TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP LÃNH ĐẠO VÀ PHONG CÁCH
CÔNG TÁC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP
CƠ SỞ Ở TỈNH CÀ MAU DƯỚI ÁNH SÁNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THỊ KIM CHI
HỒ CHÍ HẢO
MSSV: 6096073
LỚP: ML0968 A1 – K35
C ần Thơ: 05 / 2013
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH VỀ CÁN BỘ .......................................................................................... 4
1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về vị trí và vai trò của cán bộ trong sự nghiệp
cách mạng ............................................................................................................ 4
1.2. Tiêu chuẩn của người cán bộ cách mạng ..................................................... 7
1.3. Phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác của người cán bộ cách mạng
chung.
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ, Đảng ta trong quá trình
lãnh đạo cách mạng Việt Nam luôn xem việc xây dựng đội ngũ cán bộ là khâu “then
chốt”, quyết định sự thành bại của cách mạng, vận mệnh của Đảng, của đất nước và
chế độ. Chính vì vậy, Đảng ta đã xây dựng đội ngũ cán bộ có đạo đức, có trình độ,
năng lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ qua các thời kỳ cách mạng.
Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn một bộ phận cán bộ mắc bệnh độc đoán,
chuyên quyền, xa dân, phong cách làm việc thiếu khoa học, thiếu dân chủ… làm
cho nhân dân bất bình, giảm lòng tin đối với Đảng, nhà nước. Đặc biệt, trong thời
kỳ mở cửa và hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nước ta
đứng trước nhiều cơ hội phát triển, đồng thời cũng phải đối mặt với những thách
thức và nguy cơ trong phát triển. Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ, đổi mới phương
pháp lãnh đạo, phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ chủ chốt là vấn đề có tính
bức xúc, cấp bách. Nếu không giải quyết thành công vấn đề này sẽ không thể thực
hiện được những mục tiêu đổi mới đã vạch ra. Trước tình hình đó đòi hỏi các cấp ủy
1
Đảng phải quán triệt sâu sắc hơn quan điểm của Hồ Chí Minh về cán bộ, công tác
cán bộ và vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp vào điều kiện mới.
Chính vì tính cấp thiết đó mà tác giả chọn vấn đề Đổi mới phương pháp
lãnh đạo và phong cách công tác của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh
Cà Mau dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh làm đề tài nghiên cứu luận văn của
mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, luận
văn vận dụng để đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Cà
Mau, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm đổi mới phương pháp lãnh đạo và phong
trò của người cán bộ; tiêu chuẩn của người cán bộ, phương pháp lãnh đạo và phong
cách công tác của người cán bộ. Từ đó đề ra phương hướng, giải pháp nhằm đổi
mới phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác của người cán bộ chủ chốt cấp
cơ sở ở tỉnh Cà Mau.
Thời gian nghiên cứu luận văn từ năm 1997 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các
quan điểm của Đảng ta về cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt trong thời kỳ
đổi mới. Luận văn còn kế thừa những kết quả và thành tựu nghiên cứu của các tác
giả đi trước thể hiện trong các công trình đã công bố.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài cơ sở lý luận và phương pháp luận nêu trên tác giả còn sử dụng các
phương pháp phân tích, lịch sử, lôgic, tổng hợp, điều tra, thống kê, so sánh và một
số phương pháp cụ thể khác.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 2
chương, 8 tiết.
3
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
CÁN BỘ
1.1.
QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA
Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ phải luôn tự rèn luyện, phải luôn giữ được
tư cách của người cán bộ cách mạng, phải luôn giữ vững chủ nghĩa, ít lòng ham
muốn về vật chất, phải luôn quan tâm đến sự nghiệp cách mạng, sẵn sàng hi sinh tất
cả vì sự nghiệp cách mạng. Bởi theo Hồ Chí Minh:
Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không
tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt.
Cán bộ là người đem chính sách của chính phủ, của Đoàn thể thi
hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không
thể thực hiện được [13, tr.54].
