Nghiên cứu vai trò của Hội Bảo vệ người tiêu dùng trong việc bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam - Pdf 48

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
********************

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƢỜNG

ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA HỘI BẢO
VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG TRONG VIỆC
BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG Ở
VIỆT NAM

Mã số: LH-2010-03/ĐHL - HN
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS. NGUYỄN THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI - 2011


NHỮNG NGƢỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thị Vân Anh
Trƣờng Đại học Luật Hà Nội
Các tác giả chuyên đề khoa học:
1. TS. Nguyễn Thị Vân Anh
(Trƣờng Đại học Luật Hà Nội)
2. Ths. Nguyễn Văn Cƣơng
(Bộ Tƣ Pháp)

Chuyên đề 1
Chuyên đề 2

3. CN. Đỗ Gia Phan

MỤC LỤC
TỔNG THUẬT....................................................................................................

1

CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU…………………………………………….

41

Chuyên đề 1: Tổng quan pháp luật về bảo vệ ngƣời tiêu dùng ..........................

41

Chuyên đề 2: Các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng ở Việt
Nam……………………………………………………………..
Chuyên đề 3: Quá trình hình thành và phát triển các hội bảo vệ ngƣời tiêu
dùng ở Việt Nam………………………………………………..
Chuyên đề 4: Địa vị pháp lý của các hội bảo vệ ngƣời tiêu dùng theo pháp
luật Việt Nam hiện hành………………………………………...
Chuyên đề 5:

Vai trò của hội bảo vệ ngƣời tiêu dùng trong phản biện và giám
định xã hội………………………………………………………

Chuyên đề 6: Vai trò của hội bảo vệ ngƣời tiêu dùng trong việc giáo dục
ngƣời tiêu dùng…………………………………………………

53

83

Phụ lục 3: Báo cáo khảo sát tình hình chất lƣợng dây điện bọc nhựa PVC…….

153
160

171
181
181

182
184


Phụ lục 4: Mẫu đơn khiếu nại của ngƣời tiêu dùng……………………………..

191

Phụ lục 5: Phiếu trƣng cầu ý kiến……………………………………………….

192

Phụ lục 6: Kết quả điều tra thực trạng nhận thức của ngƣời tiêu dùng về vai trò
của hội bảo vệ ngƣời tiêu dùng trong việc bảo vệ ngƣời tiêu dùng...
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

195
211


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tổ chức và cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

5

LHQ

Liên hiệp quốc

6

CI

Tổ chức Quốc tế ngƣời tiêu dùng

7

VPTVKN

Văn phòng tƣ vấn khiếu nại

8

NKN

Ngƣời khiếu nại

9

NBKN


NTD, tiếp nhận và xử lí các khiếu nại của NTD, tham gia giáo dục NTD, tuyên truyền
hƣớng dẫn NTD bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình…
Tuy nhiên, do phải đối mặt với những khó khăn về nguồn lực tài chính, nhân lực
cũng nhƣ kinh nghiệm hoạt động, và những khó khăn khác, các tổ chức bảo vệ quyền
lợi ngƣời tiêu dùng tại Việt Nam nhìn chung hoạt động chƣa có hiệu quả, chƣa thể hiện
tốt vai trò của tổ chức xã hội trực tiếp bảo vệ quyền lợi của NTD trong tình hình mới.

