BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ THỊ HIỀN
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN
KINH DOANH Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành:Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Nguyễn Thị Yến
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới tới cô giáo
TS. Nguyễn Thị Yến đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn này. Tôi cũng chân thành cảm ơn thầy cô Khoa Sau đại học và toàn thể
thầy cô giáo trường Đại học Luật Hà Nội, cùng gia đình, đồng nghiệp, bạn bè
đã luôn ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này.
Hà Nội, Ngày 30 tháng 5 năm 2014
Học viên
KINH DOANH .............................................................................................. 26
2.1. Điều kiện kinh doanh phải được xác nhận bằng giấy phép ..................... 26
2.1.1. Giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh ....... 26
2.1.1.1. Cơ sở pháp lý ..................................................................................... 27
2.1.1.2. Chủ thể có thẩm quyền cấp giấy phép ............................................... 28
2.1.1.3. Điều kiện cấp phép ............................................................................ 30
2.1.2. Chấp thuận khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ....................... 39
2.1.3. Chứng chỉ hành nghề ............................................................................ 40
2.2. Điều kiện kinh doanh phải được xác nhận bởi cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền ............................................................................................................... 45
2.2.1. Ngành nghề kinh doanh phải có xác nhận về vốn pháp định ............... 45
2.2.2. Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp .................................. 49
2.3. Điều kiện kinh doanh không cần giấy phép ............................................. 51
2.3.1. Cơ sở pháp lý ........................................................................................ 51
2.3.2. Điều kiện đáp ứng ................................................................................. 52
Chƣơng 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
ĐIỀU KIỆN KINH DOANH TẠI VIỆT NAM .......................................... 56
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh ........................... 56
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh ............. 59
3.2.1. Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh ....... 59
3.2.2. Rà soát và loại bỏ, chuyển đổi những quy định pháp luật về điều kiện
kinh doanh không phù hợp .............................................................................. 63
3.2.3. Kiểm soát việc ban hành quy định về điều kiện kinh doanh ................ 65
3.2.4. Công khai hóa, minh bạch hóa các quy định về điều kiện kinh doanh..... 67
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 71
1
- Luận văn thạc sĩ luật học “Pháp luật về giấy phép kinh doanh tại Việt
Nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện” của tác giả Trần Phương Minh
(2006), trường Đại học Luật Hà Nội, luận văn thạc sĩ luật học “Pháp luật về
giấy phép và điều kiện kinh doanh trong giai đoạn gia nhập thị trường ở Việt
Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần Thị Ngân (2008).
Trong các công trình này chủ yếu nghiên cứu về hình thức điều kiện kinh
doanh phổ biến nhất là giấy phép kinh doanh (GPKD), một số vấn đề lý luận
về GPKD; phân tích thực trạng pháp luật và thực thi về GPKD hiện hành từ đó
đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật. Vấn đề điều kiện
kinh doanh không cần cấp phép chưa được đề cập nhiều.
- Một số tài liệu khác, Giấy phép và điều kiện kinh doanh ở Việt Nam:
Thực trạng và Con đường phía trước (2006) của Ban nghiên cứu của Thủ tướng
Chính phủ, Báo cáo tổng hợp kết quả rà soát hệ thống các quy định về giấy
phép kinh doanh: Thực trạng – vấn đề và kiến nghị (2007) của Tổ công tác thi
hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư... các công trình này không đi sâu vào
những vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh mà đã đưa ra những đánh giá về
hệ thống GPKD ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện.
- Ngoài ra còn một số bài viết, tạp chí liên quan như: “Cải cách hệ thống
giấy phép kinh doanh Việt Nam trong giai đoạn hậu WTO” của Trần Hữu
Huỳnh (2007),“Thực trạng giấy phép kinh doanh ở Việt Nam” của Trần
Huỳnh Thanh Nghị, tạp chí Nghiên cứu Lập pháp năm 2013...
Như vậy, có thể thấy hầu hết các công trình trước đây chủ yếu đề cập đến
vấn đề GPKD – một loại điều kiện kinh doanh. Trong công trình nghiên cứu
này, tác giả sẽ nghiên cứu đầy đủ cả vấn đề lý luận và thực trạng quy định
pháp luật về các loại điều kiện kinh doanh theo mức độ can thiệp của nhà nước
đối với chủ thể kinh doanh.