1.1.2. Vị trí, vai trò của cán bộ
Trên cơ sở nắm vững những nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin
và trong thực tiễn hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh nhận thấy vị trí
quan trọng của đội ngũ cán bộ đối với sự nghiệp cách mạng, là nhân tố quan trọng
quyết định đến sự thành công của cuộc cách mạng. Vì vậy, Người luôn luôn chú
trọng đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ để có đầy đủ sức mạnh để hoàn thành sự
nghiệp vẻ vang của Đảng và nhân dân giao phó. Người coi cán bộ là trụ cột của đất
nước, nhưng phải là những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực mới có thể đảm
nhận được sứ mệnh cách mạng vẻ vang đó. Trước khi Đảng cộng sản Đông Dương ra
đời, để chuẩn bị đội ngũ cán bộ lãnh đạo cho cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí
Minh rất coi trọng công tác đào tạo, rèn luyện cán bộ. Người đã tuyển chọn những
thanh niên ưu tú trong các phong trào yêu nước thời kỳ đó, để đưa ra nước ngoài đào
tạo, học tập. Số thanh niên ưu tú này sau khi trở về nước đã tham gia lãnh đạo phong
trào cách mạng Việt Nam và trở thành những cán bộ lãnh đạo ưu tú của Đảng, góp
phần làm nên chiến thắng vẻ vang của cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh quan niệm
người cán bộ giữ vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng: Cán bộ là tiền
5
vốn của đoàn thể. Có vốn thì mới làm ra lãi. Bất cứ chính sách công tác gì nếu có
6
đồng thời lại là người thực hiện nhiệm vụ mà nhân dân giao phó, nên người cán bộ
cần phải: Lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau nỗi vui của thiên hạ [17, tr.291].
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, nhất
là đội ngũ lãnh đạo chủ chốt ở cấp cơ sở. Theo Người, cách mạng có thành công
hay không phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ cán bộ này, vì đội ngũ cán bộ này là những
người gần dân nhất, thấu hiểu nhân dân, có có mối quan hệ và liên hệ mật thiết với
nhân dân. Người viết: Cấp xã là người gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành
chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi [13, tr. 371]. Theo Hồ
Chí Minh, nếu như cán bộ lãnh đạo ở cấp Trung ương là những cán bộ có trách
nhiệm hoạch định chủ trương, đường lối chính sách thì cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở
lại những người có trách nhiệm trực tiếp lãnh đạo nhân dân thực hiện chủ trương,
đường lối đó, lãnh đạo xây dựng tổ chức đảng và hệ thống chính trị cơ sở vững
mạnh. Nghĩa là vị trí, vai trò của người cán bộ được biểu hiện thông qua bốn mối
quan hệ: đối với đường lối, chính sách, đối với tổ chức (cơ quan lãnh đạo, cơ quan
quản lý), đối với công việc và đối với dân chúng. Người cán bộ bị ràng buộc bởi các
mối quan hệ đó, và nếu muốn có một vai trò đích thực thì người cán bộ cách mạng
phải hoàn thành được các nhiệm vụ do các mối quan hệ đó đặt ra, góp phần to lớn
vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
1.2.
TIÊU CHUẨN CỦA NGƯỜI CÁN BỘ CÁCH MẠNG
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của người cán bộ, Hồ Chí Minh cho
rằng trong sự nghiệp cách mạng người cán bộ phải có một tiêu chuẩn nhất định,
phẩm chất chính trị, năng lực lãnh đạo mà Hồ Chí Minh thường gọi là đức và tài.
Giữa đức và tài, Người nêu đức trước rồi đến tài. Và đồng thời đức và tài không thể
thiếu được ở một người cán bộ cách mạng, nó gắn bó mật thiết với nhau và trong đó
tưởng trung với nước, hiếu với dân của Hồ Chí Minh không những kế thừa giá trị
của chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, mà còn vượt qua những hạn chế
truyền thống trước đó.
Trung với nước là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước, giữ nước,
phát triển đất nước, làm cho đất nước sánh vai với cường quốc năm châu. Nước là
của dân, dân là chủ của đất nước, trung với nước là trung với dân, vì lợi ích của
nhân dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Hiếu với dân là thương dân, là phục vụ hết lòng để được dân tin yêu, quý
mến. Hiếu với dân là phải biết phấn đấu hi sinh, đem lại độc lập tự do, dân chủ,
8
hạnh phúc cho dân, sống cuộc sống của dân, nói tiếng nói của dân. Phải biết tin vào
dân, dựa và dân, gần gũi, giúp đỡ dân, lo cho cuộc sống của dân ngày càng tốt hơn.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho
dân phải hết sức tránh [12, tr.55]. Hiếu với dân còn có nghĩa là cán bộ, đảng viên
vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ của nhân dân, chứ không phải là quan cách
mạng, không phải để đè đầu cưỡi cổ nhân dân.
Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng.