1


Ngày 17/11/2010, Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông
qua Luật bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng. Chƣơng III của Luật đã dành 3 điều (từ
Điều 27 đến Điều 29) quy định về trách nhiệm của tổ chức xã hội trong việc bảo vệ
quyền lợi NTD. Những quy định này là cơ sở pháp lí quan trọng khẳng định trách
nhiệm, tác dụng cũng nhƣ chức năng của các tổ chức xã hội nói chung và các hội bảo vệ
NTD nói riêng trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NTD.
Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi cho rằng việc thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu vai trò của hội bảo vệ NTD trong việc bảo vệ NTD” là rất cần thiết để
đánh giá thực trạng hoạt động của tổ chức này, từ đó đƣa ra một số giải pháp tổng thể
đảm bảo cho các hội bảo vệ NTD hoạt động thực sự có hiệu quả.
Mặt khác những nghiên cứu của đề tài này cũng rất thiết thực cho việc giảng dạy
các vấn đề liên quan đến hoạt động của hội bảo vệ NTD, một trong những nội dung của
môn học Luật cạnh tranh và bảo vệ NTD tại trƣờng Đại học Luật Hà Nội (môn học này
sẽ chính thức đƣợc giảng từ học kỳ I năm học 2011-2012 cho sinh viên chính quy khóa
33).
1.2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Sau một thời gian tƣơng đối dài tìm hiểu tình hình nghiên cứu các vấn đề liên
quan đến vai trò của hội bảo vệ NTD trong việc bảo vệ NTD, chúng tôi nhận thấy trong
các công trình khoa học đã đƣợc công bố hầu nhƣ chƣa có công trình khoa học nào
nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ về vấn đề này.

Từ những phân tích trên có thể thấy, việc nghiên cứu một cách hệ thống và toàn
diện các vấn đề về vai trò của hội bảo vệ NTD trong việc bảo vệ quyền lợi NTD đặc
biệt trong bối cảnh Luật bảo vệ NTD đã đƣợc thông qua và sẽ có hiệu lực từ 1/7/2011 là
thực sự cần thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn.
1.3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đặt ra mục đích nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc
xác định vai trò của hội bảo vệ NTD trong việc bảo vệ quyền lợi của ngƣời tiêu dùng
cũng nhƣ đánh giá những mặt làm đƣợc cũng nhƣ chƣa làm đƣợc của hội. Trên cơ sở đó
đƣa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hội bảo vệ ngƣời tiêu
dùng, giúp ngƣời tiêu dùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Để đạt đƣợc mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau
đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận làm cơ sở xác định vai trò của hội bảo vệ
NTD trong việc bảo vệ NTD ở Việt Nam
- Nghiên cứu quy định pháp luật về các vấn đề liên quan đến vai trò của hội bảo
vệ NTD ở Việt Nam
- Vai trò của hội bảo vệ NTD thông qua các mặt hoạt động chính của Hội
- Nghiên cứu kinh nghiệm nƣớc ngoài trong việc thừa nhận và bảo đảm thực hiện
vai trò của hội bảo vệ NTD trong việc bảo vệ NTD để Việt Nam tham khảo

3


1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu làm sáng tỏ vai trò của hội bảo vệ NTD trong việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của NTD, trong khi thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu đã sử
dụng rộng rãi các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học sau:
- Phƣơng pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
- Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi cá nhân
- Phƣơng pháp chuyên gia

miền Nam), cán bộ, giảng viên công tác tại Trƣờng Đại học Luật Hà Nội. Thứ hai,
phỏng vấn thăm dò ý kiến của một số cán bộ Ban bảo vệ NTD của Cục quản lí cạnh
tranh và những hội viên của một số hội bảo vệ ngƣời tiêu dùng (Hội Tiêu chuẩn và bảo
vệ NTD Việt Nam, Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ NTD tỉnh Kiên Giang, Hội bảo vệ quyền
lợi NTD tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Hội bảo vệ quyền lợi NTD thành phố Hồ Chí Minh).
Trên cơ sở tài liệu thu thập và kết quả khảo sát, các cộng tác viên tiến hành viết chuyên
đề của đề tài.
2. PHẦN NỘI DUNG
Sau thời gian nghiên cứu, nhóm tác giả đã hoàn thành công việc và kết quả
nghiên cứu đƣợc thể hiện ở những nội dung cơ bản đƣợc trình bày dƣới đây:
2.1. TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG VÀ HỘI BẢO VỆ
NGƢỜI TIÊU DÙNG

