BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LƯU THỊ MINH NGUYỆT
THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Triều Dương
Tháng 5 - 2015
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo cùng với gia
đình, bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên
cứu để có được kết quả ngày hôm nay.
Đặc biệt em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo – TS.
Nguyễn Triều Dương đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn
thành Luận văn này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
TAND
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
4
3. Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
6
5. Cơ cấu của luận văn
8
8
NỘI DUNG
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thủ tục rút gọn trong Tố
17
1.3.3. Quy định về thủ rút gọn trong pháp luật Tố tụng dân sự của một số
nước trên thế giới
19
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
26
Chương 2: Cơ sở của việc xây dựng các quy định về thủ tục Tố
tụng dân sự rút gọn
2.1. Cơ sở lý luận của việc xây dựng các quy định về thủ tục rút gọn
trong Tố tụng dân sự ở Việt Nam
2.1.1. Đường lối, chính sách của Đảng về cải cách tư pháp - xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
2.1.2. Xây dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn xuất phát từ sự
phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự
27
2.2. Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng các quy định về thủ tục rút
gọn trong tố tụng dân sự
30
2.2.1. Xây dựng các quy định về thủ tục rút gọn được xác định
KẾT LUẬN CHƯƠNG III
62
KẾT LUẬN CHUNG
63
44
49
49
51
54
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) của nhiều nước trên thế giới đều
thiết lập bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường là các thủ tục TTDS đặc
biệt, trong đó có thủ tục rút gọn. Đây là thủ tục tố tụng được áp dụng để
giải quyết các loại vụ việc đáp ứng những điều kiện nhất định với một
trình tự đơn giản, ngắn gọn. Thủ tục này là một trong những công cụ hữu
hiệu của người dân cũng như Tòa án trong việc thực hiện, bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức một cách nhanh
chóng, linh hoạt và hiệu quả. Trong khi đó pháp luật tố tụng dân sự
(TTDS) Việt Nam hiện hành chỉ quy định về thủ tục giải quyết vụ án dân
sự và thủ tục giải quyết việc dân sự mà không quy định về thủ tục rút
chấp thấp thì vấn đề duy nhất đặt ra là có sự phán xét của nhà nước
nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của các bên mà thôi. Tuy nhiên, pháp
luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành không có quy định về thủ tục rút
gọn nên những vụ việc này vẫn phải giải quyết theo đúng trình tự thủ tục
tố tụng thông thường, hậu quả là thời gian giải quyết các vụ án này sẽ bị
kéo dài hoặc phải trải qua nhiều cấp xét xử, nhiều trình tự thủ tục không
cần thiết gây mất thời gian, phí tổn cho Tòa án và các đương sự. Nhiều
vụ việc tuy đơn giản nhưng người có nghĩa vụ vẫn lạm dụng quyền
kháng cáo nhằm trì hoãn việc thi hành nghĩa vụ của mình và trong nhiều
trường hợp chi phí cho hoạt động tố tụng còn lớn hơn nhiều so với lợi
ích cần được bảo vệ.
Nhận thức được những hữu ích của thủ tục rút gọn cũng như tổng
kết thực tiễn của hoạt động tố tụng tư pháp tại Tòa án, Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư
pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ quan điểm về việc xây dựng thủ tục rút
gọn. Theo đó, cần phải “… Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn
đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định” [32] . Để cụ thể
3
hóa chủ trương về việc xây dựng thủ tục rút gọn của Bộ Chính trị như
nêu trên, Nghị quyết số 428/NQ-UBTVQH13 ngày 29/12/2011 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội về triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc
hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ
khóa XIII đã đưa Pháp lệnh Thủ tục rút gọn trong TTDS vào chương
trình xây dựng Pháp lệnh và giao cho Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan
trình dự thảo. Đây là căn cứ pháp lý chính xác nhất cho việc xây dựng
một mô hình tố tụng rút gọn trong TTDS ở Việt Nam.