Người dạy, đối với mỗi cán bộ đảng viên, phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với
nhân dân, và hơn nữa, phải tận trung với nước, tận hiếu với dân. Trung với nước,
hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc. Phải
nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí,
làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của người làm chủ đất nước. Phải làm
cho phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng
bào sung sướng[13, tr. 249].
Hai là, gần dân, quan hệ mật thiết với nhân dân và yêu thương con người
Với Hồ Chí Minh, “tư tưởng thân dân” của dân tộc được Người tiếp thu triệt
để, Người yêu cầu người cán bộ cách mạng cần có tinh thần hy sinh, phục vụ nhân
dân, tin tưởng và yêu mến nhân dân, quan hệ mật thiết với nhân dân, yêu thương
cách mạng của mình. Người đã kế thừa những giá trị tốt đẹp của đạo đức phương
Đông và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, lọc bỏ những gì không còn phù hợp và
đưa vào những nội dung mới, với mục tiêu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh quan niệm cần, kiệm,
liêm, chính là bốn đức tính của con người, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương
, Người nói:
Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa, thì không thành trời,
Thiếu một phương, thì không thành đất.
Thiếu một đức, thì không thành người [17, tr.631]
Mỗi chữ: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư đã được Hồ Chí Minh giải
thích rất rõ, rất cụ thể và dễ hiểu đối với mọi người.
10
Theo Hồ Chí Minh:
Cần tức là: Siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai…Cần là luôn luôn cố
gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời [13, tr.632 – tr.633], việc gì, dù khó khăn
đến mấy cũng cũng phải cố gắng làm được. Cần là làm việc siêng năng trong lao
động và sản xuất. Đức tính Cần chỉ có được khi mọi người ý thức rõ và thực hành
thường xuyên. Để thực hành nội dung Cần thì phải siêng năng, từ siêng học, siêng
nghĩ đến siêng làm, siêng hoạt động, siêng học hỏi đồng chí, đồng nghiệp, học hỏi
nhân dân. Phạm vi thực hành Cần từ mỗi cá nhân, gia đình, cơ quan, cả nước.
Người nhấn mạnh Người siêng năng thì mau tiến bộ… Cả nước siêng năng thì nước
mạnh giàu [13, tr.633]. Muốn thực hiện chữ Cần có hiệu quả thì làm việc phải có kế
hoạch, tính toán trước sau, phân công rõ ràng, sử dụng nhân lực, nguồn lực hợp lý,
khoa học. Làm việc phải có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh,
lam... [13, tr635]. Vì Người cho rằng một dân tộc giàu mạnh thật sự là phải biết cần,
kiệm, liêm, đó là sức mạnh vật chất và tinh thần nội tại của một đất nước.
Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng
đắn, thẳng thắn, tức là tà [13, tr.643]. Đối với mình không tự cao, tự đại; đối với
người không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân
thành, khiêm tốn, đoàn kết. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư,
việc nhà. Được giao nhiệm vụ gì quyết làm cho kỳ được, phải thường xuyên tự sửa
mình để tăng điều tốt, giảm điều xấu. Việc gì có lợi cho dân, cho nước thì dù khó
khăn hay nhỏ mấy cũng làm bằng được, việc gì có hại cho đất nước, cho nhân dân
thì phải hết sức tránh.
Hồ Chí
Minh khẳng định
rằng:
Cần, Kiệm,
Liêm là
gốc rễ
của Chính[13,tr.642], Người còn ví hình ảnh như một cây cần phải có gốc, rễ, cần
phải có cành, lá, hoa quả mới hoàn toàn. Vì Có cần mới kiệm. Có cần, kiệm mới liêm.
Có cần, kiệm, liêm mới chính [13, tr.209]. Con người thì không phải hoàn toàn như
vậy, nhưng đối với Người, người cán bộ cách mạng cần phải có bốn đức tính đó. Bởi
người cán bộ cách mạng thì phải làm gương trước, tức là làm cái cho người ta soi
sáng để sửa, do vậy cán bộ cách mạng phải “Chính” trước mới giúp được người
thành “Chính”. Vì vậy mỗi cán bộ, đảng viên phải cần, kiệm, liêm, chính là điều vô
cùng cần thiết trong sự nghiệp hoạt đông cách mạng của mình.
của cách mạng thế giới, mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam điều góp phần vào
thắng lợi chung của phong trào cách mạng thế giới. Do đó Người khẳng định: Bốn
phương vô sản đều là anh em [18, tr.195], nên yêu đội ngũ cán bộ, công chức phải
nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, nhất là đối với Lào và Cam – Pu – Chia anh em,
phải thấu suốt quan điểm Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình [15,
tr.60]. Theo Người tinh thần quốc tế trong sáng là đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì
hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội; Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu
nước. Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng,
chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc... Sự
đoàn kết ấy là nhằm những mục tiêu lớn của thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội, là hợp tác hữu nghị với tất cả các nước, các dân tộc. Sự
13
đoàn kết ấy dựa trên cơ sở bình đẳng và kết hợp giữa lợi ích quốc gia với lợi ích
quốc tế [4].