2.1.1. Cơ sở pháp lý xác định vai trò của hội bảo vệ ngƣời tiêu dùng trong việc bảo
vệ ngƣời tiêu dùng
Quan hệ giữa NTD (ngƣời mua và/hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ không vì mục
đích kinh doanh kiếm lời) và thƣơng nhân là một loại quan hệ dân sự phổ biến trong xã
hội, đƣợc thực hiện chủ yếu trên cơ sở hợp đồng mua bán và theo nguyên tắc cơ bản là thỏa
thuận, bình đẳng của pháp luật dân sự.
Khi nền kinh tế còn ở trình độ sơ khai, hàng hóa, dịch vụ chủ yếu cũng ở dạng
đơn giản, chất lƣợng hàng hóa dễ nhận biết, việc giao kết hợp đồng diễn ra không phức
tạp, quan hệ giữa thƣơng nhân và NTD ở vào vị trí ngang bằng nhau nên không cần có
quy định riêng bảo vệ quyền lợi NTD. Đến thế kỷ 20 khi khoa học công nghệ phát triển
vƣợt bậc đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin thì hàng hóa, dịch vụ có kỹ
thuật, công nghệ phức tạp hơn. Hàng mỹ phẩm, sản phẩm dinh dƣỡng có sử dụng
nguyên liệu hoặc chất phụ gia cùng với các loại hàng cơ khí, điện tử có các bộ phận gây
ảnh hƣởng đến sự an toàn cho ngƣời sử dụng xuất hiện ngày càng nhiều. Ngƣời tiêu
dùng có nguy cơ mua phải những hàng hóa, dịch vụ không an toàn cho sức khỏe của
mình bởi họ không đủ chuyên môn để đánh giá đƣợc chất lƣợng hàng hóa, dịch vụ đó
bằng mắt thƣờng. Mặt khác, trong nền kinh tế hiện nay, ngƣời tiêu dùng vì nhiều lí do

thành, phát triển và là một công cụ quan trọng đƣợc sử dụng để bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp của ngƣời tiêu dùng. Trên thế giới, nhìn chung có hai cách tiếp cận cơ bản
thông qua đó nhà nƣớc bảo vệ quyền lợi NTD là:
(i) Cách thứ nhất, xây dựng một hệ thống pháp lý bảo vệ các quyền của NTD
đồng thời quy định trách nhiệm pháp lý của thƣơng nhân đối với NTD sau khi thƣơng
1
2

Denis Keenan and Sarah Riches, Business Law, Longman Publishing 2002, page 369
http:www.consumersinternational.org/who-we-are/we-are-50/ci-today

6


nhân đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của NTD. Theo cách này, nhà nƣớc ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định các vấn đề sau:
* Quy định các quyền cơ bản của NTD. Hầu hết các quốc gia đều quy định ngƣời
tiêu dùng có 8 quyền sau: Quyền đƣợc thỏa mãn các nhu cầu cơ bản; Quyền đƣợc an
toàn; Quyền đƣợc chọn lựa; Quyền đƣợc thông tin; Quyền đƣợc giáo dục về tiêu dùng;
Quyền giải quyết và đƣợc bồi thƣờng thiệt hại; Quyền đƣợc đại diện (hay quyền đƣợc
lắng nghe); Quyền đƣợc hƣởng một môi trƣờng lành mạnh và bền vững.
* Quy định nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà cung cấp, ngƣời bán lẻ và những
ngƣời khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho công chúng phải chịu trách nhiệm về các
thiệt hại của sản phẩm do mình cung ứng gây ra trong quá trình tiêu dùng, chế định này
đƣợc gọi là trách nhiệm sản phẩm (product liability).
* Quy định về các hành vi thƣơng mại không công bằng: là những hành vi làm
biến dạng hoặc có khả năng làm biến dạng một cách cơ bản các quyết định của NTD,
liên quan đến sản phẩm và từ đó xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của NTD,
bao gồm những hành vi: gây nhầm lẫn, lừa dối khách hàng (fraud, misleading
practices), cƣỡng bức, lạm dụng đối với NTD3.