Hơn nữa năm 2013, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông
qua và ban hành Hiến pháp năm 2013 trong đó có những sửa đổi, bổ
thủ tục này ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thủ tục tố tụng
rút gọn trong công trình này mới dừng lại ở mức độ khái quát, gợi mở
vấn đề chứ chưa phân tích được cơ sở khoa học của việc xây dựng thủ
tục này, toàn bộ kết quả nghiên cứu chỉ được thể hiện trong giới hạn 6
trang (từ trang 70 đến 74 và từ trang 302 - 303).
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự theo định hướng cải cách tư
pháp”, Mã số: LH - 09 - 04/ĐHL - HN của Trường Đại học Luật Hà Nội
thực hiện năm 2010 cũng có đề cập đến thực trạng pháp luật TTDS Việt
nam chưa đáp ứng được yêu cầu về tính linh hoạt, mềm dẻo và có hiệu
quả trong việc bảo vệ quyền lợi của đương sự cũng như việc đa dạng hoá
các loại hình thủ tục tố tụng cho phù hợp với tính chất của từng loại
tranh chấp đồng thời đưa ra yêu cầu cần thiết phải xây dựng thủ tục rút
gọn. Tuy nhiên, đề tài chưa nêu ra được cụ thể phạm vi các loại việc áp
dụng thủ tục TTDS rút gọn cũng như trình thủ, thủ tục rút gọn được thực
hiện như thế nào.
5
- Đề tài khoa học nghiên cứu cấp bộ “ Vấn đề xây dựng thủ tục tố
tụng dân sự rút gọn theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay - thực trạng và giải pháp” của Tiến sĩ Trần Anh Tuấn
chủ nhiệm đề tài cũng nêu được khái quát, toàn diện nội dung của thủ
tục rút gọn, những trình tự thủ tục rút gọn khi giải quyết một vụ án dân
sự, tuy nhiên trình tự thủ tục giải quyết vụ việc theo thủ tục rút gọn được
đưa ra với nhiều quan điểm khác nhau.
- Luận văn thạc sỹ Luật học về “Những vấn đề lý luận và thực tiễn
của việc xây dựng thủ tục rút gọn trong TTDS Việt Nam” của tác giả
Trần Anh Tuấn năm 2000 đã chỉ ra được mối liên hệ giữa các nguyên tắc
trên Tạp chí Luật học số 4/2007; “Hoàn thiện thủ tục rút gọn đáp ứng
yêu cầu cải cách tư pháp” của tác giả Nguyễn Đức Mai đăng trên tạp chí
Tòa án nhân dân số 15/2008. Các bài viết này đề cập đến các vấn đề
khác nhau của thủ tục TTDS rút gọn như yêu cầu của việc xây dựng thủ
tục rút gọn, phạm vi loại việc được áp dụng thủ tục TTDS rút gọn, mối
liên hệ của việc xây dựng thủ tục TTDS rút gọn với một số nguyên tắc
cơ bản của luật TTDS; hội đồng xét xử rút gọn... Tuy nhiên, một số vấn
đề có tính lí luận về thủ tục TTDS rút gọn chưa được đề cập đến, một số
vấn đề có ý nghĩa về lí luận và thực tiễn chưa được nghiên cứu hoặc có
đề cập đến nhưng chưa được lý giải một cách thỏa đáng và cần phải tiếp
tục nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn. Đặc biệt khi chúng ta đang tiến
hành hoàn thiện dự thảo BLTTDS sửa đổi, bổ sung trong đó có quy định
về thủ tục TTDS rút gọn.
3. Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
+ Một số vấn đề lý luận về thủ tục tố tụng rút gọn như: khái niệm,
đặc điểm, ý nghĩa, điều kiện, nguyên tắc…
7
+ Các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam trong đó bao gồm
các quy định hiện hành về thủ tục tố tụng thông thường và các quy định
liên quan đến thủ tục rút gọn đã từng tồn tại trong các văn bản pháp luật
từ trước tới nay.
+ Các quy định của pháp luật TTDS một số nước trên thế giới để
tham khảo trong quá trình xây dựng thủ tục TTDS rút gọn ở Việt Nam.
+ Thực tiễn các hoạt động TTDS của Toà án nhằm làm rõ khả
năng xây dựng thủ tục rút gọn trong TTDS ở Việt Nam.
