
bao gồm cả các tổ chức chính trị xã hội như: Mặt trận tổ quốc, Hội Nông dân, Hội
phụ nữ v.v…đều tham gia công tác bảo vệ NTD.

BVQLNTD;
- Tham gia xây dựng pháp luật, chủ trương, chính sách, phương hướng, kế
hoạch và biện pháp về BVQLNTD;
- Thực hiện nhiệm vụ được nhà nước giao;
- Tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về kiến thức tiêu dùng.
Tính đến thời điểm tháng 5/2016, trên toàn quốc đã có 51 Hội Bảo vệ người
tiêu dùng hoạt động trong phạm vi của tỉnh và 01 Hội Bảo vệ người tiêu dùng hoạt
động liên tỉnh được thành lập. [20, tr8].
1.1.2. Đặc trưng của Hội bảo vệ NTD
Bản chất của Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thể hiện trong tôn
chỉ, mục đích của Hội và được quy định rõ tại Điều lệ hoạt động của Hội. Các Hội
10


được thành lập tại các địa phương khác nhau, do các cơ quan có thẩm quyền khác
nhau cho phép thành lập, có quy định khác nhau trong điều lệ hoạt động nhưng đều
thể hiện những nét đặc trưng sau:
Thứ nhất, Hội BVNTD là một tổ chức xã hội hoạt động không vì mục đích
lợi nhuận. Hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện của công dân, tổ chức Việt
Nam, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng và các nhà sản xuất chân chính góp phần phát triển bền vững và ổn
định của nền kinh tế đất nước.
Thứ hai, Hội BVNTD là một tổ chức xã hội bởi Hội là tập hợp của công dân,
tổ chức Việt Nam, có chung mục đích tham gia vào Hội là để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người tiêu dùng cũng như các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh
doanh chân chính. Ngoài ra, Hội được thành lập để thực hiện các công việc xã hội,
các khoản thu của Hội mà không vì mục đích kinh doanh, không dùng các khoản
thu được vào sản xuất hoặc đầu tư khác,
Thứ ba, đặc thù của Hội BVNTD là Hội không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng của các thành viên trong Hội mà Hội còn bảo vệ cho tất cả những người

kinh doanh chân chính vì mục tiêu đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và ổn
định.
1.2. Sự cần thiết và cơ sở pháp lý xác định vai trò của Hội Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trong việc bảo vệ người tiêu dùng
1.2.1. Sự cần thiết của Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong việc bảo vệ
người tiêu dùng
Quan hệ giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ là quan hệ dân sự phổ biến trong xã hội. Đây là loại quan hệ được thực hiện chủ
yếu trên cơ sở hợp đồng mua-bán, mà theo đó, người tiêu dùng là người mua hoặc
sử dụng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp không vi mục đích kinh
doanh kiếm lời. Quan hệ dân sự này được thiết lập, thực hiện theo nguyên tắc cơ
bản: thỏa thuận, bình đẳng của pháp luật dân sự.

12


Khi nền kinh tế còn ở trình độ sơ khai, quan hệ dân sự chủ yếu là quan hệ
mua-bán hàng hóa giữa các cá nhân với nhau trong xã hội, khi đó hàng hóa, dịch vụ
chủ yếu cũng ở dạng đơn giản, chất lượng hàng hóa dễ nhận biết và việc giao kết
hợp đồng diễn ra không phức tạp. Đến thế kỷ XX, khi khoa học và công nghệ phát
triển vượt bậc, đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin thì hàng hóa, dịch vụ
kỹ thuật, công nghệ phức tạp hơn. Hàng mỹ phẩm, sản phẩm dinh dưỡng có sử
dụng nguyên liệu hoặc chất phụ gia cùng với các loại hàng cơ khí, điện tử có các bộ
phận gây ảnh hưởng đến sự an toàn cho ngưởi sử dụng xuất hiện ngày càng nhiều.
Người tiêu dùng có nguy cơ mua phải những hàng hóa, dịch vụ không an toàn cho
sức khỏe của mình bởi họ không đủ chuyên môn để đánh giá được chất lượng hàng
hóa, dịch vụ đó bằng mắt thường. Ngoài ra, trước đây, nhà phân phối là những
người có kỹ năng để lựa chọn hàng hóa có chất lượng nhưng ngày nay bản thân họ
cũng bị hạn chế về hiểu biết đối với công nghệ của các sản phẩm họ bán. Mặt khác,
trong nền kinh tế thị trường hiện nay, người tiêu dùng vì nhiều lý do mà không còn

