BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NGỌC
PHÁP LUẬT VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở NƯỚC TA
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60380102
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HOÀNG QUỐC HỒNG
HÀ NỘI - 2014
Nguyễn Thị Ngọc
Lớp CH20. Luật Hành Chính
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ
giáo viên hướng dẫn là TS. Hoàng Quốc Hồng. Các nội dung nghiên cứu và kết
quả trong luận văn là trung thực và rõ ràng. Các số liệu, dẫn chứng được chính
tác giả thu thập từ các nguồn tài liệu khác nhau và đã được trích dẫn trong danh
Nguyễn Thị Ngọc
Nguyễn Thị Ngọc
Lớp CH20. Luật Hành Chính
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài .................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu ................................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 3
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn ............................................................ 4
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.................................................................. 5
6. Kết cấu của luận văn .................................................................................................... 5
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Khái niệm và đặc điểm cán bộ, công chức cấp xã .............................................. 6
1.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã ..................................................................................... 6
1.1.2. Đặc điểm của cán bộ, công chức cấp xã .............................................................................10
1.2. Vai trò của cán bộ, công chức cấp xã ................................................................. 14
1.2.1. CBCCCX là người thực hiện hoạt động quản lý HCNN ở địa phương...15
1.2.2. CBCCCX trực tiếp giải quyết các kiến nghị, yêu cầu của nhân dân trên địa bàn xã,
phường, thị trấn..................................................................................................................................15
1.2.3. Đội ngũ CBCCCX đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết
dân tộc ở địa phương.........................................................................................................................16
1.3. Nguyên tắc tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức cấp xã ............. 17
1.3.1. Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng .......................................................................17
1.3.2. Nguyên tắc dân chủ, công khai, bình đẳng .........................................................................18
1.3.3. Nguyên tắc công bằng, khách quan.....................................................................................18
1.3.4. Nguyên tắc phân công trách nhiệm, quyền hạn nhiệm vụ phù hợp với năng lực côn g
2.3.3. Nguyên nhân ...........................................................................................................................43
2.3.3.1. Nguyên nhân của những ưu điểm ........................................................ 43
2.3.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế ......................................................... 43
2.4. Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật hiện hành về CBCCCX ...... 45
2.4.1. Việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật hiện hành về CBCCCX ở một số
địa phương và kết quả đạt được ......................................................................................................45
2.4.2. Một số điểm hạn chế trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về CBCCCX ở một số
địa phương..........................................................................................................................................49
2.4.3. Nguyên nhân ...........................................................................................................................55
2.4.3.1. Nguyên nhân của những ưu điểm ........................................................ 55
Nguyễn Thị Ngọc
Lớp CH20. Luật Hành Chính
2.4.3.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế............................................. 55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Quan điểm của Đảng về hoàn thiện pháp luật và xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã........................................................................................................... 59
3.1.1. Bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng.....................................................................................59
3.1.2. Gắn liền với cải cách BMNN, đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiện đại......60
3.1.3. Nhằm hướng tới việc xây dựng đội ngũ CBCCCX chuyên nghiệp, có đủ năng lực,
trình độ. ...............................................................................................................................................61
3.1.4. Xuất phát từ thực tiễn nước ta và xu hướng phát triển chung của thời đại; đáp ứng yêu
cầu chủ động hội nhập quốc tế. .......................................................................................................62
3.2. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã ở Việt Nam hiện nay ........................................................................................ 63
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về CBCCCX .....................................................................................63
3.2.1.1. Hoàn thiện pháp luật về bầu cử, tuyển dụng CBCCCX ..................... 63
BHYT
BẢO HIỂM Y TẾ
CBCC
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
CBCCCX
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
CNH HĐH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
ĐTBD
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
HCNN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
HĐND
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
UBND
công chức và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Sau khi Nghị quyết ra
đời, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản nhằm chuẩn hóa, nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Thực hiện Nghị quyết của Trung ương và các
Nghị định của Chính phủ; Tỉnh ủy, UBND các địa phương trên cả nước đã có
nhiều giải pháp tích cực để nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã.