- Mục đích nghiên cứu của đề tài:
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; đường lối, chủ
trương chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về hoạt động tư pháp.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thực hiện
đề tài là phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, lịch sử, tư
duy logic, khảo sát thực tế, điều tra xã hội học, phỏng vấn chuyên sâu,
khảo sát.v.v...
5. Cơ cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn
được kết cấu thành 3 chương sau đây:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thủ tục rút gọn trong Tố tụng
dân sự.
Chương 2: Cơ sở của việc xây dựng thủ tục TTDS rút gọn ở Việt
Nam.
Chương 3: Xây dựng các quy định về thủ tục rút gọn trong pháp
luật TTDS Việt Nam.
9
NỘI DUNG
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thủ tục rút gọn trong Tố
tụng dân sự.
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thủ tục rút gọn
1.1.1. Khái niệm
Việc xây dựng thủ tục rút gọn trong TTDS ở Việt Nam đang là
một vấn đề thời sự cấp bách để phục vụ cho việc cải cách tư pháp của
Đảng và Nhà nước, đồng thời tạo thuận lợi cho việc tiếp cận pháp luật
của người dân được dễ dàng hơn, Tuy nhiên, việc xây dựng thủ tục này
như thế nào, cần những yêu cầu gì thì lại là vấn đề cần phải nghiên cứu
để nhận diện, làm sáng tỏ bản chất của thủ tục rút gọn và ý nghĩa của nó.
để giải quyết theo một trình tự, thủ tục ngắn gọn và đơn giản.
Hiện nay, trong hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới
đều quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn để giải quyết một số vụ
việc nhất định trong khi thủ tục TTDS rút gọn ở Việt Nam là vấn đề còn
đang trong quá trình dự thảo và xây dựng. Bộ luật TTDS của Việt Nam
hiện hành không có quy định thủ tục rút gọn mà chỉ có quy định giải
quyết các vụ việc dân sự, không có tranh chấp, nội dung chỉ là yêu cầu
công nhận các quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động và kinh
doanh thương mại hoặc các yêu cầu công nhận, hoặc không công nhận
một sự kiện pháp lý nào đó làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ
giữa các đương sự. Các công việc giải quyết các việc dân sự thông
thường vẫn được tiến hành theo trình tự giải quyết gần giống với thủ tục
tố tụng thông thường.
Khi giải quyết các vụ kiện dân sự có nội dung đơn giản, có giá trị
tài sản tranh chấp thấp, chứng cứ rõ ràng thì việc xác minh và thu thập
chứng cứ không đòi hỏi phải mất nhiều thời gian cho nên đối với những
loại việc này Toà án có thể bỏ qua các bước không cần thiết mà vẫn đảm
bảo việc giải quyết vụ kiện công bằng và minh bạch. Xét về bản chất thì
11
thủ tục rút gọn là một dạng của thủ tục đặc biệt. Đó là sự giản lược, đơn
giản hoá một số khâu trung gian không cần thiết trong quá trình giải
quyết vụ án nhằm xử lí nhanh chóng, kịp thời vụ án những vẫn đảm bảo
được tính chính xác. Nếu như giải quyết các vụ kiện đơn giản mà vẫn
phải tuân theo các thủ tục trình tự thông thường bao gồm: khái niệm,
trình tự, các bước xét xử, hoà giải, xét xử sơ thẩm, kháng cáo, kháng
nghị, xét xử phúc thẩm như các vụ án thông thường khiến kéo dài thời
gian giải quyết vụ kiện, hiệu quả đem lại không được cao vì gây phí tổn
Ngoài những đặc điểm của thủ tục tố tụng thông thường, thủ tục
TTDS rút gọn cũng có những đặc điểm riêng, cụ thể như sau:
- Thủ tục rút gọn trong TTDS có các bước tiến hành, thành phần
tiến hành và tham gia tố tụng đều được pháp luật quy định giản lược và
thời gian giải quyết cũng được rút ngắn và thủ tục này chỉ áp dụng cho
một số vụ án dân sự có nội dung đơn giản, rõ ràng và có giá trị tài sản
tranh chấp thấp. Cho nên thủ tục rút gọn được coi là một trong những
thủ tục đặc biệt của TTDS.