vệ quyền lợi NTD đƣợc ban hành năm 1999, trƣớc đó vấn đề bảo vệ NTD chƣa đƣợc
nhà nƣớc và xã hội quan tâm. Để hƣớng dẫn thi hành Pháp lệnh bảo vệ NTD, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 69/2001/ND-CP của Chính phủ ngày 2/10/2001 quy định chi
tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD và sau đó Nghị định này đƣợc thay thế
bởi Nghị định 55/2008/ND-CP ngày 24/4/2008. Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD
(1999) và Nghị định 55/2008/ND-CP là những văn bản pháp luật trực tiếp bảo vệ quyền
lợi NTD. Ngày 17/11/2010, Luật bảo vệ quyền lợi NTD với 6 chƣơng và 51 điều đã
đƣợc Quốc hội khóa 12 kì họp thứ 8 thông qua. Luật có hiệu lực từ 1/7/2011 và kể từ
ngày này, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD và Nghị định 55/2008/ND-CP hết hiệu lực.
Luật bảo vệ quyền lợi NTD (2010) đã quy định những vấn đề chủ yếu sau:
- Điều 1 Luật bảo vệ quyền lợi NTD tiếp tục kế thừa định nghĩa về ngƣời tiêu
dùng quy định trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999. Theo đó, NTD đƣợc xác
định là cá nhân, gia đình hoặc tổ chức mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục
đích tiêu dùng, sinh hoạt của mình.
- Luật đã quy định rõ các hành vi bị cấm đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD. Ngoài ra Luật cũng cấm ngƣời tiêu
dùng, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi NTD, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ lợi dụng việc bảo vệ quyền lợi của NTD để xâm phạm lợi ích của nhà
nƣớc, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.
- Quy định hệ thống trách nhiệm của tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ đối với NTD.

8


- Quy định vai trò, vị trí của tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi NTD. Theo đó,
vai trò của tổ chức xã hội nói chung và các hội bảo vệ NTD nói riêng trong việc bảo vệ
NTD đã đƣợc nâng cao hơn trƣớc. Các hội bảo vệ NTD có thể đại diện NTD hoặc tự
mình khởi kiện vì lợi ích công cộng, đƣợc thông tin cảnh báo cho NTD về hàng hóa,
dịch vụ và chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật về việc thông tin cảnh báo của mình. Ngoài

9


pháp luật, cải cách thể chế phục vụ sự vận hành của nền kinh tế thị trƣờng. Trong khi
thuật ngữ thể chế thƣờng đƣợc hiểu là hệ các quy tắc ràng buộc hành vi ứng xử của con
ngƣời thì thiết chế thƣờng đƣợc hiểu là những tổ chức đóng vai trò thực thi những quy
tắc ấy. Thể chế vì thế đƣợc coi nhƣ “phần mềm” trong cơ chế điều chỉnh hành vi trong
xã hội trong khi thiết chế đƣợc coi nhƣ “phần cứng” truyền dẫn và đảm bảo hiện thực
hóa các yêu cầu của thể chế. Mặc dù vậy, trong thực tế, vẫn còn có cách hiểu và giải
thích các thuật ngữ “thiết chế” và “thể chế” tƣơng đối khác nhau giữa các học giả không
chỉ ở Việt Nam mà cả ở các quốc gia phát triển.
Bởi vậy, việc hiểu thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng
là gì, hiện nay ở Việt Nam cũng nhƣ ở các nƣớc trên thế giới cũng có nhiều quan điểm
khác nhau.
Theo chúng tôi thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng là
các cơ quan, tổ chức có chức năng giải quyết hoặc hỗ trợ giải quyết các yêu cầu bảo
vệ quyền lợi của người tiêu dùng đã được pháp luật quy định.
Các cơ quan, tổ chức này bao gồm cả các thiết chế công quyền (cơ quan chuyên
trách về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng, các cơ quan quản lý/điều tiết ngành, hệ thống
cơ quan tài phán về bảo vệ ngƣời tiêu dùng) và thiết chế phi công quyền (nhƣ hội bảo
vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng và các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, các tổ
chức xã hội khác).
Theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng và các văn bản pháp
luật có liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD, các thiết chế bảo vệ ngƣời tiêu dùng quan
trọng nhất đang tồn tại ở Việt Nam là: cơ quan quản lý nhà nƣớc về bảo vệ quyền lợi
ngƣời tiêu dùng, các tổ chức xã hội (đặc biệt là hội bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng) và hệ
thống tòa án.
(i) Cơ quan quản lý nhà nƣớc về bảo vệ NTD gồm:
Bộ Công thương: Bộ Công thƣơng chịu trách nhiệm trƣớc Chính phủ thực hiện
quản lý nhà nƣớc về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng. Để thực hiện hoạt động quản lý

