BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG TIẾN NAM
ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƢỜI CỦA BỊ CÁO TRONG
HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN VĂN ĐỘNG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Văn
Động. Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn
này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên
Hoàng Tiến Nam
2.1.2. Những nhược điểm, hạn chế và nguyên nhân ................................ 53
2.2. Những giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo quyền con người của bị
cáo trong hoạt động xét xử vụ án hình sự của TAND tỉnh Nam Định hiện
nay ................................................................................................................ 59
KẾT LUẬN CHUNG .................................................................................... 72
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CHXHCN : Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
TAND
: Tòa án nhân dân
1
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Xét xử vụ án hình sự là hoạt động chủ yếu của quá trình tố tụng hình
sự. Đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo nền an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
con người. Hoạt động xét xử hình sự sẽ tạo ra kết quả pháp lý quan trọng, ảnh
hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người, được các quốc gia và
cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm.
Ngày 12 tháng 11 năm 2013 vừa qua, Việt Nam trúng cử với số phiếu
cao nhất trong số 14 nước thành viên mới và lần đầu tiên trở thành thành viên
Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Đây sự kiện quan trọng của đất nước
động xét xử ở TAND tỉnh vẫn đang còn là nội dung khá mới mẻ trong nhận
thức của người dân, cán bộ Tòa án, cũng như trong việc tổ chức và thực hiện
trên thực tế. Đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện cả
về lý luận lẫn hoạt động thực tiễn để góp phần thiết thực vào việc đảm bảo
quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung và quyền con
người trong giai đoạn xét xử hình sự nói riêng. Đó là lý do tác giả chọn đề tài
"Đảm bảo quyền con người của bị cáo trong hoạt động xét xử vụ án hình sự
của TAND tỉnh Nam Định hiện nay" để thực hiện luận văn thạc sĩ Luật học,
chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người được Đại hội đồng Liên
hợp quốc thông qua năm 1948, đã đánh dấu bước phát triển mới về quyền con
người của lịch sử loài người. Đây là cơ sở tư tưởng chính trị cho việc hoàn
thiện về lý luận cũng như thực tiễn của việc đảm bảo quyền con người trong
lịch sử phát triển của thế giới hiện đại nói chung và các khu vực quốc gia nói
riêng.
3
Trên thế giới, từ cơ sở Luật quốc tế về quyền con người, các quốc gia
đều xây dựng cho mình các thiết chế để đảm bảo và phát huy quyền con
người trên thực tế. Năm 1950, Ngoại trưởng các quốc gia thành viên Cộng
đồng châu Âu đã ký Hiệp ước về quyền con người, vạch ra hệ thống bảo vệ
quyền con người cho tất cả các quốc gia thành viên của cộng đồng. Uỷ ban
nhân quyền châu Âu, Toà án nhân quyền châu Âu cũng được ra đời.
Ở châu Á – Thái Bình Dương, các tổ chức nhân quyền ở các quốc gia
lần lượt được thành lập ở các nước như: Newzialand, Auatralias,
Philippines… để góp phần đảm bảo quyền con người trong phạm vi quốc gia
mình.
– Lênin, Bộ ngoại giao, Tạp chí Cộng sản, Văn phòng Quốc hội… 27 báo cáo
tham luận trong hội nghị đã phân tích cụ thể của nhân quyền trong thực tiễn
xã hội Việt Nam và các kiến nghị liên quan đến lĩnh vực này. Tiếp đó, Nhà
nước ta đã cho triển khai chương trình KX-07 “Con người, mục tiêu và động
lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” do GS.TS. Phạm Minh Hạc làm chủ
nhiệm, với hơn 200 nhà khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau tham
gia, trong đó, có đề tài KX.07-16 nghiên cứu về “Các điều kiện đảm bảo
quyền con người, quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước” do
GS.TS. Hoàng Văn Hảo chủ nhiệm; Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người
biên tập hai tập chuyên khảo “Quyền con người, quyền công dân” của nhiều
tác giả, xuất bản năm 1995; Viện thông tin Khoa học xã hội và nhân văn
Quốc gia phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người đã tổ chức
nghiên cứu, sưu tầm cuốn “Quyền con người trong thế giới hiện đại” do PGS.