- Thành phần giải quyết vụ án dân sự và tham gia tố tụng trong
việc giải quyết có thể được pháp luật quy định do một Thẩm phán tiến
hành, khi giải quyết vụ việc dân sự Toà án chỉ triệu tập đương sự đến
tham gia tố tụng mà không phải triệu tập những người tham gia tố tụng
khác đến tham gia tố tụng, trừ trường hợp việc tham gia tố tụng của họ
cần thiết cho việc giải quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ việc dân sự.
Mặt khác, một số bước của quá trình giải quyết vụ án dân sự được pháp
luật lược bỏ như: Toà án không cần thu thập chứng cứ, không cần thủ
tục hoà giải, không phúc thẩm nên đương sự không có quyền kháng
cáo… Do đó, thủ tục rút gọn trong TTDS là thủ tục tố tụng đơn giản.
Thời gian giải quyết vụ án có thể được pháp luật quy định rút ngắn thay
vì thời gian chuẩn bị xét xử 4 tháng hay 6 tháng như quy định của pháp
luật hiện hành đối với thủ tục TTDS thông thường. Do đó, có thể thấy
thủ tục TTDS rút gọn là thủ tục tố tụng đơn giản.
13
- Đối với các vụ việc phức tạp, không rõ ràng thì các quá trình giải
quyết đòi hỏi phải mất nhiều thời gian, đòi hỏi Toà án phải tiến hành
nhiều công việc mới có thể xác minh làm rõ vụ việc, giải thích cho
đương sự rõ quyền và nghĩa vụ của họ thì mới giải quyết chấm dứt được
gia tố tụng tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, ví dụ
như bản án sẽ có hiệu lực pháp luật ngay, không bị kháng cáo, kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm; bị đơn không thể lợi dụng quyền kháng cáo
để kéo dài thời gian, trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình;
chi phí đi lại, thuê luật sư của đương sự không bị phát sinh.
- Đối với việc cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước: Nghị
quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2015 của Bộ Chính trị về chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 theo đó chỉ rõ cần phải: “… Xây dựng cơ
chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều
kiện nhất định”. Việc xây dựng thủ tục TTDS rút gọn trong hệ thống tư
pháp Việt Nam vừa đáp ứng được xu thế hội nhập nền kinh tế hiện nay,
vừa linh hoạt, nhanh chóng để giải quyết các tranh chấp, góp phần giao
lưu kinh tế - thương mại – dân sự phát triển mạnh mẽ. Mặt khác các vụ
án dân sự được giải quyết theo thủ tục TTDS rút gọn trở nên nhanh
chóng, thời gian giải quyết ngắn, các bản án có giá trị thi hành ngay phù
hợp với sự phát triển của xã hội trong thời kì đất nước hội nhâp kinh tế và
chiến lược cải cách tư pháp đến 2020 mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra.
1.2. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
- Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự
đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, đủ cơ sở giải
quyết Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;
- Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng;
- Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước
ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài có thỏa thuận với đương sự ở
Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự
15
đã xuất trình được chứng cứ về sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận
các nước khác sẽ giúp cho luận văn có nhiều lý luận vững chắc hơn khi
đề xuất xây dựng thủ tục này. Hơn nữa trong giai đoạn nhà nước ta đang
đẩy mạnh công tác cải cách tư pháp nói chung và cải cách bộ luật TTDS
nói riêng thì việc tham khảo và học tập những thủ tục TTDS trên thế
giới, đặc biệt là những nước có nền lập pháp phát triển hoặc các nước có
hoàn cảnh xã hội gần giống với Việt Nam là điều hoàn toàn cần thiết.