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn liền với chủ nghĩa yêu nước.
Người đã nhấn mạnh: Tinh thần yêu nước và tinh thần Quốc tế liên hệ khăng khít
với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hoà
bình thế giới [15, tr.228]. Nếu tinh thần yêu nước không chân chính và tinh thần
quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn đến chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hoặc chủ
nghĩa bành trướng bá quyền, kỳ thị chủng tộc… Những khuynh hướng sai lệch ấy
có thể dẫn đến chỗ phá vỡ một quốc gia dân tộc hay một liên bang đa quốc gia dân
tộc, phá vỡ tình đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chung, thậm chí có thể đưa
đến tình trạng đối đầu đối địch.
Có thể nói tinh thần quốc tế trong sáng trong đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn
từ tình thương yêu đối với con người; vì mục tiêu giải phóng các dân tộc bị áp bức,
giải phóng giai cấp, giải phóng con người, mang lại tự do và bình đẳng thực sự cho
con người. Từ chủ nghĩa quốc tế trong sáng đó, Hồ Chí Minh đã đặt nền móng và
xây dựng nên tình đoàn kết quốc tế rộng lớn của nhân dân Việt Nam với các dân tộc
địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm
được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính
phủ biết.
Báo cáo phải nói rõ: tên, tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện
vọng và chỗ ở của người đó. Hạn trong một tháng, các cơ quan địa
phương phải báo cáo ngay cho đủ [12, tr.451].
Tài của người cán bộ là trình độ, năng lực để hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt
nhất, có hiệu quả nhất. Người cán bộ có tài là người có trình độ năng lực, giỏi về
chuyên môn nghiệp vụ, giàu kinh nghiệm, có nhiều sáng kiến, khả năng nhận thức
đúng các quy luật, sáng tạo trong giải quyết công việc; luôn làm chủ được tri thức
khoa học và có khả năng hiểu biết sâu rộng về các lĩnh vực. Hồ Chí Minh yêu cầu
người cán bộ cách mạng không những phải thường xuyên nâng cao trình độ mà phải
biết tự rèn luyện, học hỏi đúc kết từ thực tiễn hoạt động cách mạng, phải Học, học
nữa, học mãi như Lênin đã dạy. Người đã khẳng định trình độ chuyên môn, năng
lực chỉ là kết quả của sự nghiên cứu, suy nghĩ trong những hoàn cảnh, trong những
điều kiện rất tầm thường, rất phổ thông, rất thiết thực [13, tr.244].
Tài là năng lực chuyên môn bảo đảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được
giao; là tầm tư tưởng, trí tuệ của người cán bộ, đảng viên trong việc tiến hành công
việc. Tài phải được thể hiện ở trình độ, năng lực tư duy phát triển; có tư duy biện
chứng, lôgíc, có tầm hiểu biết sâu rộng và phương pháp làm việc khoa học, hiệu
15
quả, đủ sức cắt nghĩa và tìm được những câu trả lời thuyết phục trước những biến
động phức tạp và mau lẹ của thực tiễn đặt ra. Và tài năng của người cán bộ là phải
có năng lực tổ chức thực tiễn, tiếp nhận tri thức mới một cách mau lẹ.
Hơn thế nữa, thực tiễn cuộc sống đã chứng minh rằng tài năng của con người
có được không phải là bẩm sinh hay thiên phú mà phần nhiều là do sự cần mẫn,
nhọc nhằn trong học tập, rèn luyện và tranh đấu mà có được. Ý chí và sự khổ luyện
dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho
đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết [16, tr.498]. Nó càng có ý nghĩa
trong sự nghiệp đổi mới mà trước hết là đổi mới công tác tổ chức cán bộ trong giai
đoạn hiện nay. Học tập và làm theo lời Người dạy không những là nhu cầu thiết
thân cho mỗi cá nhân đang tồn tại mà còn là những định hướng vĩ mô của Đảng và
Nhà nước.