Phạm Khiêm Ích và GS.TS Hoàng Văn Hảo Chủ biên, Viện thông tin Khoa
học xã hội xuất bản năm 1995; công trình: Tìm hiểu vấn đề nhân quyền trong
thế giới hiện đại, do PGS.TS. Chu Hồng Thanh Chủ biên, Nxb. Lao động, Hà
Nội, 1996. Cuốn “Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành Khoa
5
học Xã hội” do GS.TS. Võ Khánh Vinh Chủ biên, Nxb. Khoa học xã hội,
2009. Bài viết “Các quyền hiến định của công dân và bảo đảm pháp lí ở nước
ta”, PGS.TS. Nguyễn Văn Động Tạp chí Luật học, 2004. Cuốn “Quyền con
người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam” PGS.TS Nguyễn Văn
Động, Nxb. Khoa học xã hội, 2005.
Về lĩnh vực tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm đảm
bảo quyền con người, bao gồm: Đề tài KX-05-07- về “Nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp nước ta với nhiệm vụ xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” năm 1995, do Nguyễn Văn
“Hiến pháp, pháp luật và quyền con người – Kinh nghiệm Việt Nam và Thụy
Điển” với Hiến 20 tham luận và ý kiến chọn lọc đề cập về hoạt động lập hiến,
lập pháp cũng như hoạt động thực tiễn đảm bảo quyền con người trong các
quốc gia….
Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác đã được
đăng tải trong các luận án, luận văn tốt nghiệp, tập san, tạp chí chuyên ngành
như Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí
Toà án nhân dân , Tạp chí Lập pháp….
Mặc dù trên thế giới cũng như trong nước đa có nhiều công trình khoa
học nghiên cứu về lĩnh vực quyền con người, nhưng nhìn chung, những công
trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu đề cập đến những vấn đề lý luận về quyền
con người, từng lĩnh vực hoạt động cụ thể về quyền con người, về tổ chức và
hoạt động của các bộ máy nhà nước, về việc xây dựng pháp luật về đảm bảo
quyền con người nói chung. Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách trực tiếp và toàn diện cả về lý luận và thực tiễn đảm bảo quyền
con người trong xét xử hình sự của TAND tỉnh cấp tỉnh ở Việt Nam. Tuy vậy,
các công trình nêu trên vẫn là những tài liệu tham khảo quan trọng đối với tác
giả trong quá trình thực hiện Luận văn.
7
3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm rõ thêm cơ sở lý
luận và thực tiễn đảm bảo quyền con người của bị cáo trong hoạt động xét xử
vụ án hình sự của TAND tỉnh Nam Định, trên cơ sở đó đề xuất những giải
pháp thiết thực nhằm đảm bảo quyền con người và nâng cao hiệu quả trong
xét xử vụ án hình sự tại địa phương đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật, không xử oan sai người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.
Để thực hiện mục đích trên, Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu cơ sở lý
bảo quyền con người của bị cáo trong hoạt động xét xử vụ án hình sự của
TAND; Chương 2 đánh giá thực trạng đảm bảo quyền con người của bị cáo
trong hoạt động xét xử vụ án hình sự và đề xuất những giải pháp nâng cao
hiệu quả đảm bảo quyền con người của bị cáo khi xét xử vụ án hình sự của
TAND tỉnh Nam Định
9
CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BÀO QUYỀN CON NGƢỜI CỦA BỊ CÁO
TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TAND
1.1. Quyền con ngƣời và quyền con ngƣời của bị cáo trong hoạt động xét
xử vụ án hình sự của TAND
1.1.1. Quyền con người
Quyền con người là một trong những vấn đề thiêng liêng, cơ bản và
cũng luôn luôn là khát vọng của toàn thể nhân loại. Quyền con người được
sinh ra và đồng thời cũng phải bảo đảm thực hiện như một lẽ tự nhiên. Cho
nên, nó không chỉ là vấn đề trọng yếu trong luật pháp quốc tế mà còn là chế
định pháp lý cơ bản trong pháp luật của mỗi quốc gia.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng, "Quyền con
người là các quyền tất yếu mà con người phải được hưởng và các quốc gia
phải tôn trọng" [15, tr. 338]. Vì vậy, theo quan niệm chung hiện nay, "quyền con
người là những giá trị, năng lực, nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người với tư
cách là thành viên của cộng đồng nhân loại được thể chế hóa bằng pháp luật
quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [12].