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
3
4
- Phương pháp mô tả, phân tích, tổng hợp, so sánh: Trong việc trình bày
một số vấn đề lý luận, quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh; đánh giá
thực trạng pháp luật điều kiện kinh doanh hiện hành, có so sánh với pháp luật
một số nước có liên quan; so sánh quy định pháp luật giữa các thời kỳ.
- Phương pháp diễn giải, quy nạp trong việc đưa ra yêu cầu và giải pháp
hoàn thiện quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh.
6. Những điểm mới của luận văn
- Hệ thống hóa và phân tích những vấn đề lý luận về điều kiện kinh
doanh như: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa điều kiện kinh doanh; khái niệm và
nội dung cơ bản của pháp luật về điều kiện kinh doanh, các yếu tố chi phối
pháp luật về điều kiện kinh doanh.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh theo
hướng làm rõ ưu, hạn chế đối với từng loại điều kiện kinh doanh và thực tiễn
thi hành pháp luật về điều kiện kinh doanh.
- Đưa ra một số yêu cầu và giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về điều
kiện kinh doanh ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa
luận được kết cấu thành ba chương:
Chương 1. Khái quát về điều kiện kinh doanh và pháp luật về điều kiện
kinh doanh
Chương 2. Nội dung pháp luật hiện hành về điều kiện kinh doanh
Chương 3. Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh.
5
6
Theo quy định của pháp luật hiện hành, khoản 2 Điều 7 Luật DN năm
2005 quy định: “Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà DN phải có hoặc phải
thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép
kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề,
chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc
yêu cầu khác”.
Từ những quan điểm khoa học và theo quy định của pháp luật như trên
có thể hiểu điều kiện kinh doanh là những yêu cầu, đòi hỏi do Nhà nước quy
định; chủ thể kinh doanh phải đáp ứng các yêu cầu này khi tiến hành kinh
doanh những ngành, nghề cụ thể và được thể hiện dưới những hình thức nhất
định.
* Đặc điểm của điều kiện kinh doanh
Thứ nhất, điều kiện kinh doanh là yêu cầu, đòi hỏi được Nhà nước đặt ra
và quy định trong văn bản quy phạm pháp luật
Khi tiến hành hoạt động kinh doanh, nhiều loại điều kiện được đặt ra đối
với DN ở những mức độ khác nhau phụ thuộc vào quy mô, tính chất của hoạt
động kinh doanh. Trong đó, có những điều kiện đặt ra bởi chính nhu cầu kinh
doanh của DN, xuất phát từ ý chí của chủ sở hữu DN. Các điều kiện này
thường phụ thuộc vào ý tưởng, kế hoạch kinh doanh của DN (ví dụ: cơ sở vật
chất hiện đại, đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp...). Có những điều kiện kinh
doanh đặt ra do các yếu tố khác như cơ chế thị trường, đối tác kinh doanh hay
đối thủ cạnh tranh của DN. Các điều kiện này có thể được ghi nhận trong hợp
đồng kinh doanh, văn bản thỏa thuận với đối tác của DN... Các điều kiện này
có được đáp ứng hay không và ở mức độ nào đều phụ thuộc vào ý chí chủ quan
của DN.
Khác với những điều kiện trên, có những điều kiện bắt buộc DN phải
đáp ứng khi tiến hành hoạt động kinh doanh cụ thể mà không phụ thuộc vào ý
chí chủ quan của DN. Nhà nước là chủ thể duy nhất có thẩm quyền đặt ra
Tự do kinh doanh là một trong những quyền hiến định của công dân,
trong đó có quyền chủ động thành lập DN và lựa chọn ngành nghề kinh doanh.