Hiện nay, các vấn đề về cán bộ, công chức cấp xã được quy định trong một
số văn bản như Luật cán bộ, công chức năm 2008; Nghị định số 92/2009/NĐ-CP
của Chính phủ ngày 22 tháng 10 năm 200 quy định về chức danh, số lượng, một
số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những
người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; Nghị định số 112/2011/NĐ-CP
của Chính phủ ngày 05 tháng 12 năm 2011 về công chức xã, phường, thị
trấn...Nhìn chung, hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về cơ bản đã điều chỉnh
Nguyễn Thị Ngọc
Lớp CH20. Luật Hành Chính
2
tương đối khái quát và đầy đủ các vấn đề tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi
dưỡng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức cấp xã... Đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã từng bước được phát triển cả số lượng và chất lượng; tuy nhiên trên
thực tế vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng tốt nhất yêu cầu quản lý, điều
hành ở địa phương. Trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá và nhận thức về
cán bộ công chức cấp xã em xin mạnh dạn chọn đề tài “Pháp luật về cán bộ, công
chức cấp xã ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sĩ luật
học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về cán bộ, công
công chức xã, phường, thị trấn” của Nguyễn Thế Vịnh (Tạp chí Tổ chức cán bộ,
Số 1/2009), bài viết về “Những điểm mới về chức danh, số lượng, chế độ chính
sách đối với cán bộ công chức cơ sở” của tác giả Nguyễn Thế Vịnh đăng trên
Tạp chí Tổ chức nhà nước, Số 12/2009, ....
Dưới phạm vi và mức độ khác nhau, các công trình nghiên cứu và các bài
viết này đã đề cập tới một số khía cạnh liên quan đến pháp luật về cán bộ, công
chức cấp xã song chưa đề cập một cách toàn diện, đầy đủ các vấn đề về cán bộ,
công chức cấp xã. Đặc biệt, trong điều kiện tình hình mới, nhiều quan điểm,
nhận định, đánh giá không còn phù hợp với thực tế. Vì vậy, tiếp thu những kết
quả nghiên cứu trên, luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu một cách hệ thống,
toàn diện các quy định của pháp luật hiện hành về cán bộ, công chức cấp xã và
thực tiễn thực hiện các quy định này trên thực tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về cán
bộ, công chức cấp xã; thực trạng các quy định của pháp luật và thực tiễn thực
hiện pháp luật về các vấn đề liên quan đến cán bộ, công chức cấp xã.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy phạm pháp luật trực
tiếp điều chỉnh các nội dung có liên quan đến cán bộ, công chức cấp xã như bầu
cử, tuyển dụng, quyền, nghĩa vụ, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, phân loại, khen
thưởng, kỷ luật, tiền lương và phụ cấp... đối với cán bộ, công chức cấp xã. Từ
những quy định đó, luận văn đi sâu nghiên cứu việc thực hiện những quy định
này, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện nay ở Việt Nam.
Nguyễn Thị Ngọc
Lớp CH20. Luật Hành Chính
4
Lớp CH20. Luật Hành Chính
5
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận khoa học của
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, công chức; các quan
điểm, đường lối, chính sách của Đảng về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, các quan điểm của Đảng về cải cách hành
chính nhà nước đặc biệt là về đội ngũ cán bộ, công chức.
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng
các phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê Nin, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn,
phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, phương pháp lịch sử...
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được kết cấu như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cán bộ, công chức cấp xã
Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành
pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất
lượng cán bộ, công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay.
Nguyễn Thị Ngọc
Lớp CH20. Luật Hành Chính
6
tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ
thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và
Nguyễn Thị Ngọc
Lớp CH20. Luật Hành Chính
7
cấp xã. Công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế được hưởng lương từ
nguồn ngân sách nhà nước” [37, tr.173]. Định nghĩa này đã nêu rõ và khá đầy
đủ, khái quát về công chức.
Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì “Công chức là
những người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ
quan nhà nước, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp” [45, tr.207]; “Cán bộ
là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức” [45, tr.109].
“Công chức” được hiểu là những người làm việc trong các cơ quan Nhà nước,
thực hiện công vụ và hưởng lương do Ngân sách Nhà nước cấp; còn “cán bộ” thì
rất rộng, bao gồm cả những người lãnh đạo và các nhà chuyên môn làm việc
trong bộ máy Nhà nước và còn làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp...