hợp cụ thể có thẩm quyền nhất định trong việc bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng ở địa
phƣơng.
Có thể nói, mô hình hệ thống cơ quan quản lý nhà nƣớc về bảo vệ quyền lợi
ngƣời tiêu dùng nhƣ thiết kế của Luật bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng là mô hình phi
tập trung (trách nhiệm không bị quy tụ duy nhất vào một cơ quan hoặc một hệ thống cơ
quan có tính khép kín) nhƣng không phân tán. Mô hình này đƣợc xây dựng trên nhận
thức rằng việc bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng là công việc rộng lớn, phức tạp mà
không một cơ quan nào tự mình có thể đủ sức đảm nhiệm. Mô hình này có ƣu điểm nổi
bật là độ “phủ sóng” lớn, khả năng huy động lực lƣợng để thực hiện mục tiêu bảo vệ
quyền lợi ngƣời tiêu dùng cao. Tuy nhiên, mô hình phi tập trung bao giờ cũng nó

11


khuyết tật nội tại của nó. Khuyết tật ấy thể hiện rõ nhất là khả năng xảy ra sự chồng lấn
về thẩm quyền hoặc khả năng đùn đẩy trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ
chung. Đây là đặc điểm quan trọng của mô hình phi tập trung trong việc bảo vệ NTD
mà khi cụ thể hóa mô hình cũng nhƣ khi vận hành, thực hiện các chủ thể có liên quan
cần hết sức lƣu ý để khắc phục.
(ii) Hệ thống tòa án
Ở nƣớc ta, không có Toà án chuyên trách về bảo vệ NTD. Các vụ kiện đòi bồi
thƣờng thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền lợi NTD đƣợc xếp vào loại vụ kiện dân sự
và có thể đƣợc giải quyết theo pháp luật hợp đồng hoặc pháp luật bồi thƣờng thiệt hại
ngoài hợp đồng mà Bộ luật dân sự và các văn bản có liên quan đã quy định. Toà án chỉ
thụ lý giải quyết vụ việc nếu có đơn khởi kiện của ngƣời tiêu dùng. Trình tự, thủ tục
khởi kiện bảo vệ quyền lợi NTD đƣợc áp dụng theo trình tự chung mà Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2004 quy định. Thực tiễn vận hành cơ chế giải quyết tranh chấp giữa ngƣời
tiêu dùng và thƣơng nhân cho thấy, cơ chế vận hành của Tòa án theo quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự không tạo thuận lợi thỏa đáng cho NTD.
Nhằm gỡ bỏ những rào cản pháp lý bất hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho

tiêu dùng. Luật bảo vệ quyền lợi NTD đã xác định rõ các tổ chức xã hội nói chung và
hội bảo vệ NTD nói riêng sẽ thực hiện các hoạt động để giúp NTD bảo vệ các quyền và
lợi ích hợp pháp của mình nhƣ: hƣớng dẫn, giúp đỡ, tƣ vấn NTD khi có yêu cầu; đại
diện NTD khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng; tham gia xây dựng
pháp luật, chủ trƣơng, chính sách, phƣơng hƣớng, kế hoạch và biện pháp về bảo vệ
NTD; tham gia tuyên truyền, giáo dục pháp luật và kiến thức tiêu dùng… ( Điều 28
Luật bảo vệ NTD 2010).
2.1.3. Địa vị pháp lý của hội bảo vệ ngƣời tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện hành
Cơ sở pháp lý cho sự tồn tại và hoạt động của các hội bảo vệ ngƣời tiêu dùng ở
Việt Nam đƣợc quy định trong các văn bản pháp luật chủ yếu sau:
- Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 04 năm 2010 của Chính phủ quy
định chi tiết về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Nghị định này là văn bản pháp lý
quan trọng điều chỉnh tổ chức, hoạt động và quản lý các hội nói chung và hội bảo vệ
NTD nói riêng.
- Pháp lệnh Bảo vệ ngƣời tiêu dùng số 13/1999/PL-UBTVQH ngày 27 tháng 4
năm 1999; Nghị định số 55/2008/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ quy
định chi tiết Pháp lệnh Bảo vệ ngƣời tiêu dùng đã có một số quy định về nguyên tắc
hoạt động, về quyền và nghĩa vụ của tổ chức bảo vệ NTD trong việc bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của NTD. Kể từ 1/7/2011 các quy định về hội bảo vệ NTD trong Pháp
lệnh bảo vệ quyền lợi NTD và Nghị định 55/2008/ND-CP của Chính phủ sẽ đƣợc thay