8
Tuy nhiên, tự do bao giờ cũng được hiểu là khả năng hành động, quyền lựa
chọn hành xử và quyết định trong một khuôn khổ nhất định. Hiến pháp của các
quốc gia trên thế giới cũng có những quy định cho phép Nhà nước, trong
những trường hợp nhất định, đặt ra khuôn khổ (hay nói một cách khác là hạn
chế quyền tự do) đối với sự tự do nhằm đảm bảo lợi ích công cộng hay sự tự
do của người khác [13, tr.20]. Quy định về ngành nghề kinh doanh có điều
kiện đối với một số ngành nghề nhất định là sự cụ thể hóa hạn chế trên, thông
qua việc đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi mà DN phải đáp ứng khi kinh doanh
một số ngành nghề. Các yêu cầu này là bắt buộc đối với DN và không phải DN
nào cũng được tiến hành kinh doanh ngành nghề đó, chỉ những DN nào đáp
ứng được yêu cầu theo quy định thì mới được phép kinh doanh, kể cả khi đã có
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Điều kiện kinh doanh là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước quản lý
hoạt động kinh doanh. Căn cứ vào các nội dung của điều kiện kinh doanh trong
ngành nghề cụ thể, cơ quan có thẩm quyền có thể cấp phép hoặc không cấp
phép kinh doanh cho DN hoặc kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh
doanh, bảo đảm hoạt động đó tuân thủ đúng các điều kiện, yêu cầu theo quy định.
Thứ tư, điều kiện kinh doanh là một trong những biện pháp điều tiết nền
kinh tế thị trường nhằm đạt mục đích kinh tế - xã hội nhất định
Xuất phát từ việc các quy định về điều kiện kinh doanh và ngành nghề
kinh doanh có thể tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
DN, và là cơ sở quan trọng để quản lý các hoạt động kinh doanh, nhiều nước
coi việc quy định điều kiện kinh doanh là một trong những biện pháp để điều
tiết nền kinh tế thị trường nhằm đạt mục đích kinh tế - xã hội nhất định [19,
quy định về điều kiện kinh doanh thể hiện ở những phương diện sau:
Thứ nhất, xuất phát từ vai trò quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị
trường
Cơ chế kinh tế thị trường đã phát huy quyền tự chủ, sáng tạo trong kinh
doanh của người dân, thúc đẩy sản xuất phát triển. Tuy nhiên, bất kỳ nền kinh
tế thị trường ở nước nào cũng tồn tại những mặt trái, mặt hạn chế. Trong hoạt
10
động kinh doanh, nổi bật nhất là việc các DN chạy theo lợi nhuận mà có thể
vượt qua những giới hạn về đạo đức kinh doanh, vi phạm pháp luật gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến lợi ích, trật tự công cộng. Để khắc phục tình trạng
trên, chỉ có Nhà nước mới là chủ thể có đủ thẩm quyền để quản lý, phát triển
kinh tế theo định hướng của mình.
Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý sẽ định hướng cho sự phát triển
và tạo điều kiện cho phát triển kinh tế. Nhà nước phải ngăn chặn những chiều
hướng xấu có thể xảy ra cho việc hướng tới mục tiêu của mình. Nhà nước can
thiệp để hạn chế tới mức thấp nhất những khuyết tật có thể xảy ra trong nền
kinh tế thị trường. Tùy theo yêu cầu cụ thể mà Nhà nước có thể kiểm soát, can
thiệp điều tiết hoặc bảo trợ nâng đỡ những ngành, lĩnh vực nhất định, để bảo
đảm mục tiêu kinh tế - xã hội nói chung. Nhà nước hướng các DN sản xuất –
kinh doanh theo định hướng Nhà nước đã chọn. Nhà nước bảo đảm quyền tự
do kinh doanh của DN nhưng trên cơ sở pháp luật cho phép [16, tr.83]. Để
thực hiện vai trò quản lý, nhà nước cần có những công cụ thích hợp tác động
vào hoạt động kinh doanh trong đó có công cụ pháp lý. Xuất phát từ nhu cầu
trên, các quy định về điều kiện kinh doanh được đặt ra với mục tiêu kiểm soát
hoạt động kinh doanh trong những ngành nghề kinh doanh nhất định có khả
năng ảnh hưởng lớn tới lợi ích công cộng, trật tự an toàn xã hội qua đó góp
phần giúp nhà nước điều tiết, định hướng phát triển nền kinh tế khắc phục
quản lý, kiểm soát đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện thể hiện
bằng việc cho phép cá nhân, tổ chức được tiến hành kinh doanh nhằm mục
đích bảo vệ lợi ích và trật tự công cộng. Thông qua việc cấp phép và xác nhận
các điều kiện kinh doanh, nhà nước có điều kiện và cơ sở để thẩm tra kỹ lưỡng
việc cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh ngành nghề kinh doanh
có điều kiện. Quá trình thẩm tra này là cần thiết cho việc thực hiện vai trò quản
lý của nhà nước, bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích DN. Trường hợp không
đáp ứng đủ điều kiện, Nhà nước không cấp phép hoặc rút giấy phép hoặc yêu
cầu tổ chức, cá nhân đưa ra căn cứ chứng minh việc đáp ứng đầy đủ các điều
kiện kinh doanh trong trường hợp có vi phạm.