1.3.1. Về thủ tục rút gọn trong pháp luật Tố tụng dân sự của
Cộng hoà Pháp
Trong BLTTDS của nước Pháp cho thấy những tranh chấp có giá
trị nhỏ sẽ được giải quyết theo trình tự đơn giản. Đây là điểm không thay
đổi của BLTTDS nước Pháp được ban hành từ năm 1806 đến nay mặc
dù BLTTDS này đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần. Các phán quyết của
Toà án sẽ có hiệu lực ngay mà không bị kháng cáo theo trình tự phúc
thẩm, các vụ tranh chấp về tài sản có giá trị dưới 13.000 francs trước
Toà án thương mại và Toà án sơ thẩm thẩm quyền hẹo sẽ không bị
kháng cáo lên Toà phúc thẩm. Nghị định ngày 28/12/1998 sửa đổi theo
hướng Toà án sơ thẩm thẩm quyền hẹp xét xử sơ thẩm đồng thời chung
thẩm những việc tranh chấp tài sản có giá trị dưới 25.000 francs. Sắc
lệnh ngày 28/12/2005 quy định đối với những vụ kiện có giá trị dưới
4000 euros không bị kháng cáo phúc thẩm.
Ngoài ra BLTTDS Pháp còn quy định thủ tục xét xử cấp thẩm. Tại
khoản 2 điều 809 BLTTDS Pháp quy định trong trường hợp trái vụ là rõ
ràng không còn tranh cãi, Chánh án có thể quyết định ngay cho chủ nợ
được tạm ứng trước hoặc ra lệnh thi hành nghĩa vụ, ngay cả khi đó là
nghĩa vụ phải làm một công việc gì đó, như vậy Thẩm phán đã ra quyết
định để giải quyết tranh chấp mà không cần phải mở phiên toà xét xử
nữa. Trong trường hợp này thủ tục xét xử cấp thẩm được coi là một thủ
17
18
quy định vụ việc về ban hành lệnh của Tòa án thuộc thẩm quyền của
Thẩm phán hòa giải xét xử ở cấp sơ thẩm.
Thủ tục ra lệnh cũng được áp dụng đối những vụ kiện đơn giản, có
chứng cứ rõ ràng. Theo Điều 121 BLTTDS liên bang Nga thì lệnh của
Tòa án - quyết định của Tòa án do một Thẩm phán ban hành dựa trên
yêu cầu đòi nợ hoặc đòi lại tài sản khi có những căn cứ luật định. Theo
đó, Tòa án ra lệnh đối với những trường hợp sau đây:
- Yêu cầu căn cứ vào giao dịch đã được công chứng;
- Yêu cầu căn cứ vào giao dịch được thực hiện dưới hình thức văn
bản viết không cần công chứng, chứng thực;
- Yêu cầu căn cứ vào đơn bác lại kỳ phiếu về việc không trả tiền,
không chấp nhận và chấp nhận không định ngày tháng;
- Yêu cầu đòi tiền cấp dưỡng cho trẻ chưa thành niên không liên quan
đến việc xác định cha, mẹ hoặc không liên quan đến việc phải triệu tập thêm
người khác;
- Yêu cầu công dân nộp khoản thuế bị thất thu hoặc nộp những
khoản tiền bắt buộc khác;
- Yêu cầu đòi khoản tiền lương đã được chấm công nhưng chưa
được trả cho người lao động;
- Yêu cầu của các cơ quan công an, cơ quan thuế vụ, cơ quan thừa
phát lại đòi hoàn trả chi phí cho việc tìm kiếm bị đơn, người có nghĩa vụ
và tài sản của người đó, hoặc chi phí cho việc tìm kiếm trẻ em bị người có
nghĩa vụ đem đi mất, hoặc chi phí liên quan đến việc bảo quản tài sản của
người có nghĩa vụ bị thu giữ và bảo quản tài sản của người có nghĩa vụ khi
bị buộc chuyển đi nơi ở khác.
Về thủ tục thì lệnh của Tòa án được ban hành trong thời hạn 5
ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mà không cần phải mở phiên toà xét
xử và không phải triệu tập các bên để nghe lời giải thích của họ (Điều
thành lập dưới sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ với mục đích xét xử đơn giản
và mất ít thời gian đối với các vụ kiện nhỏ. Lúc đầu có khoảng 557 Tòa