13


thế bởi Luật Bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng đƣợc Quốc hội thông qua ngày 17 tháng
11 năm 2010.
- Điều lệ hoạt động của từng hội bảo vệ NTD đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm
quyền phê duyệt là cơ sở pháp lý quan trong xác định tôn chỉ, mục đích hoạt động cũng
nhƣ quyền và nghĩa vụ của từng hội bảo vệ NTD. Ví dụ, Điều lệ mới nhất hiện có hiệu
lực của VINASTAS đƣợc Bộ Nội vụ phê duyệt ngày 24/5/2006. Điều lệ của hội bảo vệ

với các hội nghề nghiệp khác, bởi các hội xã hội nghề nghiệp khác thành lập chỉ nhằm
mục đích bảo vệ quyền lợi của các hội viên và hội viên tham gia phải nộp phí hội viên.
- Tùy theo điều kiện phát triển kinh tế, xã hội ở mỗi địa phƣơng mà tên gọi và
tôn chỉ mục đích, cũng nhƣ đối tƣợng có thể trở thành thành viên của các hội bảo vệ
ngƣời tiêu dùng ở mỗi địa phƣơng không hoàn toàn giống nhau.
- Các hội bảo vệ NTD đều có tƣ cách pháp nhân, hoạt động độc lập, tự chịu
trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trƣớc pháp luật. Hội tự trang trải cho các hoạt
động của mình và không đƣợc nhà nƣớc cấp kinh phí và hỗ trợ nhân lực để hoạt động.
Hội bảo vệ NTD có các quyền hạn và trách nhiệm trong việc tổ chức và hoạt
động đƣợc quy định tại Điều 23, 24 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy
định chi tiết về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội.
Các quyền của hội bảo vệ NTD còn đƣợc quy định tại Luật Bảo vệ quyền lợi
ngƣời tiêu dùng đƣợc Quốc hội thông qua ngày 17/11/2010. Luật đã cho phép hội bảo
vệ ngƣời tiêu dùng đƣợc đại diện ngƣời tiêu dùng khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện vì
lợi ích công cộng. Đây là quyền mang tính đặc thù của hội bảo vệ ngƣời tiêu dùng
Ngoài ra, quyền và trách nhiệm cụ thể của từng hội bảo vệ NTD sẽ đƣợc quy
định cụ thể trong điều lệ hoạt động của mỗi hội. Tùy thuộc vào khả năng và điều kiện
vận dụng của các địa phƣơng nên hiện nay các hội quy định quyền của mình trong điều
lệ hoạt động khá khác nhau. Nhìn chung, điều lệ của các hội bảo vệ ngƣời tiêu dùng
chƣa quy định hết các quyền của mình theo quy định pháp luật.
Để thực hiện chức năng là tổ chức tự nguyện của những ngƣời có chung mục
đích là bảo vệ quyền lợi NTD, hội bảo vệ NTD có cơ cấu tổ chức tuân thủ quy định về
cơ cấu tổ chức của hội tại Nghị định số 45/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết
về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội. Cơ cấu tổ chức của mỗi hội bảo vệ NTD đƣợc
quy định cụ thể trong điều lệ hoạt động của hội.
Nhìn chung, cơ cấu tổ chức của hội bảo vệ NTD gồm:
* Đại hội: Cơ quan lãnh đạo cao nhất của hội là đại hội nhiệm kỳ hoặc đại hội
bất thƣờng. Tại đại hội của hội bảo vệ ngƣời tiêu dùng sẽ quyết định những nội dung
chủ yếu nhƣ: Phƣơng hƣớng hoạt động của hội; Bầu ban lãnh đạo, ban kiểm tra hội; Đổi
tên hội, sửa đổi, bổ sung điều lệ (nếu có); Gia nhập liên hiệp các hội cùng lĩnh vực hoạt