12
Trong quá trình DN tiến hành hoạt động kinh doanh, điều kiện kinh
doanh là căn cứ để nhà nước tiến hành kiểm tra việc DN thực hiện và duy trì
các điều kiện kinh doanh sau cấp phép hoặc sau đăng ký kinh doanh. Trong
trường hợp có vi phạm nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp, hình thức chế tài
theo quy định pháp luật đối với chủ thể kinh doanh.
Đối với chủ thể kinh doanh: Điều kiện kinh doanh là cơ sở pháp lý để
DN tiến hành một hoặc một số hoạt động kinh doanh nhất định (bị hạn chế
kinh doanh). Việc quy định một cách minh bạch rõ ràng những điều kiện kinh
doanh đối với những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện không chỉ thể hiện
sự hạn chế quyền tự do kinh doanh mà nó còn là cơ chế bảo đảm thực hiện tối
đa quyền tự do kinh doanh của DN, vì căn cứ vào đó họ có thể biết họ được
làm gì, không được làm gì và trong điều kiện nào.
Các quy định về điều kiện kinh doanh góp phần kiểm soát và hạn chế
độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh. Đây là cơ sở để quyền tự do kinh
doanh của các tổ chức, cá nhân được đảm bảo. Hơn nữa, việc quy định rõ ràng
về điều kiện kinh doanh và ngành nghề kinh doanh có điều kiện còn giúp chủ
kiện kinh doanh chứng khoán, điều kiện kinh doanh bảo hiểm; lĩnh vực thương
mại: điều kiện kinh doanh xăng dầu, điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định
thương mại, điều kiện sản xuất vật liệu nổ; lĩnh vực tư pháp: điều kiện hành
nghề luật sư, điều kiện hành nghề công chứng... và điều kiện kinh doanh trong
từng lĩnh vực khác.
Thứ hai, căn cứ vào mức độ can thiệp của nhà nước đến chủ thể kinh
doanh
Căn cứ vào tiêu chí này có thể phân biệt điều kiện kinh doanh thành điều
kiện cần cấp phép, điều kiện cần xác nhận và điều kiện không cần cấp phép.
Điều kiện cần cấp phép được thể hiện dưới hình thức như: giấy phép kinh
doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề và các
chấp thuận khác của cơ quan nhà nước; điều kiện cần xác nhận của cơ quan có
thẩm quyền như: xác nhận vốn pháp định, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp. Điều kiện không cần cấp phép thường được quy định cụ thể và
14
chỉ cần chủ thể kinh doanh đáp ứng đủ các yêu cầu đó thì có thể tiến hành hoạt
động kinh doanh (xem chương 2).
Thứ ba, dưới góc độ thủ tục đăng ký kinh doanh, điều kiện kinh doanh
có thể chia thành hai loại sau
Loại điều kiện phải thể hiện trong hồ sơ đăng ký DN, nghĩa là những
điều kiện mà DN phải thỏa mãn trước khi đăng ký DN. Hồ sơ đăng ký DN chỉ
được coi là hợp lệ nếu đã có những tài liệu theo quy định của pháp luật và sự
đáp ứng những điều kiện này là một trong những điều kiện để DN được cấp
đăng ký DN. Đó là những điều kiện về vốn pháp định, về chứng chỉ hành nghề
và điều kiện đối với tổ chức kinh doanh.