Khi bàn đến quyền con người Jaeque Mourgeon trong cuốn "Các quyền
con người" đã cho rằng: “Quyền con người trước hết được hiểu là những đặc
quyền tự nhiên mà con người có. Đó là khả năng hành động có ý thức, trách
nhiệm nhất là tự bảo vệ. Nhưng bản thân đặc quyền (quyền tự nhiên) chưa phải
chương Liên hiệp quốc 1945 và Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm
1948. Cụ thể hoá quyền con người trong các văn bản trên, năm 1966, Liên
hiệp quốc thông qua Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá và
Công ước về các quyền dân sự và chính trị (ngày 24/9/1982 Việt Nam gia
nhập hai Công ước này). Ở Việt Nam, Tuyên ngôn độc lập năm 1945 đánh
11
dấu bước ngoặt quan trọng cho thời kỳ phát triển mới về quyền con người trên
đất nước ta.
Quyền con người là một trong những giá trị xã hội cao quý nhất, đồng
thời là vấn đề rộng lớn, phức tạp, được nhiều chuyên ngành khoa học nghiên
cứu, do đó có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về quyền con người.
Song, trước hết, quyền con người được hiểu là những đặc quyền tự nhiên mà
con người sinh ra có. Đó là những đặc quyền mang tính tự nhiên mà nổi bật là
quyền được sống, được bảo vệ, được tự do phát triển. Mặc dù những đặc
quyền đó có trước, song chừng nào chưa được công nhận thì chúng không thể
được đưa ra áp dụng. Do đó, để đạt tới cái gọi là quyền cần phải có sự ghi
nhận mà cụ thể là bằng pháp luật.
Cho đến nay, đặc tính quan trọng nhất của quyền con người được tất cả
các văn kiện của Liên hợp quốc công nhận là quyền con người được thực hiện
trên cơ sở tôn trọng nhân phẩm và giá trị của mỗi con người. Nhà nước có
trách nhiệm hàng đầu trong việc thúc đẩy và thực hiện quyền con người và
được thực hiện trên cơ sở bình đẳng, không phân biệt đối xử với tất cả mọi
con người. Như vậy quan điểm về quyền con người của Jaeque Mourgeon
được coi là toàn diện, có giá trị nhất.
Theo các công ước quốc tế và văn kiện của Liên hợp quốc, quyền con
người được chia thành hai nhóm cơ bản sau đây:
- Nhóm các quyền dân sự, chính trị. Trong đó có các quyền con người
người năm 1948; Điều 13, 14 Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn
hóa năm 1966), Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng
các thành tựu của khoa học (Điều 27 Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con
người năm 1948; Điều 15 Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa
năm 1966) và các quyền của một số nhóm người dễ bị tổn thương như phụ nữ,
trẻ em, người khuyết tật...
13
Thế giới hiện đại với sự thay đổi thường xuyên và nhanh chóng trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội, cho nên quyền con
người được phát triển không ngừng, phong phú hơn cả về nội dung lẫn hình
thức. Cho nên, trong quá trình phát triển của nhân loại một số quyền con
người mới được xuất hiện như: Quyền được sống trong hòa bình và môi
trường trong sạch. Ngày nay nhân loại đang đứng trước nhiều hiểm họa mang
tính toàn cầu như hiểm họa chiến tranh hạt nhân, nạn khủng bố mang tính
quốc tế, khủng hoảng nghiêm trọng về lương thực, thực phẩm, những cuộc
xung đột tôn giáo, chủng tộc, căn bệnh AIDS đến nay chưa có phương cứu
chữa thực sự hiệu quả... Thực trạng đó đã và đang đe dọa đến sự tồn tại và
phát triển của loài người. Do đó, yêu cầu về quyền được sống trong một thế
giới hòa bình, bền vững đang là vấn đề cấp bách thật sự của các quốc gia, khu
vực và cộng đồng trên thế giới.