1.3.
PHƯƠNG PHÁP LÃNH ĐẠO VÀ PHONG CÁCH CÔNG TÁC CỦA
NGƯỜI CÁN BỘ CÁCH MẠNG
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ
Chí Minh thường xuyên quan tâm đến việc xây dựng và sửa đổi cách lãnh đạo cũng
như lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên. Vì đây là nhân tố quan trọng góp phần
thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng đề ra. Tại Đại hội VI của Đảng, đã xác định
bốn mặt cần đổi mới: tư duy, tổ chức, cán bộ, phong cách lãnh đạo và phong cách
công tác. Phải đổi mới đồng bộ cả bốn mặt này, vì phương pháp lãnh đạo và phong
cách công tác có ý nghĩa quan trọng, trực tiếp liên quan đến việc đưa đường lối đổi
mới vào cuộc sống.
Nói về phương pháp, Giáo sư Đặng Xuân Kỳ nêu: Phương pháp là toàn bộ
những cách thức với tính chất là một hệ thống các nguyên tắc xuất phát từ các quy
luật tồn tại và vận động của đối tượng, khách thể đã được nhận thức, để định
hướng và điều chỉnh hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con
người, nhằm tác động vào đối tượng, khách thể để thực hiện mục đích đã định [7,
tr.21].
Với Hồ Chí Minh cũng vậy, đó là phương pháp của một vị lãnh tụ đã sử dụng
lãnh đạo cách mạng Việt Nam lúc sinh thời, và đã trở thành một cái riêng của Hồ Chí
Minh. Người dùng phương pháp của mình để lãnh đạo Đảng ta, nhân dân ta thực hiện
lý tưởng cách mạng cao đẹp nhằm giải phóng nhân dân khỏi ách áp bức, bóc lột, chăm
lo cuộc sống của dân, phát huy khả năng sáng tạo của dân, tập hợp tổ chức lực lượng
lập, trong một bộ phận những ông quan cách mạng đã xuất hiện. Họ chính là những
người đã biến những nghị quyết và chỉ thị Đảng thành những lời nói suông, không
phải phục vụ nhân dân mà trở thành cha mẹ dân, làm hại đến lòng tin cậy của nhân dân
đối với Đảng.
18
Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, một tác phẩm để xây
dựng và sửa chữa phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác cho một đội ngũ
cán bộ, đảng viên của cuộc cách mạng. Trong việc ra quyết định, chính sách trong
lãnh đạo, Người yêu cầu: Người lãnh đạo cách mạng phải khéo sửa đổi khi có
những sai lầm trong tư tưởng, lý luận, kế hoạch và nghị quyết của mình. Đồng thời
khi giai đoạn này phát triển lên giai đoạn khác thì sự hiểu biết của người lãnh đạo
và chiến sĩ cách mạng cũng phải tiến theo. Nghĩa là đề ra nhiệm vụ mới và phương
pháp mới hợp với tình hình mới của cách mạng [14, tr254 – 255], có như vậy công
tác lãnh đạo mới thành công, mới đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi. Điều
quan trọng của phương pháp lãnh đạo là phải làm cho nghị quyết, đường lối, chính
sách của Đảng thấm vào nhân dân, đi vào cuộc sống, biến nghị quyết của Đảng
thành hành động của quần chúng, tạo ra đột phá. Vì vậy, không chỉ có nghị quyết
của Đảng mà điều quan trọng là cần phải có năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ,
phải xác định đường lối, tổ chức, lựa chọn và bố trí cán bộ cho phù hợp với trình độ
quản lý. Phải tốt khâu vận động, tuyên truyền, tổ chức cho quần chúng thực hiện và
đồng thời phải kiểm soát việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng… Để có
cách lãnh đạo tốt, Người chỉ rất cụ thể cách thức và nội dung công việc của người cán
bộ lãnh đạo, Người nêu:
Lãnh đạo đúng nghĩa là:
1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế thì
nhất định phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng vì dân chúng
chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta.
việc đó cho họ khi họ không muốn làm, khi đã trao cho họ phải hoàn toàn tin tưởng
họ. Cần có một sự chỉ đạo đúng đắn, rõ ràng. Liên quan tới vấn đề này, Người chỉ
rõ: Phải đào tạo một mớ cán bộ phụ trách, có gan làm việc, ham làm việc. Có thế
Đảng mới thành công. Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò
đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng [13, tr.281].