GS.TS Phạm Hồng Thái trong cuốn “Công vụ công chức nhà nước” quan
niệm công chức là người đại diện cho Nhà nước để thực thi quyền hành pháp.
Theo quan niệm này, công chức gắn liền với hoạt động hành pháp, chỉ những
người hoạt động trong nền hành chính, nhân danh Chính phủ mới là công chức,
thẩm phán và các nghị sĩ không phải là công chức [51, tr.7]
Khái niệm cán bộ xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta vào những năm
30 của thế kỷ XX dùng để chỉ một lớp người, những chiến sĩ cách mạng đã hy
sinh gian khổ, đấu tranh giành độc lập dân tộc và sau này trong thời kỳ kháng
chiến chống Pháp. Khái niệm “cán bộ” được dùng phổ biến để chỉ tất cả những
chưa phân định rõ đối tượng nào là cán bộ, đối tượng nào là công chức. Vì vậy
ngày 13 tháng 11 năm 2008 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua
Luật CBCC năm 2008 và đưa ra khái niệm CBCC phân biệt rõ hai đối tượng này.
Điều 4 Luật CBCC năm 2008 quy định:
“1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước.
2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công
Nguyễn Thị Ngọc
Lớp CH20. Luật Hành Chính
9
lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được
bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp
luật.
Trước khi có Pháp lệnh CBCC sửa đổi, bổ sung năm 2003, CBCCCX là
10
xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội
Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
- Công chức cấp xã có các chức danh: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng
Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối
với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường
(đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hoá - xã hội.
Như vậy cán bộ cấp xã gồm cán bộ HĐND xã (Chủ tịch, Phó Chủ tịch
HĐND xã), cán bộ UBND xã (Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã) và cán bộ của
các tổ chức chính trị - xã hội của xã (Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Hội Nông dân Việt
Nam, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam). Công chức xã là những người
được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã
bao gồm Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Tài
chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hoá - xã hội; Địa chính - xây dựng - đô thị
và môi trường (ở phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và
môi trường (ở xã).
Từ những phân tích trên có thể hiểu CBCCCX là công dân Việt Nam, được
phân loại theo trình độ đào tạo ngành chuyên môn, trong biên chế, được hưởng
lương từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, làm việc tại HĐND và
UBND cấp xã do được bầu để giữ chức vụ hoặc được tuyển dụng giao giữ chức
danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã.
1.1.2. Đặc điểm của cán bộ, công chức cấp xã
Ở nước ta, chính quyền cơ sở (chính quyền xã, hường, thị trấn) là cấp
hành chính ở địa phương trong hệ thống hành chính, là cấp trực tiếp tổ chức thực
hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chăm lo đời sống
của nhân dân và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, môi trường ở
đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ gồm có cán bộ của HĐND xã (Chủ tịch, Phó
Chủ tịch HĐND xã), cán bộ UBND xã (Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã) và cán
bộ của các tổ chức chính trị- xã hội của xã (Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Hội Nông dân Việt
Nam, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam). Những người được tuyển dụng
giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã gồm có:
Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông
nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ
tịch; Văn hoá - xã hội.
Nguyễn Thị Ngọc
Lớp CH20. Luật Hành Chính
12
Việc bầu cử và tuyển dụng CBCCCX phải được thực hiện phù hợp với
năng lực đối với những người được bầu cử và tuyển dụng. Đó là các tiêu chuẩn
chung như phẩm chất chính trị, tư tưởng; phẩm chất đạo đức và trình độ năng
lực. Trình độ và năng lực của đội ngũ CBCCCX được biểu hiện ở trình độ kiến
thức, trình độ nhận thức và khả năng tổ chức thực hiện những chủ trương, nghị
quyết, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ở cơ sở. Ngoài ra, họ
phải là những người có hiểu biết sâu sắc về điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục
tập quán của địa phương; nắm vững chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và
Nhà nước. Đội ngũ CBCCCX phải có khả năng xử lý linh hoạt, phát hiện và áp
dụng cái mới vào cuộc sống ở địa phương mình và giải quyết những vấn đề cụ
thể ở cơ sở; từ thực tiễn cuộc sống vạch ra được phương hướng phát triển các
mặt kinh tế - xã hội của địa phương mình.