người tiêu dùng có ảnh hưởng nhất trên thế giới. Liên đoàn người tiêu dùng Hoa Kỳ
(thành lập năm 1967) với chức năng đại diện và cổ vũ quyền lợi của người tiêu
dùng trước các cơ quan dân cử và các cơ quan điều tiết liên bang cũng là tổ chức có
vai trò rất lớn trong việc xây dựng chính sách bảo vệ người tiêu dùng tại Hoa Kỳ.
Tại Canada có Hiệp hội người tiêu dùng (Consumers Association of Canada) được
thành lập từ năm 1947. Số lượng thành viên của Hiệp hội này đã có lúc lên tới trên
150 ngàn. Tại Anh Quốc, Hiệp hội người tiêu dùng toàn quốc (Consumers’
Association) cũng được thành lập từ năm 1957. Đây là tổ chức phát hành ấn phẩm
quan trọng về bảo vệ người tiêu dùng có tên là “Which” trong đó đăng tải các thông
tin độc lập về chất lượng, tính năng của các loại hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.
Ấn phẩm Which rất phổ biến ở Anh và đã từng có thời điểm số lượng người đặt
mua lên tới hơn 1 triệu.[5].
Ngày nay, phong trào bảo vệ người tiêu dùng đã đạt tới quy mô toàn cầu. Sự
hiện diện của Quốc tế người tiêu dùng (CI) - tổ chức quốc tế duy nhất của các
nhóm, các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng thuộc tất cả các châu lục là một minh
chứng điển hình. Tổ chức này được thành lập vào ngày 1/4/1960 bởi các nhóm bảo
vệ người tiêu dùng của Tây Âu, Úc và Hoa Kỳ tuy nhiên, tính đến hết năm 2010, tổ

14


chức này đã quy tụ khoảng hơn 220 tổ chức, hội bảo vệ người tiêu dùng thành viên
đến từ 115 quốc gia trên khắp các châu lục. [5]
Hội tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam là thành viên của tổ
chức CI từ năm 1992. CI có chức năng hỗ trợ tăng cường năng lực cho thành viên
và phong trào người tiêu dùng thế giới, đấu tranh trên phạm vi quốc tế cho những
chính sách có liên quan đến người tiêu dùng. Các hoạt động của CI có tính chất
không vì lợi nhuận, kinh phí hoạt động dựa vào sự ủng hộ của chính phủ các nước
và các tổ chức phi chính phủ.
Cùng với việc ra đời của Tổ chức Người tiêu dùng Quốc tế thì ở nhiều quốc

Nghị định số 45/2010/NĐ/CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định chi
tiết về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Khoản 1 Điều 2 Nghị định này quy định:
“Hội được hiểu trong Nghị định này là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức
Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp,
đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả,
góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt
động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan”.
Hội BVQLNTD (Bao gồm Hội Trung ương và Hội ở các tỉnh), là đối tượng
áp dụng của Nghị định này. Ngoài ra, Hội BVQLNTD còn chịu sự điều chỉnh của
các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng như: Luật
BVQLNTD năm 2010; Nghị định số 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVQLNTD.
Điều 1 của Luật BVQLNTD quy định rõ: “Luật này quy định về quyền và
nghĩa vụ của người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức xã hội trong bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng; giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng”.
Ngoài Luật BVQLNTD năm 2010, Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, Hội
BVQLNTD còn chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự và các văn bản quy phạm
pháp luật khác có liên quan.

16


1.3. Sự hình thành và phát triển của quy định pháp luật về vai trò của Hội bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam
Việt Nam mới chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường trong thời gian chưa
dài. Vì vậy, việc bảo vệ người tiêu dùng trong pháp luật Việt Nam còn là lĩnh vực

phẩm phù hợp nhất với nhu cầu và túi tiền của mình thay vì buộc phải mua theo tem
phiếu như trước kia.
Những quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giai đoạn này
nằm tản mạn, rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Hiến
pháp Việt Nam năm 1992 (Điều 28); Bộ luật hình sự năm 1985 với các tội: Tội làm
hàng giả, tội buôn bán hàng giả (Điều 167); Tội lừa dối khách hàng (Điều 170)..
Ngoài ra, một số pháp lệnh và nghị định có liên quan cũng đề cập vấn đề bảo vệ
người tiêu dùng như pháp lệnh đo lường ngày 06/7/1990, Pháp lệnh chất lượng
hàng hóa ngày 27/12/1990, Nghị định số 140-HĐBT ngày 25/4/1991 quy định về
kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả, Bộ luật dân sự năm 1995…Tuy
nhiên, trước đòi hỏi của sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng đã bộc lộ
những nhược điểm như các quy định pháp luật còn mang tính chung chung, đặc biệt
là thiếu cơ chế bảo đảm thực hiện, do vậy, hiện tượng kinh doanh thiếu trung thực,
lừa dối người tiêu dùng thường xuyên xảy ra và chưa có cơ chế giải quyết thống
nhất. Thêm vào đó, việc giáo dục cho người tiêu dùng nhận thức đúng và đủ về
hàng hóa chưa được quan tâm đúng mức.
Khi nền kinh tế nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa bên cạnh những mặt tích cực do nền kinh tế thị trường đem
lại thì cũng này sinh những hành vi vi phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích
chính đáng của người tiêu dùng như gây bất ổn cho nền kinh tế và cho xã hội. Ngay
khi nảy sinh vấn đề người tiêu dùng, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến công
tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong
quan hệ giữa những người sản xuất với người tiêu dùng.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status