giúp đỡ cho sự phát triển của công tác tiêu chuẩn hoá, đo lƣờng, chất lƣợng ở Việt Nam.
Sau khi thành lập đƣợc vài năm, hội nhận thấy công tác tiêu chuẩn hoá, đo
lƣờng, chất lƣợng gắn liền với quyền lợi ngƣời tiêu dùng nên đã bắt đầu nghiên cứu về
vấn đề ngƣời tiêu dùng ở Việt Nam. Đại hội bất thƣờng của hội họp tháng 7/1991 đã
quyết định đƣa nội dung bảo vệ ngƣời tiêu dùng vào cƣơng lĩnh của hội và đổi tên hội
thành Hội khoa học kỹ thuật về tiêu chuẩn hoá, đo lƣờng, chất lƣợng và bảo vệ Ngƣời
tiêu dùng Việt Nam, gọi tắt là Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ Ngƣời tiêu dùng Việt Nam, tên

16


giao dịch vẫn lấy là VINASTAS. Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ NTD Việt Nam là tổ chức
phi chính phủ về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng hoạt động trong phạm vi cả nƣớc.
VINASTAS là thành viên của Liên Hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam từ
năm 1988 và là thành viên của Tổ chức Quốc tế Ngƣời tiêu dùng (CI ) từ 15/3/1992.
Để phục vụ cho sự phát triển của công tác tiêu chuẩn hoá, đo lƣờng, chất lƣợng
và bảo vệ NTD ở Việt Nam, VINASTAS đã thành lập các tổ chức trực thuộc gồm: (i)
Các câu lạc bộ nhƣ, CLB Chất lƣợng, CLB Chống hàng giả và gian lận thƣơng mại,
CLB Ngƣời tiêu dùng nữ, CLB Nhà báo bảo vệ ngƣời tiêu dùng. Các CLB hoạt động
dƣới sự chỉ đạo của hội, các khoản thu đƣợc dùng để trang trải cho các hoạt động của
CLB, riêng câu lạc bộ Nhà báo bảo vệ ngƣời tiêu dùng đƣợc sự bảo trợ của hội; (ii) Các
tổ chức trực thuộc độc lập về tài chính có tài khoản riêng, sử dụng con dấu riêng nhƣ:
Tạp chí Ngƣời tiêu dùng là cơ quan chính thức của hội, đƣợc phép chính thức xuất bản
năm 1991, đến nay mỗi tháng tạp chí ra hai số (mỗi số 24 trang); Trung tâm Nghiên cứu
và Tƣ vấn về tiêu dùng đƣợc thành lập năm 1993, lúc đầu đặt tại Hà Nội. Từ năm 2006
đã chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh; Văn phòng khiếu nại của ngƣời tiêu dùng thành
lập năm 1995 đặt địa điểm hoạt động tại trụ sở của VINASTAS ở Hà Nội, ngoài ra hội
còn có văn phòng khiếu nại của NTD phía Nam đƣợc thành lập năm 1996. Đến nay, các
văn phòng này đƣợc giao thêm nhiệm vụ tƣ vấn cho ngƣời tiêu dùng và đổi tên thành
Văn phòng Tƣ vấn và khiếu nại của ngƣời tiêu dùng;