từng địa phương. Đặc trưng của xã miền núi khác với xã ở đồng bằng, thị trấn
nên việc quản lý, điều hành và thực hiện các chính sách ở mỗi địa phương này
đòi hỏi một số lượng CBCCCX không giống nhau. Do đó việc bố trí số lượng và
cơ cấu CBCCCX phải được thực hiện dựa theo kết quả phân loại đơn vị hành
chính. Các địa bàn phức tạp, đông dân cư, diện tích lớn; địa bàn xã nông thôn
rộng, giao thông nông thôn đi lại khó khăn, việc tuyên truyền các chủ trương
chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước không thuận tiện nên cần thiết phải
bố trí số lượng CBCCCX nhiều hơn so với các xã diện tích nhỏ, ít dân cư. Có
như vậy mới đáp ứng được công tác giải quyết thủ tục hành chính, việc quản lý
tình hình an ninh, trật tự cũng như thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính
quyền cấp xã ở mỗi địa bàn.
- Thứ sáu, Cán bộ cấp xã được bầu cử căn cứ vào Luật và Điều lệ của tổ
chức. Việc bầu cử các chức danh cán bộ cấp xã làm việc trong các cơ quan nhà
nước như Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chỉ tịch, Phó chủ tịch UBND được thực
hiện theo quy định tại Luật tổ chức HĐND và UBND, Luật bầu cử đại biểu
HĐND. Việc bầu cử các chức danh cán bộ cấp xã làm việc trong các tổ chức
chính trị - xã hội như Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, Chủ tịch Hội Cựu
chiến binh Việt Nam được thự hiện theo Điều lệ của các tổ chức đó là chính.
Ngoài ra giữa cán bộ cấp xã và công chức cấp xã cũng có những điểm
khác nhau
+ Về tiêu chuẩn chung: Hầu hết cán bộ xã đều đảm nhận vị trí chủ chốt tại
xã kể cả công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể nên tiêu chuẩn chính trị là một
trong nhưng tiêu chuẩn quan trọng nhất. Công chức cấp xã đòi hỏi phải có trình
Nguyễn Thị Ngọc
Lớp CH20. Luật Hành Chính
chủ yếu là do cán bộ quyết định. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 Khóa VII
đã khẳng định “Cán bộ cũng có vai trò cực kỳ quan trọng, hoặc thúc đẩy hoặc
kìm hãm tiến trình đổi mới. Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ
Nguyễn Thị Ngọc
Lớp CH20. Luật Hành Chính
15
cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp tổ chức thực
hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong thực
tế. Pháp luật của nhà nước có được thực thi tốt hhay không, có hiệu quả hay
không hiệu quả một phần quyết định là ở cấp cơ sở. Cấp cơ sở trực tiếp gắn với
quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng. Cơ sở xã, phường, thị
trấn mạnh hay yếu một phần quan trong phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán
bộ xã, phường, thị trấn”. Vai trò của CBCCCX được thể hiện:
1.2.1. CBCCCX là người thực hiện hoạt động quản lý HCNN ở địa phương
CBCCCX trực tiếp quản lý, điều hành các hoạt động, nhiệm vụ được cấp
trên giao; thông qua các hoạt động của mình, thực hiện chức năng quản lý về
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương. Đội ngũ CBCCCX là
người giữ vai trò quyết định trong việc quán triệt, tổ chức thực hiện mọi quyết
định của cấp uỷ cấp trên, cấp uỷ cùng cấp và mọi chủ trương, kế hoạch, sự chỉ
đạo của chính quyền cấp trên, cũng như mọi chương trình, kế hoạch của chính
quyền xã. Là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đến nhân dân, làm cho các tầng lớp
nhân dân hiểu đúng, hiểu đầy đủ các chủ trương, chính sách đó.
Với tư cách là người thực thi quyền hành pháp, đội ngũ CBCCCX được
thực hiện các quyền như ra quyết định quy phạm hành chính, áp dụng pháp luật
bằng việc ra quyết định hành chính cá biệt cụ thể, tổ chức phục vụ đời sống xã
tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư để người dân trên địa bàn tham gia vào
phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong cuộc
sống.