Thứ hai là, người cán bộ phải tổ chức, sắp xếp công việc cho đúng. Người cán bộ
lãnh đạo dù làm nhiệt tình đến đâu nếu không được lực lượng cho công việc thì không
thể đạt kết quả tốt, vì vậy cần phải tổ chức lực lượng. Nếu là người có tài, đủ tiêu chuẩn
lại phù hợp với nhu cầu của cách mạng thì phải dùng, phải tập hợp họ lại để phục vụ cho
sự nghiệp cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định người cán bộ lãnh đạo chính là hạt nhân
để tập hợp, đoàn kết lực lượng tạo thành một sức mạnh cho cách mạng. Và Chủ tịch Hồ
Chí Minh cho rằng: Bất kỳ công việc gì, cũng phải dùng hai cách lãnh đạo sau đây: một
là liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng. Hai là liên hợp người lãnh đạo
20
với quần chúng [13, tr.288].
Thứ ba, Hồ Chí Minh cho rằng, muốn có đội ngũ cán bộ lãnh đạo tốt cần
phải tổ chức thực hành kiểm tra. Trước tiên, Người cho rằng người cán bộ cần phải
loại bỏ chủ nghĩa cá nhân, vì chủ nghĩa cá nhân như là thứ giặc nội xâm, Chủ nghĩa
cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan,
tham ô,, lãng phí…” [17, tr.300], nó là “kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang
gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng việc của ta
[14, tr.490]. Người yêu cầu phải chống giặc này như giặc ngoại xâm vì chủ nghĩa cá
nhân, tham ô, lãng phí làm tha hoá mất bao nhiêu cán bộ, đảng viên của ta. Nó làm
cho người cán bộ, đảng viên tha hóa về phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo,
làm mất uy tín của Đảng, mất dần sự tin tưởng của nhân dân đối với sự lãnh đạo của
Đảng, mà trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cơ quan, tổ chức cơ sở. Người căn dặn:
Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị
Chí Minh là phải liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân,, không được xa rời họ,
vì thắng lợi của cuộc cách mạng phụ thuộc vào mối quan hệ với dân chúng, quan hệ
đó cần chặt chẽ đến mức theo Người không thể giảm bớt mối liên hệ này một giây,
một phút nào, điều đó có nghĩa là không thể phân biệt một cách rạch ròi giữa một vị
lãnh đạo với tầng lớp nhân dân, coi dân chúng là người chịu sự lãnh đạo đồng thời
là lãnh đạo và đó là sự liên hợp lãnh đạo với quần chúng. Theo Hồ Chí Minh, người
lãnh đạo phải tìm cho được trong đội ngũ cán bộ một số người hăng hái, trung kiên
cho sự lãnh đạo. Người lãnh đạo phải dùng những người hăng hái trong quần chúng
làm trung kiên cho sự lãnh đạo bởi vì những người cán bộ hăng hái có thể điều
chỉnh được phần đông hạng vừa, hạng kém, Người nói: Bất kỳ nơi nào có quần
chúng, thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa và hạng kém.
Mà trong ba hạng đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa nhiều hơn hết, hạng hăng hái và
hạng kém đều ít hơn [13,tr.289]. Đó là vấn đề trong lãnh đạo: ắt phải từ trong quần
chúng mà ra, trở lại nơi quần chúng [13, tr.290]. Nghĩa là, gom góp các ý kiến,
kinh nghiệm của quần chúng, phải học học nhân dân để làm giàu tri thức kinh
nghiệm của mình, đồng thời đưa ra chính sách đúng đắn hơn để phục vụ lợi ích cho
nhân dân. Đem nó tuyên truyền giải thích cho quần chúng và làm cho nó trở thành ý
kiến của quần chúng, làm cho quần chúng hiểu và thực hành ý kiến đó, trong lúc
quần chúng thực hành ý kiến, ta xem xét lại coi ý kiến đó có đúng hay không, nếu
có, người cán bộ lãnh đạo phát triển những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm,
tuyên truyền, giải thích, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành. Theo Hồ Chí
Minh, đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt, vì chỉ khi những người liên hệ mật thiết với
22
dân chúng, hiểu biết, chú trọng đến lợi ích của dân chúng thì dân chúng mới tin cậy
và thừa nhận đó là người lãnh đạo của họ, Người viết: Chẳng những phải lãnh đạo
quần chúng, mà lại phải học hỏi quần chúng... Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình,
người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm
cho kinh nghiệm của mình [13,tr.290]. Cách lãnh đạo đúng đó là học hỏi quần