1.1.2. Quyền con người của bị cáo trong hoạt động xét xử vụ án hình
sự của TAND
Quyền con người của bị cáo trong hoạt động xét xử của vụ án hình sự
của TAND không chỉ có trong hoạt động xét xử tại phiên tòa mà còn trong
hoạt động giam giữ bị cáo để chờ xét xử (với phiên tòa kéo dài nhiều ngày).
Quyền con người của bị cáo trong hoạt động xét xử của vụ án hình sự có thể
được chia ra thành hai nhóm sau đây:
này: “Không được phép tuyên án tử hình với người phạm tội dưới 18 tuổi và
không được thi hành án tử hình đối với phụ nữ đang mang thai”. Như vậy
việc tước bỏ quyền sống của bị cáo chỉ được áp dụng đối với tội ác nghiêm
trọng nhất và phải do Tòa án có thẩm quyền quyết định và tuân thủ theo quy
định của pháp luật. Đảm bảo được quyền sống cho bị cáo thì việc đảm bảo
những quyền con người khác của bị cáo mới còn ý nghĩa và hoạt động xét xử
có thể thực hiện được.
- Quyền được thừa nhận là con người (thể nhân) trước pháp luật.
15
Theo Điều 6, Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người năm
1948: “Mọi người đều có quyền được công nhận tư cách là con người trước
pháp luật ở mọi nơi.” và Điều 16 Công ước về các Quyền dân sự và Chính
trị năm 1966 đều khẳng định: “Mọi người đều có quyền được thừa nhận là
thể nhân trước pháp luật ở mọi nơi”, trước khi được đảm bảo những quyền
con người khác của bị cáo, bị cáo phải được pháp luật thừa nhận là một con
người (thể nhân). Bị cáo trong phiên tòa phải là con người, Tòa án hình sự
không xét xử những chủ thể không phải là con người. Nếu bị cáo không
được pháp luật thừa nhận là một con người thì sẽ mất đi sự thừa nhận các
quyền khác của mình. Quyền này được luật pháp quốc tế và pháp luật mỗi
quốc gia mặc nhiên thừa nhận.
- Quyền có những điều kiện sống tối thiểu.
Điều 25, Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người năm 1948:
“Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm
bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc,
ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết..”. Đây là những điều kiện
sống cơ bản của mỗi con người. Quyền có những điều kiện sống tối thiểu có
yếu tố quyết định tới quyền sống của bị cáo. Trong giai đoạn xét xử vụ án
ngày (trong phiên tòa). Mặt khác, trong cơ sở giam giữ (trại giam, phòng
giam) cần để bị cáo đi lại trong giới hạn cho phép. Quyền này còn được phải
được thực hiện triệt để theo nguyên tắc suy đoán vô tội, nghiêm cấm các hành
vi trói chân, xích chân bị cáo.
- Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, tính mạng danh dự
nhân phẩm.
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, tính mạng danh dự
nhân phẩm được quy định trong Điều 7, Công ước về các Quyền dân sự và
Chính trị năm 1966: “ Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một
17
cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm…”, Khoản 1, Điều 10
Công ước về các Quyền dân sự và Chính trị năm 1966: “Những người bị tước
tự do phải được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng nhân phẩm vốn có của con
người”. Khoản 1, Điều 20 Hiến pháp Việt Nam năm 2013: “Mọi người có
quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ,
danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất
kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh
dự, nhân phẩm”. Với quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, tính
mạng danh dự nhân phẩm, bị cáo phải được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng
nhân phẩm tương tự như nhân phẩm của những người tự do. Khi chưa bị Tòa
án kết tội họ vẫn là người vô tội. Ở giai đoạn xét xử vụ án hình sự, bị cáo tuy
bị tước tự do vẫn có những quyền dân sự, chính trị được quy định trong Công
ước về các Quyền dân sự và Chính trị năm 1966, họ chỉ bị hạn chế một số
quyền bắt nguồn từ môi trường bị quản chế. Khoản 2 điều này quy định: “trừ
những hoàn cảnh đặc biệt, bị can, bị cáo phải được giam giữ tách biệt với
những người đã bị kết án và phải được đối xử theo chế độ riêng, phù hợp với
quy chế dành cho những người bị tạm giam. Những bị can chưa thành niên
nhận là một nguyên tắc quan trọng. Nguyên tắc suy đoán vô tội được hình
thành tương đối sớm trong nhiều nền tư pháp trên thế giới. Tuyên ngôn nhân
quyền và dân quyền của Pháp (1789) đã khẳng định mọi người đều được coi
là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội (Điều 9). Trong Hiến pháp Hoa Kỳ,
dù không trực tiếp đề cập đến nhưng có thể được suy ra từ các Tuyên ngôn
nhân quyền Hoa Kỳ. Điều 11 Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người
năm 1948 quy định: “Mỗi người bị buộc tội có quyền được coi là vô tội cho
đến khi được chứng minh là phạm tội theo luật pháp tại một phiên toà xét xử
công khai với mọi bảo đảm biện hộ cần thiết”.