Để thực hiện tốt vai trò này đòi hỏi CBCCCX phải có năng lực tổ chức,
bố trí, sắp xếp, sử dụng, tập hợp và lôi cuốn mọi người vào hoạt động; xây dựng
hệ thống tổ chức bộ máy vững mạnh và phong trào quần chúng sâu rộng ở địa
phương; có khả năng xử lý các tình huống phát sinh về tài chính, thiên tai, dịch
họa, va chạm xóm giềng, làng tộc; phải có khả năng kiểm tra, đánh giá hoạt
động của mình và khả năng tổng kết, sơ kết việc tổ chức thực hiện các chủ
trương, chính sách.
Như vậy, CBCCCX đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động quản
lý hành chính nhà nước ở địa phương. Đội ngũ CBCCCX là người giữ vai trò
quyết định trong việc hiện thực hoá sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà
nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở cơ sở. CBCCCX chính là cầu
nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; là nòng cốt để xây dựng chính quyền cơ
sở, là trung tâm, định hướng trong lãnh đạo, quản lý, điều hành hoạt động của
chính quyền địa phương, có tác động trực tiếp và ảnh hưởng quyết định đến sự
phát triển mọi mặt về kinh tế, văn hóa, xã hôi, giáo dục, anh ninh quốc phòng ở
địa phương. Đội ngũ CBCCCX là người nắm các khâu trọng yếu, trọng tâm và
Nguyễn Thị Ngọc
Lớp CH20. Luật Hành Chính
17
những vấn đề mới nảy sinh trong đời sống xã hội ở địa phương và còn là nguồn
bổ sung cho đội ngũ CBCC cấp tỉnh, huyện.
1.3. Nguyên tắc tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức cấp xã
Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý CBCCCX phải đảm bảo các nguyên tắc
18
Quy hoạch đào tạo, bố trí, sử dụng CBCCCX phải đảm bảo sự lãnh đạo tập
trung, thống nhất của Đảng ủy cơ quan và phải gắn với yêu cầu và nội dung xây
dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh. Mặt khác, coi trọng việc xử lý kỷ luật
nghiêm minh, kịp thời với những tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cố tình không
chấp hành chỉ thị, nghị quyết về công tác cán bộ, gây chia rẽ, bè phái làm suy yếu
khối đoàn kết thống nhất trong Đảng.
1.3.2. Nguyên tắc dân chủ, công khai, bình đẳng
Xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là “nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” (Khoản 1 Điều 2 Hiến pháp
2013), việc tham gia công vụ là quyền lợi của mọi công dân. Chính vì vậy, việc
quy hoạch CBCCCX phải được tiến hành công khai và dân chủ, từ khâu tuyển
chọn nguồn đưa vào quy hoạch đến quá trình ĐTBD, rèn luyện thực tiễn và bố
trí, sử dụng CBCCCX. Trong quá trình tuyển dụng cần tạo điều kiện để mọi
người dân có nhu cầu và có đủ điều kiện được tự do thi tuyển, ứng cử và được đề
cử. Để làm được điều đó phải đảm bảo nguyên tắc dân chủ, công bằng trong việc
tuyển dụng CBCCCX vào bộ máy nhà nước. Các điều kiện về tuyển dụng
CBCCCX, thi nâng ngạch, đưa công chức đi đào tạo, nâng cao trình độ, đánh giá
CBCC... phải được công bố rộng rãi và thực hiện một cách công khai. Việc tuyển
dụng, bổ nhiệm phải dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ, vị trí làm việc và chỉ tiêu biên
chế. Mọi CBCCCX hoàn toàn bình đẳng trong việc được đào tạo, đáp ứng yêu
cầu của công tác xây dựng và nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCCCX. Có
như vậy mới hình thành được đội ngũ CBCCCX đảm bảo về mặt chất lượng cũng
như chất lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra.
1.3.3. Nguyên tắc công bằng, khách quan
Nguyên tắc công bằng đòi hỏi trong quá trình bầu cử, bổ nhiệm, tuyển
dụng CBCCCX giữ các chức vụ, vị trí trọng trách trong cơ quan, tổ chức những