Loại điều kiện không đặt ra khi đăng ký DN, cơ quan đăng ký kinh
doanh không có quyền đòi hỏi việc đáp ứng những điều kiện này trong hồ sơ
pháp luật về điều kiện kinh doanh để quản lý, điều tiết hoạt động kinh doanh
đối với các ngành nghề kinh doanh nhất định theo mục đích của mình. Tuy
nhiên, cũng giống như các mối quan hệ khác phát sinh trong quá trình quản lý
nhà nước, đây không phải là những quan hệ mang tính chất hành chính đơn
thuần, vì dù bị chi phối bởi yếu tố quyền lực công, quan hệ trên vẫn mang yếu
tố tài sản, trách nhiệm vật chất và bị chi phối bởi các quy luật kinh tế [5,
tr.214].
Phương pháp điều chỉnh của pháp luật về điều kiện kinh doanh là
phương pháp mệnh lệnh và phương pháp hướng dẫn mà không dùng phương
pháp thỏa thuận bình đẳng. Trong mối quan hệ này, chủ thể kinh doanh phải
tuân thủ đúng, đủ các yêu cầu, trình tự, thủ tục cần thiết để được kinh doanh
ngành nghề nhất định. Các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm hướng
dẫn, xác nhận đủ điều kiện kinh doanh và kiểm tra chủ thể kinh doanh theo
đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, so với phương pháp điều chỉnh đơn
thuần trong mối quan hệ hành chính, phương pháp điều chỉnh trong pháp luật
16
về điều kiện kinh doanh tương đối mềm dẻo, năng động và đặc biệt không can
thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của chủ thể kinh doanh, chỉ mang tính
chất thẩm tra, xác nhận theo đúng quy định của pháp luật.
Pháp luật về điều kiện kinh doanh không có quy định chung trong một
văn bản mà tồn tại ở nhiều văn bản luật chuyên ngành khác nhau và có nội
dung cơ bản sau (không phải tất cả các điều kiện kinh doanh đều có đầy đủ các
nội dung này):
Thứ nhất, quy định về cơ quan có thẩm quyền
Khác với quy định khá thống nhất về cơ quan có thẩm quyền trong thủ
tục thành lập DN, đối với điều kiện kinh doanh, cơ quan có thẩm quyền chủ
yếu là các cơ quan quản lý chuyên ngành trong lĩnh vực có ngành, nghề kinh
doanh và các giấy tờ, tài liệu tương ứng với điều kiện kinh doanh mà chủ thể
phải đáp ứng. Trong nhiều trường hợp, cơ quan có thẩm quyền có thể tiến hành
thẩm tra, kiểm tra để xem xét tính đầy đủ, trung thực, hợp pháp, hợp lệ của hồ
sơ - đây là điểm khác biệt so với thủ tục thành lập DN, cơ quan có thẩm quyền
chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ. Trình tự, thủ tục xác nhận điều
kiện kinh doanh là các bước mà chủ thể kinh doanh cũng như cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phải thực hiện để xem xét, giải quyết về việc xác nhận
điều kiện kinh doanh trong thời hạn theo quy định của pháp luật.
Còn đối với điều kiện kinh doanh không cần cấp phép dưới bất kỳ hình
thức nào thì pháp luật thường không có yêu cầu về việc nộp hồ sơ cũng như
trình tự, thủ tục thực hiện mà chủ thể kinh doanh được phép kinh doanh khi
đáp ứng đủ các yêu cầu theo quy định của pháp luật.
Thứ tư, quy định về cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát điều kiện kinh
doanh
Quy định về việc kiểm tra, giám sát điều kiện kinh doanh hiện nay còn
chung chung, hầu như không có quy định riêng về vấn đề này, chỉ quy định
chung về thẩm quyền, trách nhiệm kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà
nước chuyên ngành trong lĩnh vực kinh doanh có ngành, nghề kinh doanh có
điều kiện.
18
1.2.2. Khái quát sự hình thành và phát triển của pháp luật về điều kiện kinh
doanh ở Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về điều kiện kinh doanh có
thể chia thành các giai đoạn khác nhau với nội dung, đặc điểm riêng gắn liền
với điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của đất nước.