Khoản 2 Điều 14 Công ước về các Quyền dân sự và Chính trị năm
1966 đã ghi nhận quyền được suy đoán vô tội của bị can, bị cáo “Người bị
19
buộc là phạm một tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của
người đó được chứng minh theo pháp luật“. Bên cạnh đó, khoản 7 của Bình
luận chung số 13 nhấn mạnh mối quan hệ của quyền này với nghĩa vụ chứng
minh của bên công tố, bên công tố có nghĩa vụ chứng minh trong suốt quá
trình xét xử. “Quy định về suy đoán vô tội có quan hệ chặt chẽ với quy định về
Toà án không thiên vị. Các cơ quan tiến hành tố tụng, các Thẩm phán, Công
tố viên có nghĩa vụ không được có định kiến trước về kết quả của việc xét xử”
[17].
Khoản 1, Điều 31 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Người bị
buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự
luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Cụ thể,
việc tiến hành phiên toà phải được dựa trên việc giả định/suy đoán là vô tội,
nguyên tắc có lợi cho bị cáo, nếu không có đầy đủ chứng cứ chứng minh một
01/01/1997 quy định: Không ai bị coi là có tội, nếu không bị xét xử bởi một
TAND theo quy định của pháp luật; Điều 43 Bộ luật này cũng quy định:
Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên theo trình tự, thủ tục quy định trong
luật, phải thu thập các loại chứng cứ khác nhau chứng minh sự có tội hay vô
tội của nghi can, bị cáo và mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Nghiêm cấm
việc bức cung, dùng nhục hình và thu thập chứng cứ bằng các biện pháp như
đe dọa, dụ dỗ, lừa gạt và các biện pháp bất hợp pháp khác. Trong pháp luật
Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, mặc dù tên gọi của
nguyên tắc suy đoán vô tội chưa được ghi nhận trong luật nhưng nội dung
quan trọng nhất của nguyên tắc này đã được thừa nhận.
Quyền được coi là vô tội hay nguyên tắc suy đoán vô tội được Việt
Nam cam kết thực hiện với sự kiện Việt Nam gia nhập Công ước về các
quyền dân sự và chính trị ngày 24/9/1982. Lần đầu tiên, tại Việt Nam, suy
đoán vô tội được khẳng định là nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự
(Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988) và là quyền cơ bản của công dân
(Khoản 1, Điều 32 Hiến pháp năm 2013). Như vậy, trong hệ thống pháp luật
21
Việt Nam, nguyên tắc suy đoán vô tội có vị trí của một nguyên tắc hiến định.
Ngoài ra tại Khoản 2, Điều 32 Hiến pháp 2013 cũng đã công nhận nguyên tắc
không ai kết án hai lần vì một tội phạm.
Nguyên tắc suy đoán vô tội là bước tiến trong nhận thức của con người
đối với việc tôn trọng, bảo vệ quyền và phẩm giá của chính con người. Điều 9
Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 quy định: “Không ai bị coi là có
tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực
pháp luật”. Như vậy, phạm vi chủ thể có quyền được suy đoán vô tội bị giới
hạn bởi thời điểm có hiệu lực pháp luật của bản án kết tội của Toà án nhưng
không bị giới hạn bởi sự buộc tội.