dùng ở Việt Nam. Có thể thấy, các hội bảo vệ NTD ở Việt Nam đã tham gia vào công
tác bảo vệ NTD với một số hoạt động trong các lĩnh vực: Xây dựng pháp luật bảo vệ
ngƣời tiêu dùng và góp ý cho những văn bản pháp luật có liên quan; Giám định và phản
biện xã hội đối với những vấn đề liên quan đến bảo vệ NTD; Thông tin, hƣớng dẫn cho
NTD; Tƣ vấn và giải quyết khiếu nại cho NTD (vai trò của hội bảo vệ NTD trong các
hoạt động này sẽ đƣợc trình bày cụ thể ở phần 2.2)
Các hội bảo vệ NTD đã có vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của
xã hội về vị thế của ngƣời tiêu dùng, về các quyền của ngƣời tiêu dùng, về sự cần thiết
phải bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng ở Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động của các hội
bảo vệ NTD ở nƣớc ta chƣa thật sự có hiệu quả, chƣa đƣợc nhiều ngƣời tiêu dùng trong
cả nƣớc biết đến và tin cậy.
Theo kết quả điều tra xã hội học do nhóm nghiên cứu đề tài thực hiện thì có đến
75,6% số ngƣời đƣợc hỏi cho rằng hội bảo vệ NTD có thể bảo vệ quyền lợi của họ
nhƣng chỉ có 46,6% biết đến sự tồn tại của VINASTAS và chỉ có 18,1 % biết đến sự tồn
tại của hội bảo vệ NTD ở địa phƣơng.
2.2. VAI TRÒ CỦA HỘI BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG TRONG CÁC MẶT HOẠT
ĐỘNG
2.2.1. Vai trò của hội bảo vệ ngƣời tiêu dùng trong công tác phản biện xã hội

4

Nguồn: Báo cáo hoạt động của Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng tỉnh Kiên Giang năm 2010.

18


2.2.1.1. Khái niệm phản biện xã hội, giám định xã hội và ý nghĩa của hoạt động phản
biện xã hội của hội bảo vệ người tiêu dùng
Phản biện xã hội là một hiện tƣợng tất yếu trong đời sống chính trị - xã hội. Khái
niệm này, từ lâu đƣợc sử dụng ở nhiều nƣớc nhƣng ở nƣớc ta, nó mới đƣợc giới nghiên

19


và lợi ích của họ. Do đó, trong công tác bảo vệ NTD, giám định xã hội là một nội dung
nằm trong khái niệm lớn là phản biện xã hội trong hoạt động bảo vệ NTD.
Việc thực hiện công tác phản biện xã hội của hội bảo vệ NTD chính là để thực
hiện quyền đƣợc đại diện hay quyền đƣợc lắng nghe của NTD. Bởi thông qua hội bảo
vệ NTD, tổ chức đại diện cho tiếng nói của NTD thì những ý kiến, phản biện của NTD
sẽ có hiệu quả hơn khi từng NTD có ý kiến vì ý kiến cá nhân thƣờng ít trọng lƣợng và
ít đƣợc lắng nghe.
Phản biện xã hội của các tổ chức bảo vệ ngƣời tiêu dùng bao gồm hai lĩnh vực
chính.
Thứ nhất, phản biện về các chính sách của nhà nƣớc, các quy định pháp luật của
cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích của ngƣời tiêu dùng,
với mục đích tạo ra một môi trƣờng pháp lý thuận lợi cho hoạt động bảo vệ ngƣời tiêu
dùng, làm cân bằng giữa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của ngƣời tiêu dùng, góp
phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thứ hai, phản biện xã hội về các hoạt động thƣơng mại nhằm phát hiện và đấu
tranh chống các thủ đoạn, hành vi phi đạo đức trong thƣơng mại nhƣ cung ứng hàng
hoá, dịch vụ chất lƣợng xấu cho ngƣời tiêu dùng, sản xuất và buôn bán hàng giả, thông
tin không đầy đủ hoặc sai lệch nhằm lừa dối ngƣời tiêu dùng, không thực hiện nghĩa vụ
hậu mãi, hoặc thực hiện những thủ đoạn gian lận thƣơng mại khác nhằm kiếm lợi nhuận
trên sự thiệt thòi của ngƣời tiêu dùng.
2.2.1.2. Những hoạt động phản biện xã hội của các hội bảo vệ người tiêu dùng ở Việt
Nam
* Xây dựng pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và góp ý cho những văn bản
pháp luật có liên quan.
- Ở nƣớc ta, văn bản pháp luật đầu tiên trực tiếp quy định nhằm bảo vệ quyền lợi
cho NTD là Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999. Pháp lệnh này đƣợc xây dựng
dựa trên cơ sở đề xuất của Hội tiêu chuẩn và bảo vệ NTD Việt Nam. Sau đó, chính Hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status