Thứ nhất, giai đoạn trước năm 1999
Tính đến trước năm 1999, nền kinh tế nước ta trải qua hai giai đoạn phát
nhà nước đối với hoạt động kinh doanh. Theo quy định tại hai văn bản luật
trên, nếu muốn kinh doanh ngành nghề cụ thể, ngoài giấy phép thành lập DN
và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, DN còn phải xin cấp các loại giấy
phép “con” khác như giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh
doanh, chứng chỉ hành nghề... do các Bộ, ngành hoặc các Sở thuộc tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương cấp. Trong giai đoạn này, các quy định về điều
kiện kinh doanh được cụ thể hóa và trở thành công cụ quan trọng giúp nhà
nước quản lý các hoạt động kinh doanh đảm bảo trật tự xã hội.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của lối tư duy trong nền kinh tế tập trung bao
cấp nhiều năm, kinh nghiệm quản lý thành phần tư nhân chưa nhiều nên các
quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh trong giai đoạn này không
tránh khỏi những hạn chế. Cụ thể, số lượng các giấy phép này rất lớn. Theo
thống kê sơ bộ từ thực tiễn kinh doanh trước khi Luật DN ra đời có khoảng
400 giấy phép các loại. Để được kinh doanh một ngành nghề, nhà đầu tư phải
mất nhiều công sức, thời gian và tiền bạc để thành lập DN, xin giấy phép kinh
doanh của các Bộ và cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành. Ví dụ, để kinh
doanh khách sạn, trước đây cần xin cấp giấy phép để bán báo, mở bể bơi,
phòng thể dục, biểu diễn âm nhạc dân tộc, điện thoại, internet... [11, tr. 106107]. Bên cạnh đó, vốn pháp định được áp dụng với rất nhiều ngành nghề. NĐ
số 221-HĐBT và NĐ số 222-HĐBT ngày 23/7/1991 của Hội đồng Bộ trưởng
đưa ra mức vốn pháp định áp dụng trong 18 ngành, nghề đối với loại hình DN
tư nhân và công ty.
20
Tóm lại, trong giai đoạn này các quy định về điều kiện kinh doanh đã
được hình thành khá sớm, từ việc chỉ được quy định chủ yếu trong các văn bản
hành chính, điều kiện kinh doanh đã được cụ thể hóa và quy định ở các văn
bản quy phạm (chủ yếu là văn bản dưới luật), và trở thành công cụ chủ đạo để
nhà nước quản lý hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, nhiều điều kiện kinh
về điều kiện kinh doanh đã được chú trọng, và thay vì chỉ quản lý bằng giấy
phép, Nhà nước đã hướng đến quản lý theo cơ chế “hậu kiểm” bằng việc quy
định về các điều kiện kinh doanh không cần giấy phép.
Tuy nhiên, sau những thay đổi đáng kể trên, quy định về điều kiện kinh
doanh dưới hình thức giấy phép kinh doanh là chủ yếu còn những tồn tại một
số hạn chế như: xu hướng phục hồi các giấy phép đã bị bãi bỏ; Bộ ngành cấp
giấy phép kinh doanh hoặc ban hành các điều kiện kinh doanh ngặt nghèo trái
với tinh thần Luật DN, trong đó có thêm những quy định về điều kiện kinh
doanh có tính chất như giấy phép gây cản trở đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Thứ ba, giai đoạn từ năm 2005 đến nay
Trước yêu cầu cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy DN phát triển
và đáp ứng xu hướng quốc tế hóa, Luật DN năm 2005 được ban hành nhằm
khắc phục những tồn tại, hại chế trong các quy định tại Luật DN năm 1999.
Trong đó, vấn đề về điều kiện kinh doanh tiếp tục được kế thừa những tư
tưởng hợp lý (giới hạn phạm vi quy định về điều kiện kinh doanh chỉ ở văn bản
luật, pháp lệnh, NĐ hay quyết định của Thủ tướng Chính phủ) đồng thời bổ
sung các quy định nhằm bảo đảm sự rõ ràng, minh bạch hóa về điều kiện kinh
doanh đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện như quy định: Chính
phủ định kỳ rà soát, đánh giá lại toàn bộ hoặc một phần các điều kiện kinh
doanh; bãi bỏ hoặc kiến nghị bãi bỏ các điều kiện kinh doanh không còn phù
hợp; sửa đổi hoặc kiến nghị sửa đổi các điều kiện bất hợp lý… (khoản 4 Điều
7); Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp
không được quy định về điều kiện kinh doanh (khoản 5 Điều 7). Tại NĐ số
102/2010/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật DN tiếp tục khẳng